CHƯƠNG 1 NHỮNG VAN DE CHUNG VE KINH DOANH DỊCH VU LOGISTICS CUA DOANH NGHIEP 1. Khái niệm va sự cần thiết của kinh doanh dịch vu logistics của doanh nghiệp 1. Khái niệm kinh doanh dịch vu logistics Trước kia, thuật ngữ logistics, hay còn gọi là logistics, thường được dùng trong quân đội để mô tả quá trình tiếp nhận nhận và cung cấp các thiết bị, vật tư phục vụ cho mục đích quân sự. Tuy nhiên, do sự phức tạp ngày càng tăng của việc cung cấp nguyên vật liệu và vận chuyển sản phâm cho các doanh nghiệp trong những năm 1950, thuật ngữ này đã dần phát triển thành một khái niệm trong kinh doanh.
Ngày nay, trên thế giới nói chung và tại Việt Nam nói riêng, đã có rất nhiều định nghĩa khác nhau về logistics được đưa ra. Cụ thể, xét trên quan điểm của thế giới, Hội đồng các chuyên gia quan lý chuỗi cung ứng (Council of Supply Chain Management Professionals — CSCMP) đã mô ta logistics như dưới đây: “Logistics là quá trình lập kế hoạch, thực hiện và kiểm soát các thi tục để vận chuyển và lưu trữ hiệu quả hàng hóa từ nơi sản xuất đến điểm tiêu thụ nhằm đáp ứng yêu câu của khách hàng” Mặt khác, xét trên quan điểm của Việt Nam, trong giáo trình “Quản trị Logistics” xuất bản năm 2006, GS.TS Doan Thị Hồng Vân, phó chủ nhiệm Bộ môn Ngoại thương trường Đại học Kinh tế Hồ Chí Minh, đã trình bày cách hiểu của mình về logistics như sau: “Logistics là tong thé quá trình toi wu hoá vị trí và thời gian, đông thời vận chuyển và lưu trữ các nguồn tài nguyên tu điển đâu tiên của dây chuyên sản xuất cho đến điểm cuối cùng là đến tay người tiêu dùng, thông qua hàng loạt các hoạt động kinh tế” Bên cạnh đó, PGS.TS Nguyễn Như Tiến, giảng viên khoa Kinh tế Ngoại thương của trường Đại học Ngoại thương, cũng cung cấp một cái nhìn cụ thể hơn về thuật ngữ này. Trích lời văn của ông trong cuốn “Logistics - khả năng ứng dụng và phát triển trong kinh doanh dịch vụ vận tải giao nhận Việt Nam”, ông nhận định rằng: “Logistics là nghệ thuật tổ chức và điều phối sự vận động của hàng hóa, nguyên vật liệu đâu vào từ giai đoạn dau tiên là mua sam, qua các quá trình lưu kho, sản xuất, phân phối cho đến khi dua đến tay người tiêu ding”. Từ các trích dẫn trên, ta thấy được rằng dù mỗi người có một cách trình bày và diễn đạt khác nhau nhưng nhìn chung, tất cả các nhận định này đều thống nhất với nhau ở quan điểm: logistics là một tập hợp các hoạt động nhằm đảm bảo những thành phần cần thiết cho hoạt động sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng hàng hóa, giúp các quá trinh này diễn ra một cách kịp thời, hiệu quả.
Đồng thời, đối tượng của logistics không chỉ gói gọn trong các hàng hóa, sản phẩm hữu hình mà còn có thể là các hàng hóa vô hình như dịch vụ, thông tin, năng lượng. Trong khi logistics có thể được định nghĩa là quá trình xuyên suốt, tích hợp của nhiều công đoạn, bắt đầu từ việc cung cấp nguyên vật liệu và kết thúc bằng việc phân phối hàng hoá cho người tiêu dùng cuối cùng thì dịch vu logistics được mô tả là “hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tô chức thực hiện một hoặc nhiều công việc bao gồm nhận hàng, vận chuyên, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư van khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ky mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hóa theo thỏa thuận với khách hàng để hưởng thù lao” (Điều 233 Luật thương mại). Như vậy, việc kinh doanh dịch vụ logistics là việc đầu tư và thực hiện một hoặc nhiều hoạt động logistics như giao nhận, vận chuyền, lưu trữ, đại lý vận tải, quản lý và xử lý thông tin,. theo thỏa thuận với khách hàng dé thu duoc loi nhuan.
