CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm hiệu quả, hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp 1. Khái niệm hiệu quả, phân loại hiệu quả: 1.Khái niệm: Có nhiều quan điểm diễn đạt khái niệm “hiệu quả” do phụ thuộc vào góc độ hay lĩnh vực nghiên cứu khác nhau nhưng nhìn chung khái niệm “hiệu quả” được tổng quát như sau “ Hiệu quả là phạm trù phản ánh khả năng sử dụng các nguồn lực trong một chu kỳ thời gian để đạt được mục tiêu xác định. Nó được đánh giá trong mối quan hệ với kết quả tạo ra để xem xét xem với mỗi sự hao phí nguồn lực nhất định thì có thể tạo ra kết quả ở mức độ nào”.
Như vậy, hiệu quả phản ánh mặt chất lượng các hoạt động đã diễn ra trong chu kỳ đánh giá. Hiệu quả chính là lợi ích tối đa thu được trên chi phí tối thiểu. * Công thức biểu diễn hiệu quả mang tính tương đối là: H= K/C * Công thức biểu diễn hiệu quả mang tính tuyệt đối là: H= K-C Trong đó: H: Hiệu quả của hiện tượng (quá trình) nào đó K: Kết quả đạt được của hiện tượng (quá trình) đó C: Hao phí nguồn lực cần thiết gắn với kết quả đó 1.Phân loại: Hiệu quả được phân loại theo sự đa dạng của các hoạt động. Mỗi lĩnh vực, ngành nghề, tổ chức.
sẽ có các tiêu chí phân loại, đánh giá hiệu quả khác nhau theo mục tiêu hoạt động và ngay trong cùng một lĩnh vực, tổ chức. thì việc phân loại hiệu quả cũng thay đổi theo từng giai đoạn hoặc theo mục đích đánh giá khác nhau.Hiệu quả của từng lĩnh vực, từng tổ chức. có quan hệ biện chứng với hiệu quả của các lĩnh vực, các tổ chức khác và từ đó tạo nên tổng thể hiệu quả của xã hội. Theo Giáo trình Quản trị kinh doanh (Tập I) , Trường Đại học Kinh tế quốc dân (2017), NXB Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội, trong hoạt động kinh tế xã hội có một số loại hiệu quả cơ bản là: 16 - Hiệu quả kinh tế: Phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực để đạt các mục tiêu kinh tế (tốc độ tăng trưởng kinh tế, tổng sản phẩm quốc nội…).
-Hiệu quả xã hội: Phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực sản xuất nhằm đạt được các mục tiêu xã hội nhất định (như việc làm, phúc lợi xã hội, môi trường…) - Hiệu quả kinh tế - xã hội: Phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực sản xuất xã hội để đạt được các mục tiêu kinh tế - xã hội nhất định (tăng trưởng kinh tế, tổng sản phẩm quốc nội, giải quyết việc làm, phúc lợi xã hội, môi trường …) - Hiệu quả kinh doanh: Phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực để đạt được các mục tiêu kinh doanh xác định theo từng thời kỳ. - Hiệu quả đầu tư: Phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực để đạt được các mục tiêu đầu tư xác định theo từng giai đoạn. - Hiệu quả tài chính: Phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực để đạt được các mục tiêu kinh doanh tài chính xác định. Khái niệm hiệu quả kinh doanh, phân loại hiệu quả kinh doanh: 1.
Khái niệm: Hiệu quả kinh doanh là một loại hiệu quả có tầm quan trọng đặc biệt trong tổng thể các yếu tố hiệu quả hoạt động của xã hội. “Hiệu quả kinh doanh là một vấn đề được các nhà kinh tế, các nhà quản lý rất quan tâm. Mọi hoạt động kinh doanh của bất kỳ doanh nghiệp nào cũng đều hướng tới mục tiêu hiệu quả. Các doanh nghiệp đều có mục đích chung là làm thế nào để một đồng vốn bỏ vào kinh doanh mang lại hiệu quả cao nhất, khả năng sinh lời nhiều nhất.
