Chương 1 Tổng quan về tài trợ dự án Các cuộc thám hiểm thăm dò thương mại đầu thế kỷ 17 và 18 cũng được tài trợ dựa trên dự án. Các nhà đầu tư cung cấp tiền cho công ty Dutch East India và công ty Britist Dutch East India. Theo thời gian, do các hình thức khác trở nên phổ biến hơn, các công ty giảm bớt sử dụng tài trợ dự án. Một vài ứng dụng tài trợ dự án sớm nhất ở Mỹ là ở lĩnh vực tài nguyên thiên nhiên và bất động sản.
Vào những năm 1930, “Wilcat” nhà thám hiểm ở Texas và Oklahoma đã sử dụng cho vay thanh toán sản phẩm để tài trợ cho những dự án khai thác dầu hỏa. Tương tự, những người phát triển bất động sản đã xây dựng và tài trợ cho nhiều tài sản thương mại đứng độc lập trong thế kỷ 20 dựa trên cơ sở dự án. Trong cả hai trường hợp, những người cho vay chỉ truy đòi giới hạn đối vơi dự án. Suốt những năm 1970, tài trợ dự án bắt đầu phát triển thành hình thức hiện đại, tham gia vào nhiều cuộc tìm kiếm nguồn tài nguyên thiên nhiên rộng khắp và tham gia vào việc làm tăng giá năng lượng và nhu cầu tìm kiếm nguồn năng lượng thay thế.
Công ty dầu hỏa Anh cần thêm 495 triệu bảng cho một dự án vào đầu những năm 1970 để khai thác “Forties Field” ở Biến Bắc. Cùng khoảng thời gian đó, Freeport Minerals đã tài trợ cho dự án mỏ đồng Ertsberg ở Indonesia, trong khi đó Conzinc Riotionto của Úc đã tài trợ cho dự án mỏ đồng Bougainville ở Papua New Guinea. Sự xuất hiện của tài trợ dự án hiện đại đã thực sự bắt đầu, bởi hầu hết các khoản tài trợ vào đầu những năm 1980 ở Mỹ đã mở rộng sang lĩnh vực xây dựng các nhà máy điện năng lượng mới. Sự kiên trì giá năng lượng cao trong suốt những năm 1970 đã thúc đẩy Quốc hội Mỹ thông qua đạo luật quy định chính sách dịch vụ công ích (PURPA) vào năm 1978 như một cách khuyến khích đầu tư vào các nhà máy năng lượng thay thế.
Đạo luật này yêu cầu các công ty dịch vụ công ích địa phương mua tất cả sản phẩm đầu ra từ các nhà sản xuất có chất lượng theo hợp đồng dài hạn. Tài trợ dự án đã trở thành một cấu trúc được lựa chọn để tài trợ các nhà máy điện mới với các hợp đồng mua điện dài hạn. Nhà đầu tư vốn chủ sở hữu tạo mới các công ty độc lập để sở hữu các nhà máy điện và đã tài trợ miễn truy đòi. Những nhà máy này được gọi là các nhà sản suất điện độc lập (IPPs).
Tài trợ dự án thu hút đặc biệt đối với các IPP bởi vì nó cung cấp nợ giới hạn hoặc không truy đòi đối với người khởi xướng. Những người cho vay hài lòng với các điều khoản được thỏa thuận bởi vì các IPP đã có dòng tiền dài hạn từ các công ty có uy tín. Trong suốt những năm 1980, tài trợ dự án được sử dụng tới hai phần ba trong tồng số các dự án đầu tư đã tài trợ, Vì lý do này, tài trợ dự án có tính thiết yếu tương tự như tài trợ năng lượng ở Mỹ đến đầu những năm 1990. Tài trợ dự án hiện đại lúc đầu là sử dụng các trái phiếu đô thị miễn thuế ở khu vực công để tài trợ đường sá, các nhà máy xử lý nước, và các dự án hạ tầng khác.
