ĐẶT VẤN ĐỀ Việt Nam là nƣớc có khí hậu nóng ẩm mƣa nhiều đây là điều kiện thuận lợi cho các loài thực vật sinh trƣởng và phát triển tạo nên một thảm thực vật vô cùng phong phú và đa dạng với rất nhiều ứng dụng trong các lĩnh vực. Trong cuộc sống hiện đại ngày nay, dƣợc phẩm tổng hợp rất phong phú và đa dạng, có tác dụng nhanh, thời gian điều trị ngắn nhƣng nếu sử dụng lâu dài sẽ gây nhiều tác dụng phụ ảnh hƣởng đến sức khỏe của ngƣời bệnh. Do đó, việc dùng các dƣợc phẩm thiên nhiên đang ngày đƣợc phổ biến. [1] Trong Đông y, cây Húng quế là dƣợc liệu có nhiều hoạt tính sinh học quý.
Húng quế là loại thảo mộc ẩm thực đƣợc sử dụng thƣờng xuyên, tác dụng của Húng quế rất đa dạng có nhiều hoạt chất có tác dụng trong phòng và điều trị bệnh hiệu quả. Ngoài ra, cây đƣợc dùng làm thuốc để chữa cảm lạnh, sốt, ho, viêm xoang, đau đầu, thấp khớp, mụn cóc, giun, suy thận,… [2], [3], [4], [5]. Các nghiên cứu cho thấy tinh dầu cây húng quế ngoài khả năng kháng khuẩn, kháng nấm, chống oxy hóa còn có khả năng chống ung thƣ cổ tử cung và ung thƣ biểu mô thanh quản (Hep-2) [1], [6], [7]. Xu hƣớng phát triển của thế giới là tìm kiếm các loại tinh dầu tự nhiên có hoạt tính dùng để xua, diệt côn trùng, đặc biệt là trong phòng chống muỗi đốt để phòng chống các bệnh do muỗi gây ra nhằm thay thế các chất hóa học.
Nhiều loại tinh dầu thực vật nhƣ: sả, đinh hƣơng, khuynh diệp, bạc hà, … đƣợc báo cáo có tác dụng chống muỗi, an toàn cho ngƣời sử dụng, thân thiện với môi trƣờng [8], [9]. Ở Việt Nam, tinh dầu Húng quế chƣa đƣợc nghiên cứu tác dụng xua muỗi mặc dù trong dân gian có tƣơng truyền về tác dụng xua đuổi côn trùng. Vì vậy, để chứng minh một cách có khoa học về tác dụng cũng nhƣ góp phần phát triển sản phẩm từ tinh dầu húng quế, chúng tôi tiến hành đề tài: “Đánh giá tác dụng xua muỗi của tinh dầu cây Húng quế Ocimum basilicum L. trên động vật thực nghiệm và trên người” với ba mục tiêu chính sau đây: 2 1.
Đánh giá tác dụng kích ứng da và ảnh hưởng của tinh dầu cây Húng quế Ocimum basilicum L. đến nhịp thở, nhịp tim, nhiệt độ của thỏ thực nghiệm. Đánh giá tác dụng xua muỗi của tinh dầu cây Húng quế Ocimum basilicum L. trên chuột thực nghiệm.
Đánh giá tác dụng xua muỗi và tác dụng không mong muốn của tinh dầu cây Húng quế Ocimum basilicum L. trên người. 3 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. TỔNG QUAN VỀ CÂY HÚNG QUẾ + Tên gọi: Tên khoa học: Ocimum basilicum L.
Tên tiếng Anh: Sweet basil (Anh), basilic aux sauces (Pháp) Tên khác: Húng chó, Húng giổi, Rau é, É tía, É quế. Giới thực vật: Plantae Ngành Ngọc Lan: Magnoliophyta Lớp Ngọc Lan: Magnoliophyta Phân lớp Hoa Môi: Lamiidae Bộ Hoa Môi: Lamiales Họ Bạc hà: Lamiaceae Chi: Ocimum Loài: Ocimum basilicum[10]. Cây Húng quế còn gọi là húng giổi, rau é, é tía, é quế, hƣơng thái, pak bua la phe, phak y tou (Lào) mrea preou ( Campuchia), grand basilic, basilic commun [11]. + Phân bố, thu hái, chế biến Ngƣời ta cho rằng cây này vốn có nguồn gốc ở Ấn Độ và Trung Quốc, nhƣng hiện nay đƣợc trồng ở nhiều nƣớc nhiệt đới và ôn đới thuộc Châu Á, Châu Âu (nhƣ Pháp, Đức, các nƣớc thuộc Liên Xô cũ, Ý, Tây Ban Nha,.