Vậy hiệu quả kinh doanh là gì? ”.[6] Có một số tác giả cho rằng: “ Hiệu quả kinh doanh là kết quả thu được trong hoạt động kinh doanh, là doanh thu tiêu thụ hàng hóa. Quan điểm này đến nay không còn phù hợp nữa. Trước hết, quan điểm này đã đồng nhất hiệu quả kinh doanh với kết quả kinh doanh. Theo quan điểm này, chi phí kinh doanh không được đề cập đến do vậy nếu kết quả thu được trong hai kỳ kinh doanh như nhau thì hoạt động kinh doanh ở hai kỳ kinh doanh ấy đều đạt được một mức hiệu quả.
Mặt khác, thực tế cho thấy, doanh thu của doanh nghiệp có thể tăng lên nếu chi phí cho đầu tư các nguồn lực đưa vào kinh doanh tăng lên và do đó nếu tốc độ tăng của doanh thu nhỏ hơn tốc 17 độ tăng của chi phí thì trong một số trường hợp, lợi nhuận của doanh nghiệp sẽ bị âm, doanh nghiệp bị thua lỗ’’.[6] Có tác giả lại cho rằng: “ Hiệu quả kinh doanh chính là phần chênh lệch tuyệt đối giữa kết quả thu được và chi phí bỏ ra để có được kết quả đó. Quan điểm này đã gắn kết được kết quả thu được với chi phí bỏ ra, coi hiệu quả kinh doanh là sự phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (các chi phí). Tuy nhiên, kết quả và chi phí là những đại lượng luôn vận động vì vậy quan điểm này còn bộc lộ nhiều hạn chế do chưa biểu hiện được mối tương quan về lượng và chất giữa kết quả và chi phí’’.[6] Có tác giả lại định nghĩa: “ Hiệu quả kinh doanh là đại lượng được đo bằng thương số giữa phần tăng thêm của kết quả thu được với phần tăng thêm của chi phí. Theo quan điểm này, hiệu quả kinh doanh được xem xét thông qua các chi tiêu tương đối.
Khắc phục được hạn chế của các quan điểm trước đó, quan điểm này đã phán ánh mối tương quan giữa kết quả thu được với chi phí bỏ ra, phản ánh sự vận động của kết quả kinh doanh và chi phí kinh doanh, đặc biệt phản ánh được sự tiến bộ của hoạt động kinh doanh trong kỳ thực hiện so với các kỳ trước đó. Tuy vậy, nhược điểm lớn nhất của định nghĩa này là doanh nghiệp không đánh giá được hiệu quả kinh doanh trong kỳ thực hiện do không xét đến mức độ tuyệt đối của kết quả kinh doanh và chi phí kinh doanh. Theo đó, phần tăng của doanh thu có thể lớn hơn rất nhiều so với phần tăng của chi phí nhưng chưa thể kết luận rằng doanh nghiệp thu được lợi nhuận’’.[6] Có tác giả lại khẳng định “Hiệu quả kinh doanh phải phản ánh được trình độ sử dụng các nguồn lực được sử dụng trong lĩnh vực kinh doanh. Quan điểm này đã chú ý đến sự vận động của kết quả kinh doanh và chi phí kinh doanh, mối quan hệ giữa kết quả thu được với chi phí bỏ ra để thu được kết quả đó.
