Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong cơ cấu nền kinh tế Việt Nam, hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa gia công và đầu tư cho thương nhân nước ngoài đóng vai trò quan trọng, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng kim ngạch xuất nhập khẩu công nghiệp của cả nước. Bên cạnh việc thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp và tạo việc làm, hoạt động này cũng đặt ra những thách thức lớn đối với công tác quản lý nhà nước về hải quan nhằm vừa tạo thuận lợi thương mại, vừa ngăn chặn các hành vi gian lận thương mại, trốn thuế và thẩm lậu nguyên phụ liệu vào thị trường nội địa.

Tại địa bàn Thành phố Hà Nội, khối lượng hàng hóa xuất nhập khẩu theo loại hình đầu tư và gia công diễn biến sôi động, phức tạp với sự tham gia của hàng nghìn doanh nghiệp trong và ngoài nước. Nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý chuyên biệt, Chi cục Hải quan quản lý hàng Đầu tư – Gia công (trực thuộc Cục Hải quan Thành phố Hà Nội) đã được thành lập và đảm nhiệm vai trò kiểm soát trực tiếp các loại hình này. Xuất phát từ bối cảnh thực tiễn đó, đề tài chuyên đề thực tập tốt nghiệp được thực hiện với tên gọi: "Tăng cường kiểm tra, giám sát Hải quan đối với hàng hóa đầu tư, gia công tại Chi cục Hải quan quản lý hàng Đầu tư – Gia công, thuộc Cục Hải quan Hà Nội".

Nhiệm vụ và mục tiêu nghiên cứu của đề tài bao gồm ba nội dung chính:

  1. Hệ thống hóa cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ và quy trình nghiệp vụ thủ tục hải quan tại Chi cục Hải quan quản lý hàng Đầu tư – Gia công.
  2. Khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng công tác kiểm tra, giám sát hải quan đối với hàng hóa đầu tư, gia công tại Chi cục giai đoạn 2011–2015; chỉ rõ những kết quả đạt được, các hạn chế và nguyên nhân phát sinh trong quá trình thực hiện.
  3. Đề xuất hệ thống giải pháp nghiệp vụ, kỹ thuật và các kiến nghị hoàn thiện chính sách pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát hải quan đối với hàng hóa đầu tư, gia công trong giai đoạn tiếp theo.
  • Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động kiểm tra, giám sát hải quan đối với hàng hóa xuất nhập khẩu thuộc loại hình đầu tư và gia công tại Chi cục Hải quan quản lý hàng Đầu tư – Gia công.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Không gian: Chi cục Hải quan quản lý hàng Đầu tư – Gia công, Cục Hải quan Thành phố Hà Nội (trụ sở tại 938 Bạch Đằng, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội).
    • Thời gian: Khảo sát thực tế số liệu hoạt động, tình hình kim ngạch và xử lý vi phạm giai đoạn từ năm 2006 đến năm 2015, định hướng mục tiêu công tác năm 2016.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung pháp lý và quy trình nghiệp vụ

Nghiên cứu được xây dựng trên hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật và văn bản chỉ đạo nghiệp vụ của ngành Hải quan:

  • Luật Hải quan và Luật Hải quan sửa đổi năm 2014;
  • Nghị định số 08/2015/NĐ-CP quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Hải quan;
  • Thông tư số 194/2010/TT-BTC, Thông tư số 117/2011/TT-BTC hướng dẫn thủ tục hải quan đối với hàng hóa gia công với thương nhân nước ngoài, Thông tư số 116/2008/TT-BTC, Thông tư số 13/2014/TT-BTC, Thông tư số 38/2015/TT-BTC và Thông tư số 222/2009/TT-BTC;
  • Quyết định số 542/QĐ/TCHQ-TCCB ngày 18/08/1998 của Tổng cục Hải quan về việc thành lập Chi cục; Quyết định số 209/2011/QĐ-BTC và Quyết định số 1842/QĐ-BTC ngày 30/07/2014 quy định thủ tục thông báo, điều chỉnh, kiểm tra định mức gia công;
  • Các chỉ thị điều hành thu ngân sách như Chỉ thị số 217/CT-TCHQ, Chỉ thị số 8369/CT-TCHQ; các Nghị quyết số 36-NQ/TW, Nghị quyết số 26/NQ-CP, Nghị quyết số 36a/NQ-CP và Nghị quyết số 19/NQ-CP của Chính phủ.

