Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận về logistics và tối ưu hóa chi phi logistics Chuong 2: Phuong phap nghién ctru Chương 3: Thực trang tối ưu hóa chi phi logistics của các doanh nghiệp cung ứng dich vu logistics ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế Chương 4: Một số giải pháp tối ưu hóa chi phí logistics cho doanh nghiệp cung ứng dịch vụ logistics ở Việt Nam CHUONG 1: TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LOGISTICS VÀ TÓI ƯU HÓA CHI PHÍ LOGISTICS 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu Trong suốt hai thập kỷ qua, đã có rất nhiều chuyên gia, những học liệu trong và ngoài nước nghiên cứu về lĩnh vực logistics và vai trò của logistics đến sự phát triển của nền kinh tế. Dưới những góc độ và cách tiếp cận khác nhau, các nghiên cứu đều có điểm chung là giúp người đọc có cái nhìn rõ nét về dịch vụ logistics, nhằm khai thác triệt dé những thế mạnh mà ngành này mang lại.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước Một trong những cuốn sách chuyên khảo đầu tiên về logistics được công bố ở Việt Nam là “Logistics- Những vấn dé cơ bản” (Đoàn Thị Hồng Vân, 2003). Thông qua cuốn sách, tác giả tập trung giới thiệu lịch sử hình thành và phát triển của logistics, vai trò, liên hệ kinh nghiệm từ các quốc gia phát trién,. 3 năm sau, tác giả tiếp tục xuất bản thêm cuốn sách “Quản tri Logistics” (Đoàn Thi Hồng Vân, 2006) đưa ra những khái niệm về quản tri logistics, các nội dung liên quan đến quan trị như dịch vụ khách hàng, hệ thống thông tin, dự trữ, quản trị vật tư, kho bãi.
Hai cuốn sách trên cùng chỉ ra những khái niệm và lý luận về logistics cũng như quan tri logistics, tuy nhiên, những van đề liên quan đến chi phí logistics và quản trị chi phí logistics cho các doanh nghiệp logistics tại Việt Nam lại chưa được quan tâm va nhắc đến. Dé đáp ứng nhu cầu trau dôi, học tập của các giảng viên, sinh viên tại các trường đại học, Dang Dinh Dao và các cộng sự đã biên soạn ra cuốn sách “Giáo trình Quản tri Logistics” (Đặng Dinh Đào và các cộng sự, 2018). Là một trong những môn học không thể thiếu trong các chuyên ngành Kinh tế, Quản trị Logistics phổ cập những kiến thức về quản trị các hoạt động logistics đầu vào (Inbound Logistics) và các hoạt động logistics đầu ra (Outbound Logistics). Một lần nữa, nhóm tác giả khang định “Logistics có vai trò quan trọng trong nên kinh té quốc dân, là “dịch vụ cơ sở hạ tang” có giá trị gia tăng cao trong các ngành dịch vu”, để thấy dù là ngành dịch vụ hỗ trợ nhưng logistics giúp kết nối và thúc đây phát triển kinh tế - xã hội.
Cuốn sách mới chỉ dừng lại ở việc đề cập đến phương thức quản trị các lĩnh vực trong logistics như quản trị nhu cầu vật tư, quản trị dự trữ hàng hóa và sản xuất, quản trị kho hàng hóa, mà chưa nhắc đến quản trị chỉ phí logistics- một khía cạnh quan trọng, quyết định đến lợi nhuận và sự vận hành của doanh nghiệp logistics. Các tài liệu trên đã nêu lên những ý kiến, khái niệm và nội dung về logistics, và đều lựa chon cách thức tiếp cận vi mô, tạo tiền đề cho những luận án tiễn sĩ, luận văn thạc sĩ viết về hoạt động logistics nói chung và các khía cạnh liên quan đến logistics nói riêng, một số luận án tiến sĩ tiêu biểu như Nguyễn Thị Phương (2008); Nguyễn Quốc Tuấn (2015); Bùi Duy Linh (2018). Tuy nhiên, không có tác giả nào nghiên cứu về chỉ phí logistics, các đề tài chỉ dừng lại ở việc phân tích và đưa ra những giải pháp để phát triển hoạt động logistics nói chung ở Việt Nam. Ở góc độ tiếp cận vĩ mô, số lượng công trình nghiên cứu khoa học (NCKH) về logistics còn hạn chế.