Tại những nƣớc này thƣờng trồng với mục đích nhƣ hái lá và toàn cây cất tinh dầu dùng làm thuốc hay trong công nghiệp chất thơm. Ở nƣớc ta, tại miền Bắc trƣớc đây chỉ thấy trồng lấy lá và ngọn làm gia vị. Từ năm 1975, tại một số tỉnh đã trồng trên quy mô lớn để cất tinh dầu Húng quế dùng trong công nghiệp chất thơm ở trong và ngoài nƣớc. Ở miền Nam, ngoài mục 4 đích nhƣ làm gia vị nhƣ ở miền Bắc, ngƣời ta còn thu hoạch quả (gọi nhầm là hạt- Fructus ocimi) để ăn cho mát và giải nhiệt gọi là hạt é.
Để làm thuốc, ngƣời ta chỉ hái lá và ngọn có hoa ( Herba ocimi) phơi hay sấy khô. Để cất tinh dầu ngƣời ta hái toàn cây, cây tƣơi hay để hơi héo mới cất [11]. Cây Húng quế Hình 1. Hoa Húng quế + Thành phần hóa học Trong cây Húng quế có từ 0.8% tinh dầu, tinh dầu màu vàng nhạt, thơm nhẹ, dễ chịu.
Tùy theo nơi trồng các chỉ số hóa lý có thể thay đổi. Tinh dầu Húng quế Việt Nam cất tại một số địa phƣơng chứa tới 80- 90% metylchavicol. Quả cây Húng quế (thƣờng gọi là hạt Húng quế, hạt é) chứa chất nhầy, khi ngâm vào trong nƣớc thì sẽ nở ra bao quanh hạt thành một màng nhầy trắng [11]. Húng quế hiện nay là một loại cây chuyên dùng để sản xuất tinh dầu.
Phần trên mặt đất của cây Húng quế chứa tinh dầu có hàm lƣợng cao nhất lúc cây đã ra hoa. Lƣợng tinh dầu chứa trong cây Húng quế khá cao là 0,5-1,7%, trong tinh dầu có linalool (60%), cineole, estragole (methyl-chavicol) cùng một số chất khác nhƣ Germacrene D, Tau-cadinol, δ-Gurjunen, δ-Cadinene… Ngoài tinh dầu, trong lá và hoa còn chứa protein, carbonhydrat và một lƣợng nhỏ Vitamin A và Vitamin C. Cho tới nay ngƣời ta đã khám phá hơn 140 hợp chất khác nhau, trong đó có trên 5 30 hợp chất monoterpen, khoảng 20 carboxylic acid, 11 aldehyd mạch thẳng, khoảng 20 hợp chất có mùi thơm và khoảng 20 hợp chất khác [12]. Cấu trúc hóa học của Linalool Hình 1.
Cấu trúc hóa học của Cineole Hình 1. Cấu trúc hóa học của Estragole 6 + Công dụng và liều dùng: Bộ phận dùng: Toàn cây và hạt (Herba et Semen Ocimi) Ở nƣớc ta trƣớc đây Húng quế chỉ thấy đƣợc trồng làm gia vị. Tại miền Nam, ngoài công dụng làm gia vị ngƣời ta còn thu hoạch hạt để ăn cho mát, hơi có tác dụng chống táo bón: cho từ 6 đến 12g hạt vào nƣớc thƣờng hay nƣớc đƣờng. Đợi cho chất nhầy nở ra rồi uống.
Tại các nƣớc khác ngƣời ta trồng Húng quế chủ yếu làm nguồn cây cho nguyên liệu cất tinh dầu, hoặc lấy cây sắc uống chữa sốt, làm cho ra mồ hôi, chữa đau dạ dày, ăn uống không tiêu, thông tiểu, nấu nƣớc súc miệng và ngậm chữa đau, sâu răng. Mỗi ngày uống từ 10 đến 25g dƣới dạng thuốc sắc hay thuốc pha. Hạt có thể dùng đắp lên mắt đau đỏ. Từ năm 1975, tại miền Bắc và một số tỉnh đã trồng Húng quế với mục đích dùng cây cất tinh dầu dùng trong công nghiệp chất thơm trong nƣớc và xuất khẩu [11].
+ Cây Húng quế trong Y học cổ truyền Việt Nam: Húng quế có vị cay, tính ấm, vào 2 kinh phế, tâm, có tác dụng làm ra mồ hôi, giải cảm, tán máu ứ, giảm đau. Húng quế đƣợc dùng phổ biến làm rau gia vị trong bữa ăn. Trong y học, Húng quế chữa cảm cúm, đầy bụng khó tiêu, vấp ngã hay bị đòn sƣng đau. Dùng uống hoặc giã đắp.