Quy trình thủ tục hải quan điện tử thực hiện tại đơn vị gồm 6 bước chuẩn hóa:

  • Bước 1: Kiểm tra sơ bộ, tiếp nhận và đăng ký tờ khai hải quan điện tử.
  • Bước 2: Kiểm tra chi tiết hồ sơ hải quan và kiểm tra, xác định trị giá tính thuế.
  • Bước 3: Kiểm tra thực tế hàng hóa theo mức độ được phê duyệt.
  • Bước 4: Xác nhận thông quan điện tử, giải phóng hàng, đưa hàng về bảo quản hoặc xử lý hàng chuyển cửa khẩu.
  • Bước 5: Quản lý, theo dõi và hoàn chỉnh hồ sơ hải quan nợ chứng từ.
  • Bước 6: Phúc tập hồ sơ hải quan.

Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu

  • Phương pháp thu thập dữ liệu: Thu thập số liệu thứ cấp từ báo cáo tổng kết năm, thống kê sổ sách nội bộ, hệ thống dữ liệu quản lý rủi ro và tờ khai điện tử tại Chi cục Hải quan quản lý hàng Đầu tư – Gia công.
  • Phương pháp phân tích – tổng hợp: Thống kê mô tả số lượng tờ khai, tỷ lệ phân luồng (xanh, vàng, đỏ), tỷ lệ vi phạm hành chính, cơ cấu ngành hàng gia công và kim ngạch xuất nhập khẩu qua các năm.
  • Phương pháp quan sát và tổng kết thực tiễn: Khảo sát trực tiếp quy trình tiếp nhận, kiểm tra định mức, kiểm hóa và thanh khoản tại 4 đội công tác chuyên trách.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan về Chi cục Hải quan quản lý hàng Đầu tư – Gia công thuộc Cục Hải quan Hà Nội

Chi cục Hải quan quản lý hàng Đầu tư – Gia công được thành lập ngày 18/08/1998 theo Quyết định số 542/QĐ/TCHQ-TCCB trên cơ sở Phòng Giám sát quản lý số 2 (ban đầu mang tên Hải quan làm thủ tục hàng gia công, đổi tên thành tên hiện tại từ năm 2001). Đơn vị có trụ sở tại số 938 Bạch Đằng, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội.

Về cơ cấu tổ chức, lãnh đạo Chi cục gồm 1 Chi cục trưởng và 3 Phó Chi cục trưởng. Bộ máy giúp việc gồm 4 đội nghiệp vụ:

  • Đội Tổng hợp (14 người): Thực hiện tham mưu, tổng hợp, văn thư lưu trữ, hành chính, quản lý tài sản, ấn chỉ, niêm phong hải quan, quản trị mạng và thông tin liên lạc.
  • Đội Thủ tục hải quan XNK hàng đầu tư (14 người): Giải quyết thủ tục, ấn định thuế, kiểm tra hồ sơ, áp dụng quản lý rủi ro đối với hàng hóa đầu tư, máy móc thiết bị nhập khẩu.
  • Đội Thủ tục hải quan XNK hàng gia công (14 người): Giải quyết thủ tục tiếp nhận hợp đồng, phụ lục, kiểm tra định mức, thủ tục thông quan và thanh khoản hàng hóa gia công.
  • Đội Quản lý thuế (14 người): Quản lý thu thuế, theo dõi nợ đọng, thực hiện thủ tục hoàn thuế, miễn thuế, không thu thuế, cưỡng chế nợ thuế và phúc tập hồ sơ.