Trước những năm đầu 1990, nhiều đô thị bắt đầu kết nối tài trợ dự án với khu vực tư nhân. 11 Chương 1 Tổng quan về tài trợ dự án Khi mục tiêu được xác định là khuyến khích việc quản lý tốt hơn và khuyến khích chia sẻ rủi ro hiệu quả hơn, những cấu trúc công-tư được sử dụng để mở rộng sự hợp tác do ngân sách chính phủ bị giới hạn. Quan hệ đối tác công tư (được việt tắt là PPP) đã trở nên phổ biến trong những năm gần đây. Chẳng hạn Vương quốc Anh đã thiết lập sáng kiến tài trợ tư nhân (PFI) vào năm 1992 bao gồm việc tài trợ và quản lý các dự án hạ tầng khu vực tư nhân.
Trước năm 1999, Vương Quốc Anh đã ký các hợp đồng cho hơn 250 dự án PFI với tổng giá trị 16 tỷ bảng Anh. Trên cơ sở những thành công của nó, chính phủ Anh đã xác định hơn 1000 dự án khác thuộc chương trình PFI, bao gồm các kế hoạch đối với bệnh viện, trường học, và nhà tù. Trong những năm gần đây, nhiều nước như Úc, Ailen, Ý và Nam Phi đã thành lập chương trình PFI tương tự. Từ đầu những năm 1990, tư nhân hóa và toàn cầu hóa đã khuyến khích việc sử dụng tài trợ dự án ở các các nước đang phát triển và các nước phát triển.
Tư nhân hóa các công ty nhà nước đã trở nên phổ biến hơn, đặc biệt ở các nước đang phát triển. Từ 1990 đến 1996, doanh số tư nhân hóa ở những thị trường mới nổi tổng cộng hơn 155 tỷ USD, đạt 25 tỷ USD chỉ trong năm 1996. Khi các chính phủ quan tâm đến kinh doanh, các công ty tư nhân đã tham gia để lắp đầy chỗ trống. Các công ty tư nhân mới như YPF (công ty gas và dầu sở hữu nhà nước ở Argentina) đã sử dụng tài trợ dự án để tài trợ cho nhiều dự án khác nhau.
Cuối cùng, toàn cầu hóa thị trường sản phẩm đã làm tăng quy mô lấp đầy cho nhiều ngành công nghiệp, khi mà sự cạn kiệt các nguồn tài nguyên hiện tại đã thúc đẩy các công ty tìm đến các nơi xa hơn để tìm kiếm các nguồn tài nguyên mới. Kết quả của những thay đổi này, những người khởi xướng đã bắt đầu sử dụng tài trợ dự án cho nhiều loại tài sản khác nhau ở nhiều quốc gia khác nhau. Tài trợ dự án không còn nhiều đối với các dự án năng lượng ở Mỹ. Chẳng hạn như khoản tài trợ 3,7 tỷ USD cho nhà máy năng lượng Paiton ở Indonneisa (1996), 217 triệu USD đường óng dẫn dầu Certragas ở Colombia (1994), 57 triệu USD mỏ vàng Andocollo ở Chi lê (1994), 1,6 tỷ USD dự án viễn thông FLAG (1995), và 3,4 tỷ USD đường cao tốc Bắc Nam Malaysia.2 Tài Trợ Dự Án ở Các Thị Trường Đang Phát Triển Ấn Độ Nhận thức được các lợi ích của mô hình đối tác công tư (PPP), từ những năm 1990 cho đến nay, Ấn Độ là quốc gia Châu Á đã áp dụng PPP rộng rãi cho các dự án phát triển cơ sở hạ tầng.