Có nhiều cách dé phân loại dich vu logistics, tuy nhiên cách chủ yêu van là phân loại dựa trên loại hình dịch vụ: dịch vụ bốc xếp hàng hóa, dịch vụ kho bãi và lưu giữ hàng hóa, dịch vụ đại lý vận tải. và các dịch vụ liên quan khác. Ngoài ra, các dịch vu logistics còn được phân loại dựa trên phạm vi: trong nội bộ một doanh nghiệp hoặc giữa doanh nghiệp với khách hàng, trong một nhà máy, một khu công nghiệp hoặc từ tỉnh này sang tỉnh khác, bắt đầu ở một châu lục này và kết thực ở một châu lục khác. Một cách khác, dịch vụ logistics còn có thể được phân loại theo tính chất của các bên tham gia vào quá trinh thực hiện dịch vụ: IPL (doanh nghiệp sản xuất tự chịu trách nhiệm với mọi hoạt động của mình từ khâu nguyên liệu đầu vào đến khâu vận chuyển tới người tiêu dùng cuối cùng), 2PL (doanh nghiệp vừa thực hiện hoạt động logistics, vừa thuê ngoài dịch vụ logistics của một bên thứ ba), 3PL (doanh nghiệp sử dụng dịch vu logistics của các doanh nghiệp chuyên cung cấp dịch vụ logistics thay vì tự mình thực hiện các hoạt động logistics này) , 4PL (doanh nghiệp cung cấp dịch vụ logistics tổng thé, tích hợp nhiều công đoạn trong quá trinh logistics) và sắp tới, cùng với sự bùng nô cua thương mại điện tử là sự xuât hiện của 5PL.
Sự cần thiết của kinh doanh dịch vụ logistics 1. Sự cần thiết của kinh doanh dịch vụ logistics đối với nên kinh tế Ngành logistics hiện nay đang đóng một vai trò to lớn trong nền kinh tế quốc dân. Đây được coi là một trong những công cụ cần thiết và hiệu quả trong việc thay đổi và hoàn thiện các chỉ tiêu kinh tế. Nó đóng góp đáng ké cho nền kinh tế vĩ mô bằng cách tạo ra hàng nghìn cơ hội việc làm, góp phần tăng thu nhập quốc dân và thu hút các dòng vốn đầu tư từ nước ngoài.
Là một thành phần quan trọng của nền kinh tế, logistics có ảnh hưởng cả trực tiếp lẫn gián tiếp đến nhiều yếu tố khác nhau như tỷ lệ lạm phát, lãi suất, năng suất lao động, chi phí năng lượng hay tính sẵn có của sản phẩm. Việc cải thiện năng suất lao động của một quốc gia có tác động tích cực đến giá cả của các loại hàng hóa và dịch vụ, khả năng cạnh tranh hiệu quả của quốc gia đó trên thị trường toàn cầu, lợi nhuận của ngành, sự sẵn có của vốn đầu tư và mức tăng trưởng kinh tế, dẫn đến nâng cao trình độ và tay nghề của người lao động. Ngoài ra, ngành logistics còn có sứ mệnh quan trọng trong việc phục hồi và nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngành khác, bởi lẽ ngày nay, đa số các ngành công nghiệp đều phụ thuộc khá nhiều vào sự phát triển của lĩnh vực logistics. Không chỉ vậy, logistics cũng góp phần hỗ trợ các giao dịch kinh tế diễn ra một cách thuận lợi, tạo điều kiện cho việc kinh doanh hau hết tat cả các hàng hóa và dịch vụ.