Công trình NCKH quy mô lớn nhất cho đến nay về logistics “Phat trién cdc dich vu Logistics ở nước ta trong diéu kiện hội nhập kinh tế” (Đặng Đình Đào và các cộng sự, 2012) do GS.TS Đặng Đình Đào làm chủ nhiệm cùng các Giáo sư, Phó giáo sư, Tiến sĩ và các cán bộ nghiên cứu tại các địa phương tiến hành, thu thập số liệu thông qua điều tra tại 10 tỉnh thành trong cả nước. Nghiên cứu chỉ ra dịch vụ logistics, tính đến thời điểm công bố kết quả nghiên cứu, chưa được nhận thức đúng đắn về vai trò và vị trí trong nền kinh tế. Theo Luật Thương mai sửa đổi 01/01/2006, logistics được xem là một hoạt động thương mai vận tai hay dịch vụ giao nhận đơn thuần, trên thực tế đây là lĩnh vực có tính liên ngành, có sự giao thoa của các ngành giao thông vận tải, thương mại dịch vụ, hải quan và công nghệ thông tin. Vậy nên việc quản lý các hoạt động logistics trên thị trường chưa được phân cấp rõ ràng, có tình trạng chồng chéo giữa Sở Giao Thông Vận Tải và Sở Công Thương.
Trong khuôn khổ đề tài này, cuốn sách chuyên khảo “Logistics: những vấn dé lý luận và thực tién ở Việt Nam” (Đặng Đình Đào và các cộng sự, 2011) được xuất bản. Cuốn sách tổng hợp 26 công trình nghiên cứu và báo cáo khoa học được trình bày tại hội thảo. Các báo cáo này tập trung giới thiệu các van dé như: các van dé lý luận của logistics trong nền kinh tế thị trường, vai trò và một số đặc trưng cơ bản của logistics, các quy định pháp lý, cơ sở hạ tang kỹ thuật, nguồn nhân lực trong lĩnh vực logistics, giải pháp phát triển dịch vụ logistics trong thời ky hội nhập kinh tế, liên hệ thực tiễn đến hoạt động logistics ở các nước ASEAN. Một cuốn sách chuyên khảo khác “Một số vấn dé lý luận và thực tiễn về phát triển dịch vụ logistics ở Việt Nam” (Phan Văn Hòa, 2014), cũng được đúc kết từ đề tài NCKH này, ngoài các nội dung về khái niệm và lý luận, tác giả giới thiệu thêm về các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của dịch vụ logistics, và tác động của hội nhập kinh tế, đồng thời đề xuất những giải pháp cho dịch vụ logistics trên phương diện vi mô va vi mô.
Cũng giống như các cuốn sách chuyên khảo trước đó, hai cuốn sách này chỉ dừng lại ở việc mô tả sự phát triển của dịch vụ logistics, các khía cạnh của chỉ phí logistics chưa được quan tâm và đề cập. Ngoài ra, tác giả cũng tham khảo những bài báo, bài viết học thuật mang tính “thời sự”, gắn liền với những sự kiện kinh tế nổi bật hiện nay. Trong bài viết “Ngành logistics Việt Nam trong bối cảnh hội nhập cộng đồng kinh tế ASEAN” (Tran Quốc Trung và Nguyễn Xuân Minh, 2020) đăng trên Tap chí kinh tế đối ngoại, tác giả đã phân tích các yếu tô bên trong và yếu tố bên ngoài tác động đến dịch vụ logistics, từ đó đưa ra những đề xuất nhằm duy trì và tận dụng lợi thế vốn có của Việt Nam, bao gồm: (i) tiép tục khai thác các mang dich vụ dành cho khách hang trong nước; (ii) xây dựng chiến lược kinh doanh dé thu hút vốn dau tư từ các quỹ đầu tư và đối tác nước ngoài; (iii) tận dụng các chính sách hỗ trợ của nhà nước về lĩnh vực logistics; (iv) tích cực mở rộng mối quan hệ, hỗ trợ lẫn nhau trong hoạt động khai thác thị trường mới và tìm kiếm khách hàng. Bài viết cũng không nhắc đến chi phí logistics mà chỉ đưa ra những phương án cho sự phát triển của dịch vụ logistics trong bối cảnh hội nhập kinh tế ASEAN.
