CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÒNG CHỐNG BUÔN LẬU VÀ GIAN LẬN THƯƠNG MẠI. Các hình thức buôn lậu và gian lận thương mại Những năm gần đây thị trường hoạt động thương mại nước ta đă có bước phát triển tích cực, hàng hoá ngày càng đa dạng phong phú, chất lượng ngày càng được nâng cao, nhiều mặt hàng có thể cạnh tranh được với hàng ngoại, các doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả và dần dần khẳng định được vị trí của mình trên thị trường. Tuy nhiên tình hình buôn lậu và gian lận thương mại ngày càng phức tạp. Trong văn kiện Đai hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX cũng đă chỉ rõ: “Nạn buôn lậu, làm hàng giả, gian lận thương mại tác động xấu đến tình hình kinh tế xă hội nước ta hiện nay”.
Tình trạng buôn lậu và gian lận thương mại diễn ra với mọi thủ đoạn, hình thức và ngày càng tinh vi hơn. Tất cả những điều này làm ảnh hưởng đến uy tín và lợi ích hợp pháp của các cơ sở làm ăn chân chính, trung thực: làm thất thoát ngân sách Nhà nước hàng ngàn tỷ đồng, làm ảnh hưởng đến chính sách thu hút đầu tư, đến lợi ích của người tiêu dùng, kéo theo các tệ nạn kinh tế xă hội, ảnh hưởng đến sự phát triển của nền kinh tế. Trước tác hại của buôn lậu và gian lận thương mại, Đảng và Nhà nước có nhiều biện pháp và chủ trương chỉ đạo tích cực trong việc đấu tranh, ngăn chặn, và từng bước bài trừ tệ nạn buôn lậu và gian lận thương mại. Đây là công tác khó khăn, phức tạp, không thể sớm giải quyết được, càng không thể có được một biện pháp đơn độc nào, một ngành , một cơ quan nào có thể giải quyết được, mà phải phối hợp nhiều biện pháp, ngành nghề, cơ quan cùng giải quyết.
Từ đó ổn định thị trường, bảo đảm cho nền kinh tế nước ta phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững. Khái niệm về buôn lậu, gian lận thương mại * Buôn lậu: Hành vi buôn lậu đã xuất hiện rất sớm trên thế giới, ở mỗi quốc gia thuật ngữ này lại có một cách hiểu khác nhau. Trong từ điển tiếng Anh, khái niệm buôn lậu (Smuggling) được định nghĩa: Buôn lậu là hành vi mang hàng hóa một cách bí mật và không hợp pháp vào hoặc ra khỏi một nước mà không chịu chi trả thuế quan. Bọn buôn lậu (Smuggler) 5 mang hàng hóa có thể là các loại hàng hóa bị các quốc gia cấm (ma túy, chất nổ, vũ khí và các thứ nguy hiểm khác - nếu bị phát hiện sẽ truy tố tội danh vận chuyển đồ quốc cấm và bị xử phạt hình sự rất nặng tới cả mức chung thân, tử hình), hoặc hàng đắt tiền hơn ở nước thứ hai, hàng có chênh lệch giá lớn qua biên giới mà không chịu thuế hải quan.
Ở Việt Nam, theo từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam thì khái niệm buôn lậu được định nghĩa như sau: “Buôn lậu là hành vi buôn bán trái phép qua biên giới những loại hàng hoá hoặc ngoại tệ, kim khí và đá quý, những vật phẩm có giá trị lịch sử, văn hoá, mà nhà nước cấm xuất khẩu hay nhập khẩu hoặc buôn bán hàng hoá nói chung qua biên giới mà trốn thuế và trốn sự kiểm tra của hải quan. Buôn lậu còn là hành vi buôn bán trốn thuế, lậu thuế những hàng hoá ở trong nước mà nhà nước cấm kinh doanh”. Đây là một quan niệm kế thừa những hiểu biết truyền thống từ xưa đến nay và phù hợp với quan niệm phổ thông hiện nay. Do vậy theo nghĩa này nó được sử dụng một cách rộng rãi.
