Chương 1: Giới thiệu dé tài 16 CHUONG 2.1 TONG QUAN VE CHUOI CUNG UNG Chuoi cung ứng bao gôm tat ca những van dé liên quan trực tiép hay gián ti¢p nham thoả mãn nhu câu cua khách hàng. Chuôi cung ứng không chi bao gôm nha san xuât, nhà cung câp mà còn liên quan nhà vận chuyên, nhà kho, nhà bán lẻ và khách hàng. Thuật ngữ “Quản lý chuỗi cung ứng” xuất hiện cuối những năm 1980 và được sử dụng rất phô biến vào những năm 1990. Thời gian trước đó, hoạt động kinh doanh đã sử dụng các thuật ngữ như là “hậu cần” và “quản lý hoạt động” thay thế.
Nếu xét quản lý chuỗi cung ứng như là những hoạt động tác động đến hành vi của chuỗi cung ứng và nhằm đạt được kết quả mong muốn thì chúng ta có những định nghĩa ve quản lý chuỗi cung ứng như sau: Xét trên tính hệ thống, đó là sự kết hợp chiến lược của các chức năng kinh doanh truyền thống và những chiến thuật xuyên suốt theo các chức năng đó trong những công ty riêng biệt; kết hợp những chức năng kinh doanh truyền thống với chức năng kinh doanh trong chuỗi cung ứng: nhằm mục dich cải tiễn hoạt động trong dài hạn cho nhiều công ty cũng như cho toan bộ chuỗi cung ứng. Quản lý chuỗi cung ứng là sự kết hợp sản xuất, tồn kho, địa điểm và vận tải giữa các thành viên tham gia trong chuỗi cung ứng nhăm đạt được khối lượng công việc hiệu quả nhất trong thị trường đang phục vụ (Simchi-Levi et al. Một chuỗi cung ứng đặc trưng là một chuỗi các hoạt động bao gồm: thu mua NVL, sản xuất sản phẩm, chuyển vào hệ thống kho, và cuối cùng chuyền đến các đại ly và khách hàng (Burt, 1984; Oliver and Weber, 1992; David et al. Một hệ thống chuỗi cung ứng tích hợp tat ca các hoạt động va các phòng ban xuyên suốt từ: Nhà cung cấp, vận hành nội bộ, sản xuất chính, vận hành bên ngoai, kinh doanh tiếp thị, và khách hàng (Felix et al.
Chương 2: Cơ sở lý thuyết 17 2.2 HIỆU ỨNG BULLWHIP 2.1 Khái niệm và tác động của hiệu ứng Simchi-Levi et al. 82-83) “Hiệu ứng Bullwhip thé hiện sự thay đối nhu cầu trong toan hệ thống (theo hướng gia tăng) theo thông tin nhu cau từ đầu chuỗi (đại lý) đi ngược vào chuỗi đến các trung tâm phân phối (DCs), nhà sản xuất và nha cung cấp” Hiệu ứng Bullwhip có thể gây ra hậu quả xấu: > Gia tăng tồn kho, ngân sách hoạch định, nguồn lực sử dụng. Hệ thống sẽ kém hiệu qua trong vận hanh WV Huy động nguồn lực lớn để đáp ứng nhu cầu nhỏ Anh hưởng đến những ngành sản xuất và phân phối mà nhu cầu tăng nhanh đột biến (cung nhỏ hon cầu) dẫn đến huy động nguôn lực lớn, sản xuất du thừa sản phẩm, làm cho ngân sách của hệ thống gia tăng. Nhà bán lẻ Nhà kho / Nha phân phôi Nhà sản xuât Hình 2.1: Tác động của Bullwhip Gan với Bullwhip Effect, trường MIT đã phát triển một trò chơi giả lập nhăm giúp người chơi hiểu rõ hơn vai trò và tác động của Bullwhip có tên là Beer Game.
Và một số công ty khác thì phát triển thêm trò chơi giả lập có tên Near Beer Game. Beer Game là trò chơi phân vai có ảnh hưởng rộng lớn trong các doanh nghiệp, mà bản thân các CEO hàng đầu thế giới khi tham gia chơi đều thốt lên “Nếu được chơi sớm hơn thì có lẽ tôi đã cải thiện được nhiều điều”. Thông tin nhu cầu không chính xác chuyến tai từ một thành phan trong chuỗi cung ứng đến một thành phần khác có thể dẫn tới lãng phí to lớn: mức độ dự trữ Chương 2: Cơ sở lý thuyết 18 lớn quá mức, dịch vụ khách hàng tôi, mất doanh số, kế hoạch sản xuất không chính xác, vận tải không hiệu quả (Hau L. Lee et al.