Mặc dù vậy, tác giả đưa ra quan điểm này chưa chỉ ra hiệu quả kinh doanh được đánh giá thông qua chỉ tiêu tuyệt đối hay tương đối’’.[6] Như vậy, có thể thấy mỗi quan điểm về hiệu quả kinh doanh đều chứa đựng những ưu nhược điểm và chưa hoàn chỉnh. 18 Với các cách diễn giải về hiệu quả sản xuất kinh doanh như trên, có thể thấy rằng hiệu quả kinh doanh là sự so sánh giữa các kết quả đầu ra với các yếu tố đầu vào của một tổ chức kinh tế được xét trong một kỳ nhất định, tùy theo yêu cầu của các nhà quản trị kinh doanh. So sánh giữa kết quả đầu ra với các yếu tố đầu vào được tính theo công thức: Về mặt so sánh tuyệt đối: Hiệu quả Kết quả đạt Chi phí bỏ ra để sử dụng các = - kinh doanh được nguồn lực đầu vào Về so sánh tương đối: Kết quả đầu ra Hiệu quả kinh doanh = Chi phí đầu vào Công thức trên phản ánh cứ 1 đồng chi phí đầu vào (vốn, nhân công, nguyên vật liệu…) thì tạo ra bao nhiêu đồng kết quả đầu ra như doanh thu, lợi nhuận… Trong một kỳ kinh doanh, chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp càng tốt. Kết quả đầu ra, yếu tố đầu vào có thể đo bằng thước đo hiện vật, thước đo giá trị tùy theo mục đích của việc phân tích.
Kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có thể là những đại lượng có khả năng cân, đo, đong, đếm được như số sản phẩm tiêu thụ mỗi loại, doanh thu bán hàng, lợi nhuận, thị phần. Như vậy kết quả sản xuất kinh doanh thường là mục tiêu của doanh nghiệp. Dựa vào Bảng cân đối kế toán, các chỉ tiêu yếu tố đầu vào bao gồm: Tổng tài sản bình quân, tổng nguồn vốn chủ sở hữu bình quân, tổng tài sản dài hạn bình quân, tổng tài sản ngắn hạn bình quân, chi phí, giá vốn hàng bán, chi phí hoạt động v. trên báo cáo kết quả kinh doanh.
Dựa vào Báo cáo kết quả kinh doanh, các chỉ tiêu kết quả đầu ra bao gồm: Tổng doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ, lợi nhuận gộp về bán hàng và cung cấp dịch vụ, tổng lợi nhuận kế toán trước thuế, lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp. 19 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh doanh thường thể hiện một kỳ phân tích, do vậy số liệu dùng để phân tích các chỉ tiêu này cũng là kết quả của một kỳ phân tích. Nhưng tùy theo mục tiêu của việc phân tích và nguồn số liệu sẵn có, khi phân tích có thể tổng hợp các số liệu từ thông tin kế toán tài chính và kế toán quản trị khi đó các chỉ tiêu phân tích mới đảm bảo chính xác và ý nghĩa. Phân loại hiệu quả kinh doanh: Có nhiều cách phân loại hiệu quả kinh doanh, mỗi cách phân loại dựa trên những tiêu thức khác nhau và nhằm mục đích khác nhau.
Tuy nhiên thông thường chúng ta sử dụng các cách phân loại chính sau đây: +) Căn cứ vào phạm vi xác định hiệu quả thì có hiệu quả kinh doanh tổng hợp và hiệu quả kinh doanh bộ phận: -Hiệu quả kinh doanh tổng hợp phản ánh trình độ lợi dụng mọi nguồn lực để đạt mục tiêu của toàn doanh nghiệp hoặc từng bộ phận của nó. -Hiệu quả kinh doanh bộ phận phản ánh trình độ lợi dụng một nguồn lực cụ thể theo mục tiêu đã xác định. +) Căn cứ vào lợi ích nhận được theo thời gian thì có hiệu quả kinh doanh ngắn hạn và dài hạn: -Hiệu quả kinh doanh ngắn hạn: hiệu quả kinh doanh được xem xét, đánh giá ở từng khoảng thời gian ngắn như tuần, tháng, quý, năm,… -Hiệu quả kinh doanh dài hạn: hiệu quả kinh doanh được xem xét, đánh giá trong khoảng thời gian dài. Doanh nghiệp cần phải tiến hành các hoạt động kinh doanh sao cho nó mang lại cả lợi ích trước mắt cũng như lâu dài cho doanh nghiệp.