Về nhân lực, đơn vị có 60 người (gồm 50 cán bộ công chức và 10 nhân viên hợp đồng theo Nghị định số 68/CP). Trình độ chuyên môn đạt 5% Thạc sỹ, 80% Đại học và 15% Cao đẳng, Trung cấp. Cơ sở vật chất của đơn vị đã được trang bị mạng Net Office nội bộ ngành, tuy nhiên hệ thống hạ tầng tin học mới đáp ứng khoảng 60% yêu cầu công việc, chưa có sân kiểm hóa và nhà kiểm hóa tập trung, chưa có máy phát điện dự phòng khi mất điện lưới.

Chương này cũng tổng hợp kết quả công tác thu thuế và phân luồng thông quan. Năm 2015, đơn vị hoàn thành 94,2% chỉ tiêu kế hoạch thu ngân sách được giao (tăng so với mức 86% của năm 2014); số thu thực tế đạt 114,6% so với cùng kỳ năm 2014. Đơn vị đề ra mục tiêu năm 2016: thu ngân sách tăng bình quân 12–14%, giảm tỷ lệ nợ đọng thuế xuống dưới 5% tổng thu, rút ngắn thời gian thông quan xuống dưới 4 giờ đối với hàng nhập khẩu và dưới 30 phút đối với hàng xuất khẩu, tỷ lệ kiểm tra thực tế hàng nhập khẩu duy trì dưới 10%.


Chương 2: Thực trạng kiểm tra, giám sát Hải quan đối với hàng hóa đầu tư gia công tại Chi cục Hải quan quản lý hàng Đầu tư Gia công – Cục Hải quan Hà Nội

Chương 2 đi sâu phân tích đặc điểm hoạt động, số liệu kiểm tra giám sát và xử lý vi phạm tại đơn vị.

Doanh nghiệp làm thủ tục tại Chi cục tập trung vào các nhóm ngành gia công trọng điểm: Dệt may chiếm 45%, Da giày chiếm 15%, Cơ khí chế tạo chiếm 11%, Thủ công mỹ nghệ chiếm 9%, các ngành khác chiếm 20%. Một số doanh nghiệp lớn đăng ký thường xuyên bao gồm Công ty TNHH Giày Thượng Đình, Công ty Cổ phần Sản xuất gia công và XNK Hanel, Công ty TNHH Yamaha Motor Việt Nam, Tổng Công ty Cổ phần Dệt may Hà Nội.

Phần lớn doanh nghiệp gia công trong nước có quy mô vừa và nhỏ, chủ yếu nhận gia công làm thuê (CMT) dựa trên nguyên phụ liệu do đối tác nước ngoài cung ứng hoàn toàn. Dẫn chứng tại hợp đồng gia công áo jacket xuất khẩu của Công ty Prosimex với Công ty TNHH Hansa (Hong Kong): tổng trị giá nguyên liệu nhập khẩu do phía nước ngoài cung cấp (vải chính, vải lót, khóa, nút chặn...) là 38.000 USD; trong khi vật liệu đóng gói do doanh nghiệp Việt Nam tự cung cấp (thùng carton, bao nilon, dây đai) chỉ trị giá 751 USD (chiếm 1,98%). Định mức hao hụt cho phép trong sản xuất dao động trong khoảng +/-3%.

Danh mục vật liệu tự cung ứng Số lượng Đơn giá (USD) Trị giá (USD)
Thùng carton 1.200 thùng 0,5 600
Bao nilon 80 kg 1,1 88
Dây đai thừng 70 kg 0,9 63
Tổng trị giá 751

Về công tác xử lý vi phạm hành chính, số vụ lập biên bản vi phạm có xu hướng giảm rõ rệt qua các năm, phản ánh sự cải thiện trong ý thức tuân thủ của doanh nghiệp:

Tiêu chí Năm 2012 Năm 2013 Năm 2014 Năm 2015
Số vụ vi phạm lập biên bản 35 30 32 18
Số HĐ và phụ lục HĐ gia công đăng ký 281 - 751 805

Các hành vi vi phạm chủ yếu gồm: chậm thanh khoản hợp đồng gia công, chậm thông báo định mức hoặc kê khai sai lệch định mức, tự ý tiêu thụ nguyên phụ liệu dư thừa vào thị trường nội địa để trốn thuế. Tác giả nêu dẫn chứng vụ việc Công ty May Mai Lan và Công ty XNK Tổng hợp 1 chuyển nhượng lô nguyên phụ liệu trị giá 492.000 USD của 3 hợp đồng gia công cho Công ty TNHH Phú Quý, sau đó doanh nghiệp này bỏ trốn khỏi địa chỉ đăng ký kinh doanh nhằm chiếm đoạt nguyên liệu.