Vậy điều gì đã làm các đơn hàng nhảy múa loạn xạ như vậy? Có cách nào các doanh nghiệp giảm thiểu chuyện ấy? * Mức độ biến động lớn của đơn hàng: Cách đây không lâu, một nhà điều hành logistics ở công ty P&G đã tiến hành nghiên cứu cách thức đặt hàng đối với một trong những sản phẩm bán chạy của công ty - tã lót Pampers. Lúc kiểm tra, phát hiện doanh số bán hàng tại các cửa hàng bán lẻ có biến động với mức độ không quá lớn, nhưng biến động đơn hàng tại nhà phân phối lại lớn hơn, và thậm chí việc đặt hàng nguyên liệu của P&G với nhà cung cấp, như là 3M, lại có mức độ biến động rất lớn. Thoạt nhìn thì sự khác biệt về biến động đơn hàng có vẻ không hợp lý. Bởi người tiêu dùng, trong trường hop này là những đứa nhóc, tiêu thu ta lót ở mức khá 6n định, trong khi mức độ biến động đơn hang lại ngày càng lớn khi tiến sâu vào chuỗi cung ứng.
P&G gọi hiện tượng này là “hiệu ứng Bullwhip” (trong một số ngành thì người ta gọi là hiệu ứng “whiplash” hay “whipsaw’’). * Triệu chứng thông thường của sự biến động đơn hàng lớn là tồn kho quá mức, dự báo kém, năng lực dư thừa hoặc thiếu hụt, dịch vụ khách hàng tệ do sản phẩm không có sẵn hoặc do tồn kho dự trữ quá lâu, kế hoạch sản xuất không On định va chi phí tốn kém từ những hành động sửa chữa (như dùng vận tải chỉ phi cao, làm việc ngoài gi0,.) Vi dụ điển hình, khi các nhà điều hành Hewlett-Packard (HP) kiểm tra doanh số của sản phẩm máy in ở một đại lý chủ chốt, họ thay có một số biến động. Đến khi kiểm tra đơn hàng từ đại lý này, thì họ phát hiện mức độ biến động còn lớn hơn. Điều gì đã xảy ra? Có phải chuỗi cung ứng đang bị lây nhiễm bởi hiệu ứng bullwhip, khiến cho thông tin nhu cầu ngày cảng bị méo mó hơn khi đi sâu vào trong chuỗi cung ứng? Ngày trước, do không thé thay hết được doanh số ban của mình trong các kênh phân phối, nên HP chỉ có thể dựa vào đơn hàng của đại lý để Chương 2: Cơ sở lý thuyết 19 đưa ra dự báo sản phẩm, lên kế hoạch nguồn lực, kiểm soát tôn kho, và lên kế hoạch sản xuất.
Sự chênh lệch quá lớn trong dự báo nhu cầu đã trở thành bài toán đau đầu cho ban quản trị HP. * Tôn trữ hàng bới vì mức độ biên động và không chăc chăn của nhu câu. Thông tin méo mo sẽ dẫn dat các thành phan trong chuỗi cung ứng - kho của nhà máy, kho thành phẩm của nhà sản xuất, kho trung tâm của nhà phân phối, kho vùng của nha phân phối, kho của nha bán lẻ - phải dự trữ hàng bởi vì mức độ biến động và không chắc chăn của nhu cầu. Nhiều năm trước day, Tổ chức ECR (Efficient Consumer Respone) đã cố gắng tái xác lập cách vận hành của chuỗi cung ứng hàng tạp hóa (grocery supply chain).