Dé hiểu vai trò này từ góc độ hệ thống, hãy tưởng tượng rằng, nếu hàng hóa không đến đúng giờ, khách hàng sẽ không thể mua chúng, hoặc nếu hàng hóa không đến đúng nơi thích hợp, trong tình trạng thích hợp, thì hàng hóa đó sẽ không thé ban được va do đó tất cả các hoạt động kinh tế trong toàn bộ chuỗi cung ứng sẽ bị ảnh hưởng. Theo ông Trần Tuấn Anh, Bộ trưởng Bộ công thương, nếu ví nền kinh tế là một bộ máy thì ngành logistics có thé được coi là dầu bôi trơn, giúp cho việc vận hành bộ máy này diễn ra một cách hiệu quả và thông suốt, đạt được năng suất cao nhất trong khi tiết kiệm tối đa chi phí nhiên liệu và duy trì được sự ồn định, lâu dài. Nếu không có sự tham gia của ngành logistics, hiệu quả hoạt động của nên kinh tế sẽ bị giảm đáng kể, thậm chí sẽ còn xay ra sự rỗi loạn, ngưng trệ trong một số ngành hoặc ở một số nơi. Nhìn chung, mức độ công nghiệp hóa, hiện đại hóa của nền kinh tế càng cao thì vai trò của ngành logistics càng lớn.
Sự can thiết của kinh doanh dich vụ logistics đối với doanh nghiệp Bên cạnh những đóng góp đáng kê đối với nền kinh tế, trong môi trường vi mô, ngành logistics đóng vai trò là một ngành then chốt trong việc duy trì và gia tăng sức cạnh tranh của các doanh nghiệp. Có nhiều yếu tố cùng góp phần tạo nên sức cạnh tranh của một doanh nghiệp, bao gồm các yếu tố bên ngoài doanh nghiệp như thé chế chính trị, pháp luật, môi trường ngành, sự hỗ trợ của Nhà nước. và các yếu tô bên trong nội bộ doanh nghiệp như nguồn nhân lực, chi phí lao động hay chất lượng sản pham. Trong khi chi phí lao động có xu hướng ngày càng tăng, muốn nâng cao chất lượng sản phẩm, doanh nghiệp cần phải đầu tư nhiều hơn vào cơ sở vật chất — kỹ thuật và dành nhiều thời gian hơn dé nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
Tuy nhiên, bên cạnh đó, doanh nghiệp cũng có thé áp dụng một phương thức khác tiết kiệm hơn về cả mặt thời gian và chi phí dé cải thiện chất lượng sản phẩm, đó là vận dụng logistics trong hoạt động của doanh nghiệp, tổ chức lại quy trình sản xuất — kinh doanh sao cho hợp lý, cắt giảm tối đa các chi phí không cần thiết. Trong thời kỳ tự do hóa thương mại, việc dỡ bỏ các hàng rào thuế quan và phi thuế quan, cũng như sự xuất hiện của các doanh nghiệp nước ngoài trên thị trường nội địa, đã gây ra sức ép cạnh tranh ngày càng lớn giữa các quốc gia nói chung và giữa các doanh nghiệp nói riêng. Do đó, việc áp dụng và kinh doanh dịch vu logistics một cách hiệu quả trong doanh nghiệp đã trở thành công cụ hàng đầu giúp các doanh nghiệp tạo ra và gia tăng lợi thế cạnh tranh, vượt qua đối thủ bằng cách tối ưu các loại chi phí và đáp ứng tối đa nhu cầu của khách hàng. Bên cạnh đó, kinh doanh dịch vụ logistics còn giúp các doanh nghiệp mở rộng địa bàn hoạt động ra trường quốc tế.
Với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - công nghệ và sự gia tăng nhanh chóng của xu hướng toàn cầu hóa, các ranh giới từng kìm hãm sự tiến bộ và khả năng của thương mại xuyên biên giới đã giảm thiểu đáng kể, từ đó góp phần mở rộng phạm vi kinh doanh ra các quy mô lớn hơn. Khi các tuyến đường thương mại mới mở ra, nhu cầu về logistics cũng tăng theo. Các cơ hội thương mại và kinh doanh trên toàn thế giới giờ đây đã phát triển từ chỉ giới hạn trong phạm vi trong nước hoặc khu vực thành quy mô toàn cầu.