Hạt dùng làm thức giải khát nhƣ chè và có tác dụng nhuận tràng [10]. Cây Húng quế đƣợc xếp vào các cây thuốc và vị thuốc chữa cảm sốt thuộc nhóm tân ôn giải biểu của thuốc y học cổ truyền[11]. Giải biểu là một phƣơng pháp điều trị thƣờng dùng trong y học cổ truyền, trên cơ sở sử dụng những bài thuốc có các vị thuốc mang tính vị : Tân, Tán, khinh, Tuyên làm chủ dƣợc, để nhằm mục đích giải tà chứng thông qua tác dụng phát hãn làm ra mồ hôi. 7 Bệnh ở biểu chứng rất đa dạng và phong phú, khi tà khí ở bên ngoài xâm phạm vào cơ biểu, trên lâm sàng thƣờng biểu hiện ở thể phong hàn hay thể phong nhiệt.
Nếu là thể phong hàn biểu chứng thì cần phải dùng pháp điều trị tân ôn giải biểu. Nếu là thể phong nhiệt biểu chứng thì pháp điều trị là tân lƣơng giải biểu [13]. Thuốc giải biểu là những thuốc dùng để đƣa ngoại tà ( phong, hàn, thấp, nhiệt) ra ngoài bằng đƣờng mồ hôi, chữa những bệnh còn ở bên ngoài (biểu), làm cho bệnh không xâm nhập vào trong (lý). Các vị thuốc này đa số vị cay, cay có tác dụng phát tán, gây ra mồ hôi và qua đƣờng này đƣa tà khí ra ngoài, vì vậy còn gọi là thuốc giải biểu phát hãn hay phát tán giải biểu.
Phát tán phong hàn hay Tân ôn giải biểu dùng để chữa cảm mạo do lạnh, ho hen do lạnh, đau các cơ, đau dây thần kinh do lạnh, một số bệnh dị ứng do lạnh [14]. TỔNG QUAN TINH DẦU- TINH DẦU HÚNG QUẾ + Định nghĩa Tinh dầu Khái niệm tinh dầu để chỉ các chất lỏng không tan trong nƣớc chứa các hợp chất hữu cơ tan lẫn vào nhau, dễ bay hơi và có mùi thơm đặc trƣng. Tinh dầu thu đƣợc từ nguồn nguyên liệu thực vật bằng quá trình chiết hơi nƣớc, chƣng cất khô (dry distillation) hoặc bởi một quá trình cơ học phù hợp mà không cần dùng nhiệt (ép hoặc chiết bằng dung môi). Khái niệm tinh dầu cũng đƣợc dùng để chỉ các loại dầu dễ bay hơi (volatile oil), dầu nhẹ (ethereal oil).
Về thành phần hóa học, tinh dầu chứa tecpen và các dẫn xuất có chứa oxi của tecpen nhƣ rƣợu, andehyt, ete, este, lacton… Mặc dù tinh dầu chứa nhiều cấu tử nhƣ vậy nhƣng thƣờng chỉ có một vài cấu tử chính có giá trị về mùi đặc trƣng cho tinh dầu đó. Tinh dầu đƣợc sử dụng trong nƣớc hoa, mỹ phẩm, xà phòng và các sản phẩm khác, đƣợc dùng làm gia vị thực phẩm hoặc hƣơng vị đồ uống; ngoài ra còn đƣợc dùng làm nguyên liệu để tách, chuyển hóa hoặc tổng hợp nhiều chất thơm quan trọng đƣợc ứng dụng rộng rãi trong công nghiệp [15]. 8 + Lịch sử nghiên cứu về tinh dầu Tinh dầu đƣợc sử dụng từ rất lâu đời. Dựa theo những văn bản cổ để lại thì từ thế kỷ thứ 9, tinh dầu đã đƣợc thu bằng phƣơng pháp chƣng cất: nguyên liệu thực vật đƣợc xử lý với ancol và sau đó đƣợc chƣng cất với nƣớc để thu đƣợc nƣớc thơm.
Vào thế kỷ thứ 16, khái niệm dầu béo và tinh dầu cũng nhƣ các phƣơng pháp để thu nhận chúng từ nƣớc thơm đã đƣợc xác định. Ngay từ thời gian này, tinh dầu đã đƣợc thƣơng mại hóa với các mục tiêu mỹ phẩm, công nghiệp và chữa bệnh. Tuy nhiên, đến cuối thế kỷ 19, các tiến bộ trong hóa học đã có thể phân lập các phân tử có mùi thơm và sau đó tổng hợp chúng để sử dụng trong điều trị, nƣớc hoa và công nghiệp.