Một trong những động cơ chính của hành động này là tồn kho quá mức trong chuỗi cung ứng bán lẻ. Nhiều nghiên cứu trong ngành cho thấy, tổng chuỗi cung ứng từ lúc sản phẩm rời nhà máy đến khi nó được bảy sẵn sàng trên kệ có lượng tồn kho tương đương 100 ngày cung cấp (100 days of inventory supply). Sẽ không ngạc nhiên khi ECR ước tinh có thé cat giảm khoảng 30 ty USD cho các khoản không hiệu quả trong chuỗi cung ứng bán lẻ. Trong chuỗi cung ứng của một sản phẩm dién hình, ngay cả trong trường hợp doanh số không biến động nhiều.
thì nó cũng được chuyển hóa thành những biến động trong đơn hàng của nhà bán lẻ đến nhà bán sỉ. Thậm chí còn cao hơn khi đến nhà sản xuất và cung cấp (hình 2.2) Dựa trên phân tích của các tác giả và hành động của các công ty hàng đầu thì hiệu ứng bullwhip sẽ tác động nhiều nhát đến: - Lượng dự tôn kho thành phẩm lon, mức độ dự trữ thành phẩm lớn ở nhà sản xuất, nhà phân phối, du thừa nguyên vật liệu cho sản xuất. - Kế hoạch sản xuất không chính xác, phân phối kém hiệu quả. Đây là những cơ sở lý thuyết dùng dé đánh giá các tác động của hiệu ứng bullwhip lên chuôi cung ứng của công ty.
Chương 2: Cơ sở lý thuyết 20 Doanh số ban cho người tiêu ding Dat hàng của nhà ban lê cho nhà bans đơhgàn —————————-—_SE—A——"—À——A--S=A CC PA kk lk kk tk —A TÌM Đặt hang của nhà ban sĩ cho nha san xuất Dat hàng của nhà san xuất cho nhà cung cấp Hình 2.2: Gia tăng sức biến động dung lượng đơn hàng dọc theo chuỗi cung ứng 2.2 Nguyên nhân gây ra hiệu ứng Bullwhip Theo (Hau L. Lee et al.75-77) thì có bốn nguyên nhân chính gây ra hiệu ứng bullwhip: 1) Cách thức cập nhật dự báo nhu cầu (demand forecast updating) 2) Dung lượng don hàng theo quy mô (order batching) 3) Su biến động về gid cả (price fluctuation) 4) Trò chơi tạo sự hạn chế và thiếu hut (rationing and shortage gaming) Mỗi nguyên nhân trên cộng với bối cảnh hạ tầng chuỗi cung ứng và các quyết định thiếu hợp lý của các nha quản lý đã gây ra hiệu ứng bullwhip. Hiểu rõ các nguyên nhân này sẽ giúp các nhà quản lý thiết kế và phát triển chiến lược dé đối phó với nó. * Cập nhật dự báo nhu câu (demand forecast updating) Mỗi công ty trong chuỗi cung ứng thường thực hiện việc dự báo sản phẩm nhằm giúp việc lên kế hoạch sản xuất, hoạch định nguồn lực, kiểm soát tồn kho và hoạch định nguyên vật liệu.
Dự báo thường dựa trên dữ liệu lịch sử đơn hàng của khách hàng trực tiép. Kêt quả của trò Beer Game chính là sản phầm của nhiêu yêu tô mang Chương 2: Cơ sở lý thuyết 21 tính hành vi, như là nhận thức va niềm tin của người chơi. Một yếu tô quan trọng là suy nghĩ của người chơi khi dự báo nhu cầu dựa trên những gì họ quan sát thấy. Mỗi khi có đơn hàng từ đối tác downstream' (xuôi dòng): (như nhà bán lẻ, bán si, sản xuất,.) thì các nha quản ly upstream (ngược dòng): (như nhà bán si, sản xuất, cung cấp.) sẽ coi thông tin đó như là tín hiệu về nhu cầu tương lai.
Dựa trên tin hiệu ấy, nhà quản lý upstream sẽ điều chỉnh dự báo nhu cầu của mình, tiếp theo họ dùng thông tin ay dé dat hang cho nha cung cap (thanh pham, nguyên vật liệu). Chính việc xử lý thông tin/tin hiệu nhu cầu chính là yếu tố chủ chốt gây ra hiệu ứng bullwhip. Ví dụ, nếu một công ty quyết định cần đặt bao nhiêu hàng từ nhà cung cấp, đơn giản công ty này chỉ cần sử dụng một phương pháp cơ bản để dự báo nhu câu, ví như phương pháp dự báo làm trơn bằng hàm số mũ”.