Về công tác quản lý rủi ro và kiểm tra định mức, đơn vị đã chuyển đổi mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm. Tuy nhiên, việc kiểm tra định mức theo Thông tư số 116/2008/TT-BTC và Quyết định số 1842/QĐ-BTC bộc lộ bất cập: doanh nghiệp phải khai báo định mức ngay khi đăng ký hợp đồng (khi chưa sản xuất thực tế), dẫn đến việc phải điều chỉnh nhiều lần sau khi hoàn tất sản xuất. Sự sai lệch giữa định mức khai báo ban đầu và thực tế dẫn đến việc hệ thống tự động xếp doanh nghiệp vào luồng đỏ; trên thực tế có tới 85% doanh nghiệp bị phân luồng đỏ nhưng khi kiểm tra thực tế không phát hiện vi phạm.

Bên cạnh đó, hạ tầng kỹ thuật còn tồn tại nhiều điểm nghẽn: đường truyền mạng thuê từ Công ty Điện toán và Truyền số liệu (VDC) thường xuyên bị gián đoạn (2–3 lần/tháng). Khi xảy ra lỗi mạng, quy định hiện hành bắt buộc phải chờ 4 giờ mới được chuyển sang khai báo hải quan trên giấy, gây chậm trễ cho doanh nghiệp và gia tăng khối lượng công việc nhập liệu thủ công cho công chức hải quan. Phần mềm hải quan điện tử chưa tích hợp chức năng cho nợ các chứng từ ngoài C/O, chưa có cơ chế cảnh báo tự động khi quá hạn nợ chứng từ và chưa liên thông dữ liệu kiểm tra chuyên ngành giữa các bộ, ngành.


Chương 3: Một số giải pháp tăng cường hoạt động kiểm tra giám sát Hải quan đối với hàng hóa đầu tư gia công tại Chi cục Hải quan quản lý hàng Đầu tư Gia công – Cục Hải quan Hà Nội

Trên cơ sở phân tích thực trạng, Chương 3 đưa ra định hướng và 4 nhóm giải pháp chủ yếu:

  1. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và hiện đại hóa cơ sở vật chất:

    • Đào tạo chuyên sâu kỹ năng nghiệp vụ kiểm tra định mức, phân tích dữ liệu và nhận biết gian lận thương mại cho 20 cán bộ chuyên trách công tác gia công;
    • Tăng cường kỷ cương hành chính, thực hiện luân chuyển vị trí công tác gắn liền với việc bàn giao và chia sẻ kinh nghiệm nghiệp vụ;
    • Trang bị các thiết bị kỹ thuật kiểm tra chuyên dụng tại chỗ như camera giám sát, máy đo lường, thiết bị giám định phục vụ công tác kiểm hóa; xây dựng sân kiểm hóa tập trung.
  2. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và hoàn thiện hệ thống phần mềm nghiệp vụ:

    • Triển khai vận hành ổn định hệ thống thông quan tự động VNACCS/VCIS 24/7; chuẩn bị điều kiện triển khai giai đoạn 2 của dự án;
    • Mở rộng cung cấp dịch vụ công trực tuyến theo Nghị quyết số 36a/NQ-CP và Nghị quyết số 19/NQ-CP: nâng tổng số thủ tục cung cấp dịch vụ công trực tuyến tối thiểu mức độ 3 lên 119/168 thủ tục (đạt 71%), trong đó mức độ 4 đạt 114/168 thủ tục (đạt 68%) trong năm 2016;
    • Nâng cấp phần mềm tiếp nhận khai báo nợ chứng từ, bổ sung chức năng cho phép theo dõi và tự động cảnh báo tờ khai quá hạn thanh khoản, tự động cập nhật số liệu sửa đổi tờ khai mà không bắt buộc in tờ khai giấy nhiều lần.
  3. Mở rộng Cơ chế một cửa quốc gia (NSW) và Cơ chế một cửa ASEAN:

    • Tích hợp trao đổi thông tin điện tử giữa cơ quan Hải quan với Kho bạc Nhà nước, cơ quan Thuế và các ngân hàng thương mại để tự động hóa khâu thu nộp thuế và lệ phí;
    • Kết nối liên thông dữ liệu cấp phép, chứng nhận xuất xứ (C/O điện tử) và kết quả kiểm tra chất lượng, an toàn thực phẩm, kiểm dịch động thực vật từ các Bộ, ngành;
    • Tham gia Cơ chế một cửa ASEAN ngay sau khi Nghị định thư về khung pháp lý được 10 quốc gia thành viên phê chuẩn.
  4. Kiến nghị sửa đổi, bổ sung chính sách pháp luật:

    • Đề nghị Bộ Tài chính và Tổng cục Hải quan sửa đổi quy định về thời điểm thông báo định mức: cho phép doanh nghiệp khai báo định mức thực tế một lần trước thời điểm nộp hồ sơ thanh khoản hợp đồng thay vì bắt buộc khai trước khi nhập khẩu nguyên liệu;
    • Bổ sung quy định xử lý đối với trường hợp doanh nghiệp bỏ trốn, mất tích khi đang quản lý nguyên phụ liệu gia công;
    • Rà soát, đơn giản hóa danh mục hồ sơ giấy theo tinh thần Luật Hải quan 2014, loại bỏ các khâu trung gian chồng chéo trong thủ tục hải quan điện tử.

Kết quả và đóng góp

Kết quả nghiên cứu chính

  • Phản ánh trung thực bức tranh cơ cấu doanh nghiệp gia công tại địa bàn Hà Nội với tỷ trọng áp đảo của ngành Dệt may (45%) và Da giày (15%).
  • Tổng hợp số liệu định lượng về công tác kiểm soát vi phạm: số vụ vi phạm hành chính giảm từ 35 vụ (năm 2012) xuống 18 vụ (năm 2015), số hợp đồng và phụ lục quản lý tăng từ 281 lên 805 hợp đồng trong cùng thời kỳ.
  • Làm rõ nguyên nhân nghịch lý 85% tờ khai luồng đỏ không có vi phạm xuất phát từ quy định cứng nhắc về thời điểm khai báo định mức sản xuất.

Đóng góp thực tiễn của đề tài

  • Đề xuất quy trình quản lý định mức hợp lý hơn (khai báo thực tế trước thanh khoản), giúp giảm tải khối lượng công việc kiểm hóa và tránh nghẽn luồng thông quan.
  • Hệ thống hóa các điểm nghẽn kỹ thuật phần mềm (hạn chế nợ chứng từ, đứt kết nối mạng VDC) làm cơ sở thực tiễn để cấp quản lý hoàn thiện phần mềm VNACCS/VCIS và hệ thống Một cửa quốc gia.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Đề tài giới hạn phạm vi khảo sát tại một đơn vị cơ sở (Chi cục Hải quan quản lý hàng Đầu tư – Gia công thuộc Cục Hải quan Hà Nội). Các phân tích số liệu dừng lại ở giai đoạn 2011–2015, thời điểm hệ thống VNACCS/VCIS và Luật Hải quan 2014 mới được triển khai thí điểm ban đầu.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng đánh giá hiệu quả tổng thể của công tác quản lý rủi ro và giám sát hải quan tự động sau khi triển khai toàn diện Luật Hải quan 2014 và Cơ chế một cửa quốc gia trên phạm vi toàn Cục Hải quan TP Hà Nội hoặc toàn ngành.