Năm 2019, dự án hợp tác chiến lược giữa Australia và nhóm Ngân hàng thế giới tại Việt Nam đã xuất bản cuốn sách “Tang cường ngành Vận tải hàng hóa đường bộ Việt Nam- Hướng đến giảm Chỉ phí logistics và Phát thải khí nhà kính” (Yin Yin Lam và các cộng sự, 2019). Phương pháp nghiên cứu bao gồm: khảo sát 1400 tài xế xe tải và 150 công ty logistics để có cái nhìn tổng quan về lượng hàng hóa và chi phí logistics; xây dựng mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến chi phí vận tải; và phỏng vấn các doanh nghiệp vận tải nội địa. Mục đích của nhóm nghiên cứu nhằm đánh giá toàn diện lĩnh vực vận tải hàng hóa đường bộ, từ đó đưa ra những chính sách nhằm (ji) cắt giảm chi phi logistics, giảm ô nhiễm không khí; (ii) nâng cao chất lượng và sức hấp dẫn của ngành vận tải đường bộ: và (iii) xây dựng kế hoạch dài hạn ở cấp độ Nhà nước va địa phương. Dự án đã đề cập đến chi phí logistics và cách thức tối ưu hóa chi phi logistics trong lĩnh vực vận tải, tuy nhiên, vận tải chỉ là một khía cạnh của logistics.
Ngoài vận tải, các dịch vụ khác của logistics như kho bãi, lưu kho, đóng gói., cũng như tổng thé chi phí lại chưa được nhóm tác giả xem xét và nhắc đến. Trong “Phat triển bén vững logistics Việt Nam trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0” (Nguyễn Thu Hương, 2022) trên Tạp Chí điện tử Khoa học Và Công nghệ Giao thông, tác giả chỉ ra những bat cập trong hoạt động logistics ở Việt Nam như: các doanh nghiệp cung ứng dịch vụ chỉ đáp ứng được một phần nhu cầu của thị trường: cơ sở vật chất, kết cấu ha tang còn nhiều hạn chế; hệ thống pháp lý sơ sài; các quy định về tài chính và hải quan chưa được quan tâm kỹ lưỡng và thiếu nguồn nhân lực chất lượng cao trong ngành. Tác giả cũng tập trung làm rõ những yếu t6 ảnh hưởng đến dịch vụ logistics, ngoài những yếu tố mang tính chủ quan, cũng có những yếu tố mang tính khách quan đến từ khách hàng, như: nguyên liệu đầu vào; máy móc và các thiết bị cần được bảo trì thường xuyên; nguồn nhân lực phải được phát triển phù hợp với các yêu cầu của nhà máy. Qua đó, không chỉ LSP mà các khách hàng cần phối hợp để tạo ra sự phát triển bền vững cho hoạt động logistics tại Việt Nam.
Bài viết cũng chưa nhắc đến chi phí logistics và tối ưu hóa chi phí logistics- một trong những yếu tô đóng góp vào sự phát triển bền vững cua logistics. Tổng quan tình hình nghiên cứu trên thế giới Các cuốn sách như “Fundamentals of Logistics Management” (Lambert, 1998), hay “Logistics and Supply Chain Management” (Christopher, 1998) đã cho người đọc cái nhìn khái quát nhất về quản trị logistics trong doanh nghiệp. Tác gia đã nhấn mạnh logistics không phải là một hoạt động đơn lẻ mà là một chuỗi các hoạt động có sự liên kết, hoạt động sau là kết quả của hoạt động trước, từ việc nhập nguyên liệu đầu vào cho đến tạo ra sản phẩm tiêu thụ trên thị trường.