Tại cuộc hội thảo về cấu trúc PPP trong đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng của Ấn Độ vào tháng 4/2006, ông Montek Singh Ahluwalia – Phó Chủ tịch Ủy ban Kế hoạch Đầu tư Ấn Độ đã đánh giá rằng, sự tham gia của nguồn vốn tư nhân và 12 Chương 1 Tổng quan về tài trợ dự án cách quản lý hiệu quả của họ, với những kỹ thuật tiên tiến đã thực hiện đánh giá tốt hơn về rủi ro thị trường, ước lượng được những thay đổi trong nhu cầu và đề ra những giải pháp phù hợp, do đó, làm cho tính hữu dụng của các công trình dự án tăng lên và hiệu quả hơn, giải phóng áp lực cho nguồn vốn của chính phủ và tận dụng được các nguồn vốn khác trong xã hội. Trung Quốc Cũng như nhiều nền kinh tế khác, chính phủ Trung Quốc cũng không đủ ngân sách để đầu tư cho hệ thống hạ tầng giao thông đang bùng nổ ở quốc tỉ dân này. Vì thế, nhiều dự án giao thông đường bộ đã được thực hiện theo cấu trúc PPP. Theo nghiên cứu của Qiao và các cộng sự về các dự án PPP được thực hiện tại Trung Quốc trong thời gian qua thì các nhân tố sau đây đã tạo nên tính thành công cho các dự án đó là dự án phù hợp, kinh tế – chính trị ổn định, mức thuế phù hợp, phân bổ rủi ro hợp lý, lựa chọn các nhà thầu phụ phù hợp, kiểm soát và quản lý các dự án một cách chặt chẽ, chuyển nhượng công nghệ mới.
Tuy nhiên, cơ cấu tài trợ của nhiều dự án đường bộ theo hình thức PPP ở Trung Quốc là dựa trên các khoản vay và trái phiếu quốc tế, điều này tạo ra rủi ro tỷ giá cho Chính phủ, mức phí thu cao so với thu nhập bình quân đầu người. Do đó, các lợi ích kinh tế và tài chính để tạo tính hấp dẫn cho đầu tư vẫn chưa đạt được. Việt Nam Ở Việt Nam, tài trợ dự án cũng đã được thực hiện từ thập niên 90 thế kỷ XX dưới hình thức các dự án BOT (Xây dựng – Kinh doanh – Chuyển giao), BTO (Xây dựng – Chuyển giao – Kinh doanh) và BT (Xây dựng – Chuyển giao). Nghị định đầu tiên của chính phủ về hình thức đầu tư theo mô hình PPP là Nghị định 87/CP ngày 23 tháng 11 năm 1993 về quy chế đầu tư theo hình thức hợp đồng BOT áp dụng đối với các nhà đầu tư nước ngoài.
Các doanh nghiệp Việt Nam muốn tham gia vào các Hợp đồng BOT phải được cơ quan có thẩm quyền cho phép. Nghị định này không quy định về việc tham gia vốn nhà nước vào các dự án BOT với các nhà đầu tư nước ngoài mà chỉ có các quy định về ưu đãi và bảo đảm đầu tư của nhà nước. Đến năm 1997, Chính phủ ban hành Nghị định 77/CP về Quy chế đầu tư theo hình thức hợp đồng BOT áp dụng cho đầu tư trong nước. Nghị định này quy định nguồn vốn thực hiện dự án BOT có thể bao gồm vốn góp của ngân sách nhà nước và vốn góp của doanh nghiệp, cá nhân, kể cả vốn vay trong và ngoài nước.
Đến năm 1998, Chính phủ ban hành Nghị định 62/1998/NĐ-CP về quy chế đầu tư theo hợp đồng BOT, hợp đồng BTO và hợp đồng BT áp dụng cho đầu tư nước ngoài tại Việt Nam thay thế Nghị định 87/CP. Nghị định này cũng không quy định gì về việc 13 Chương 1 Tổng quan về tài trợ dự án dùng vốn nhà nước để tham gia vào các dự án BOT với các nhà đầu tư nước ngoài mà chỉ có các quy định về ưu đãi và bảo đảm đầu tư như nghị định 87/CP. Đến năm 2007, chính phủ ban hành Nghị định 78/2007/NĐ-CP về đầu tư theo hình thức Hợp đồng BOT, Hợp đồng BTO, Hợp đồng BT thay thế Nghị định 77/CP và Nghị định 62/1998/NĐ-CP.