Trong thể chế phong kiến Việt Nam. Triều Lê (1428-1788) có “Quốc triều hình luật” được coi là bộ luật hoàn chỉnh nhất cũng không qui định về tội danh buôn lậu. Nhưng trong đó đã có các qui định như: “Những trang trại ven bờ biển mà đón thuyền buôn, ngầm dỡ hộ hàng hoá lên bờ thì bị xử biến (cách thức) phạt gấp 3 lần tang vật để sung công.”; “Những người bán ruộng, đất ở bờ cõi, binh khí, các loại chất nổ có thể chế hoá tiến cho người nước ngoài đều phải tội chém”; “Bán mắm muối cho nước ngoài thì bị xử đi châu xa”. Các mặt hàng cấm xuất khẩu quy định thời đó gồm: ruộng đất, thuốc nổ, vũ khi, sắt, đồng, vàng, da trâu, gỗ lim, vỏ quế, trân châu, ngà voi.
Những hành vi cụ thể tách biệt nói trên trong tiềm thức xã hội đều được gộp chung lại là hiện tượng buôn lậu. Trước năm 1985 thuật ngữ “Tội buôn lậu” đã được đề cập trong một số văn bản pháp luật nước ta như Pháp lệnh về nhiệm vụ, quyền hạn của lực lượng Cảnh Sát Nhân Dân (20/7/1962); Pháp lệnh trừng trị các tội đầu cơ, buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái phép (10/6/1982). Tuy nhiên, trong các văn bản này thì tội danh buôn lậu chưa được hướng dẫn và nhận diện đầy đủ với các yếu tố cấu thành và dấu hiệu pháp lý đặc trưng, mà phần lớn xã hội và các cơ quan hoạt động tư pháp vẫn 6 chịu ảnh hưởng của quan niệm truyền thống cho rằng buôn lậu bao gồm các hành vi kinh doanh trái phép, trốn thuế, đầu cơ tích trữ, buôn bán hàng cấm. Từ năm 1985 Bộ luật hình sự của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra đời đã chính thức ghi nhận tội danh buôn lậu: “Người nào buôn bán trái phép hoặc vận chuyển trái phép qua biên giới hàng hoá, tiền Việt Nam, ngoại tệ, kim khí quí, đá quí hoặc vật phẩm thuộc di tích lịch sử văn hoá thì bị phạt.” Tuy nhiên, khái niệm này còn bộc lộ nhiều hạn chế như: ghép chung 2 hành vi có tính chất độc lập tương đối với nhau, chủ thể tham gia khác nhau và những dấu hiệu pháp lý khác nhau trong điều luật là buôn bán trái phép và vận chuyển trái phép.
Việc xác định tang vật là hàng hoá, tiền Việt Nam, ngoại tệ, thì vô hình chung đã xếp cái tổng thể với bộ phận hàng hoá buôn bán, vận chuyển trái phép rất nhiều khó có thể liệt kê hết được và cùng với thời gian thì tính chất pháp lý sẽ có những thay đổi, quy định khác nhau, có thể xuất hiện thêm hàng hoá khác hoặc mất đi tuỳ thuộc yêu cầu quản lý vĩ mô của Nhà nước. Do đó mà làm cho khái niệm sẽ trở nên vừa thừa vừa thiếu. Hiện nay, theo Điều 153 và 154 - Bộ luật hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam sửa đổi, bổ sung năm 2009 quy định cụ thể các mức án về tội buôn lậu và tội vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới. Theo Bộ luật hình sự nước ta, hành vi buôn lậu hàng hóa, tiền Việt Nam, ngoại tệ, kim khí quý, đá quý chỉ cấu thành tội phạm khi giá trị của chúng từ một trăm triệu đồng trở lên hoặc dưới một trăm triệu đồng nhưng trước đó người vi phạm đã bị xử lý hành chính về hành vi quy định về tội buôn lậu hoặc một trong các tội quy định tại điều 154, 155, 156, 157, 158, 159, 160, 162 của Bộ luật Hình sự hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.