Giá trị tham khảo

Tài liệu là nguồn tham khảo thiết thực cho:

  • Sinh viên chuyên ngành Hải quan, Thuế, Kinh tế đối ngoại, Thương mại quốc tế và Quản trị Logistics khi thực hiện khóa luận tốt nghiệp hoặc báo cáo thực tập về quy trình thủ tục hải quan đối với hàng hóa gia công, đầu tư.
  • Công chức hải quan và cán bộ phụ trách xuất nhập khẩu tại các doanh nghiệp gia công để nắm bắt các lỗi vi phạm thường gặp trong khai báo định mức, chậm thanh khoản và quy trình xử lý tờ khai điện tử.

Câu hỏi thường gặp

1. Chi cục Hải quan quản lý hàng Đầu tư – Gia công được thành lập vào thời gian nào và có cơ cấu tổ chức ra sao?
Chi cục được thành lập ngày 18/08/1998 theo Quyết định số 542/QĐ/TCHQ-TCCB của Tổng cục Hải quan trên cơ sở Phòng Giám sát quản lý số 2. Cơ cấu gồm Ban Lãnh đạo Chi cục (1 Chi cục trưởng, 3 Phó Chi cục trưởng) và 4 Đội công tác: Đội Tổng hợp, Đội Thủ tục hải quan XNK hàng đầu tư, Đội Thủ tục hải quan XNK hàng gia công, Đội Quản lý thuế. Tổng biên chế gồm 60 người (50 công chức, 10 nhân viên hợp đồng).

2. Cơ cấu ngành hàng gia công đăng ký tại Chi cục có đặc điểm gì?
Ngành hàng dệt may chiếm tỷ trọng lớn nhất với 45%, tiếp theo là da giày (15%), cơ khí chế tạo (11%), thủ công mỹ nghệ (9%) và các ngành khác (20%). Phần lớn doanh nghiệp thực hiện gia công là doanh nghiệp vừa và nhỏ, làm thuê gia công và sử dụng nguyên phụ liệu do đối tác nước ngoài cung ứng (trị giá nguyên liệu nhập khẩu chiếm tới hơn 98% tổng giá trị sản phẩm).

3. Vì sao có tình trạng 85% doanh nghiệp bị phân luồng đỏ nhưng không phát hiện vi phạm?
Nguyên nhân do quy định bắt buộc doanh nghiệp phải đăng ký định mức nguyên liệu ngay khi tiếp nhận hợp đồng hoặc trước khi nhập khẩu lô hàng đầu tiên. Khi đi vào sản xuất thực tế, định mức thay đổi dẫn đến việc doanh nghiệp phải điều chỉnh số liệu; sự sai lệch giữa định mức khai báo ban đầu và thực tế khiến hệ thống quản lý rủi ro tự động đánh giá có dấu hiệu nghi vấn và chuyển luồng đỏ.

4. Hạ tầng công nghệ thông tin tại Chi cục giai đoạn 2012–2015 gặp những khó khăn gì?
Đường truyền mạng do Chi cục thuê của VDC thường xuyên bị mất kết nối (2–3 lần/tháng), trong khi quy định bắt buộc phải chờ 4 giờ sau khi lỗi mới được chuyển sang khai báo trên giấy. Phần mềm xử lý dữ liệu hải quan điện tử chưa hỗ trợ khai báo nợ các loại chứng từ ngoài C/O và chưa có tính năng tự động cảnh báo thời hạn thanh khoản.


Kết luận

Chuyên đề tốt nghiệp đã hệ thống hóa toàn diện cơ cấu tổ chức, quy trình thủ tục và thực trạng kiểm tra, giám sát hải quan đối với loại hình hàng hóa đầu tư, gia công tại Chi cục Hải quan quản lý hàng Đầu tư – Gia công thuộc Cục Hải quan TP Hà Nội. Nghiên cứu đã chỉ rõ các vướng mắc cốt lõi trong khâu đăng ký định mức, hạ tầng mạng CNTT và việc liên thông Một cửa quốc gia trong giai đoạn 2011–2015. Trên cơ sở đó, hệ thống giải pháp về đào tạo nhân lực, nâng cấp hệ thống VNACCS/VCIS và kiến nghị sửa đổi văn bản pháp luật được đề xuất đồng bộ nhằm đáp ứng mục tiêu hiện đại hóa ngành Hải quan.