Nếu đối tượng buôn lậu là những vật phẩm thuộc di tích lịch sử, văn hóa thì hành vi cấu thành tội phạm không phụ thuộc vào giá trị của vật phẩm. Đối tượng buôn lậu là các loại hàng cấm thì phải có số lượng lớn hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi quy định tại điều này hoặc tại một trong những điều đã nêu trên, hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm. Trong trường hợp đặc biệt, khi hàng hóa là các chất ma túy, vũ khí quân dụng và phương tiện kỹ thuật, vũ khí thô sơ và công cụ hỗ trợ, chất phóng xạ, chất 7 cháy, chất độc thì sẽ bị xử lý theo những quy định tại các điều 193, 194, 196, 230, 232, 233, 236 và 238 của Bộ luật Hình sự. Tội phạm được hoàn thành kể từ khi thực hiện hành vi vận chuyển các loại hàng hóa qua biên giới nêu trên.
Trường hợp khi hàng hóa đã vào nội địa mà bị phát hiện thì vẫn cấu thành tội buôn lậu. Hành vi buôn lậu rất dễ nhận thấy, đó là những hành động mà chủ hàng thực hiện lén lút, không khai báo. Các trường hợp phổ biến là chủ hàng không đăng ký chính thức việc buôn bán với Nhà nước, do đó đội quân buôn lậu còn bao gồm cả cửu vạn vùng biên giới, trong một số các thủy thủ tàu viễn dương, trong các viên chức đi nước ngoài… Buôn lậu trong thời đại hiện nay không còn đơn thuần chỉ là buôn lậu. Đối tượng buôn lậu sẵn sàng chống trả lực lượng chức năng và buôn lậu có thể gắn liền với xã hội đen, với tội phạm hình sự, và một sự kết nối có thể gây ra hậu quả nghiêm trọng, đó là buôn lậu gắn liền với tham nhũng.
* Gian lận thương mại: Nói đến gian lận thương mại, trong dân gian từ lâu đã xuất hiện thành ngữ “buôn gian, bán lận” để chỉ các hành vi lừa dối, mánh khóe trong lĩnh vực thương mại, để mọi người cảnh giác với thủ đoạn, mánh khóe lừa dối khách hàng của các gian thương. Thông qua các hoạt động sản xuất, kinh doanh, mua, bán, xuất nhập khẩu, cung cấp dịch vụ, hành vi gian dối, lừa lọc hướng đến mục đích thu lợi bất chính. Chủ thể của hành vi gian lận thương mại là các chủ hàng, có thể là người mua, người bán cũng có khi là cả người mua và người bán. Đây là hiện tượng có tính lịch sử, xuất hiện từ lâu và trong một thị trường cạnh tranh thì gian lận thương mại, theo quy luật của nó, phát triển đến các mức độ tinh vi hơn là điều không thể tránh khỏi.
Hiện nay chúng ta đang phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước. Chấp nhận cơ chế thị trường tất yếu phải chấp nhận cạnh tranh. Cạnh tranh là động lực để phát triển. Nguyên nhân và động cơ cuối cùng của cạnh tranh là lợi nhuận.
Trong cạnh tranh chắc chắn sẽ xuất hiện hình thức và thủ đoạn gian lận thương mại phức tạp và tinh vi thể hiện ở các hành vi trốn thuế, lẩn tránh sự kiểm soát của Nhà nước, buôn lậu, 8 lừa đảo, hối lộ, lấy cắp bí mật sản xuất, cạnh tranh tiêu cực phi kinh tế. như vậy, có thể thấy mục đích hành vi gian lận trong lĩnh vực thương mại nhằm thu được lợi nhuận không chính đáng.