ĐẶT VẤN ĐỀ Đái tháo đường là một trong những vấn đề y tế toàn cầu cấp bách của thế kỷ 21, là gánh nặng tài chính cho chăm sóc y tế cản trở quá trình đạt mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt ở các nước thu nhập thấp và trung bình. Trên toàn thế giới, năm 2015, tỷ lệ người bị đái tháo đường chiếm khoảng gần 6 - 8% dân số, chi phí y tế toàn cầu cho việc điều trị đái tháo đường và các biến chứng là 673 tỷ USD. Số bệnh nhân mắc bệnh dự báo tăng 55% vào năm 2040, với chi phí y tế toàn cầu lên tới 802 tỷ USD. Tại Việt Nam, năm 2015 có khoảng 4 triệu người mắc bệnh, năm 2040 số người mắc bệnh lên tới 6 triệu người.
Chi phí y tế trên đầu người là 162,7 USD [19]. Chính vì vậy, cần phải có những nghiên cứu để phát triển các sản phẩm hỗ trợ điều trị bệnh đái tháo đường, đáp ứng nhu cầu thực tế của người dân. Trên thế giới, rất nhiều nước cũng đã nghiên cứu và sử dụng một số loài thảo dược trong chăm sóc sức khỏe nói chung và điều trị đái tháo đường tuýp 2 nói riêng. Tại Việt Nam, nhu cầu sử dụng các thuốc điều trị đái tháo đường rất cao, nhu cầu phát triển nguồn nguyên liệu trị bệnh đái tháo đường là rất lớn.
Do đó, cần có nhiều những nghiên cứu, sàng lọc, lựa chọn các cây thuốc theo hướng điều trị đái tháo đường, nhằm bổ sung những tài liệu phục vụ cho việc hỗ trợ điều trị bệnh đái tháo đường tuýp 2. Theo kinh nghiệm dân gian, một số cây thuốc được nhân dân ta sử dụng từ lâu với mục đích điều trị bệnh đái tháo đường tuýp 2. Trong đó, Thài lài trắng được sử dụng và đã có một số nghiên cứu bước đầu về tác dụng hạ glucose huyết [4]. Dược liệu này mọc phổ biến ở Việt Nam như tại các tỉnh: Hà Nội (Tam Đảo), Quảng Trị, Long An,… có khả năng thích nghi cao với điều kiện khí hậu thổ nhưỡng và dễ sinh trưởng phát triển [11], [18], [30].
Vì vậy, tiềm năng cho việc phát triển nguồn nguyên liệu và tạo ra sản phẩm từ cây thuốc này là rất lớn. Tuy nhiên, những nghiên cứu về tác dụng hạ đường 1 huyết của cây Thài lài trắng tại Việt Nam cũng như trên thế giới còn hạn chế. Để đưa cây Thài lài trắng có nhiều ứng dụng thực tiễn trong cuộc sống, góp phần chăm sóc sức khỏe cho người dân, đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm thực vật, thành phần hóa học và tác dụng hạ đường huyết từ phần trên mặt đất của cây Thài lài trắng (Commelina diffusa Burm.)” được nghiên cứu với những mục tiêu sau: 1. Nghiên cứu đặc điểm thực vật của cây Thài lài trắng.
Chiết xuất, phân lập và xác định cấu trúc 2 - 3 hợp chất từ phân đoạn ethyl acetat của cây Thài lài trắng. Đánh giá độc tính cấp và tác dụng hạ đường huyết in vivo từ phân đoạn ethyl acetat của cây Thài lài trắng. Bệnh đái tháo đường 1. Tình hình mắc bệnh đái tháo đường 1.
Tình hình mắc bệnh đái tháo đường trên thế giới Đái tháo đường là một trong những bệnh không lây nhiễm phổ biến trên toàn cầu. Năm 2015, trên toàn thế giới có 415 triệu người lớn đang sống với bệnh đái tháo đường. Dự đoán vào năm 2040, con số này sẽ tăng tới khoảng 642 triệu người, hay nói cách khác, trong 10 người lớn sẽ có 1 người mắc đái tháo đường. Trong đó, đái tháo đường tuýp 2 chiếm khoảng 85 - 95% tổng số người mắc bệnh đái tháo đường [108].
Đái tháo đường là nguyên nhân gây tử vong đứng thứ 4 trên thế giới, gây giảm tuổi thọ trung bình từ 5 đến 10 năm, là nguyên nhân hàng đầu gây mù loà, cắt cụt chi không do chấn thương và suy thận giai đoạn cuối. Cứ 10 giây lại có một người chết do nguyên nhân đái tháo đường và các biến chứng. Chi phí cho điều trị đái tháo đường của toàn thế giới năm 2007 ước tính 232 tỷ USD, dự báo tăng lên 302 tỷ USD vào năm 2025 [6], [100]. Bệnh đái tháo đường tăng nhanh ở các nước đang phát triển như Ấn Độ, Trung Quốc.
Do sự tăng lên của việc tiêu thụ thực phẩm giàu năng lượng, lối sống ít vận động và quá trình đô thị hóa nên số người bị đái tháo đường càng gia tăng. Tỷ lệ đái tháo đường tại các nước thuộc khu vực Đông Nam Á cũng tương đối cao [78], [96]. Tình hình mắc bệnh đái tháo đường tại Việt Nam Tại Việt Nam, theo báo cáo của Hiệp hội đái tháo đường thế giới (IDF), trong năm 2015 đã có 3,5 triệu người mắc bệnh, và con số này được dự báo sẽ tăng lên 6,1 triệu vào năm 2040 [19]. Theo kết quả của điều tra quốc gia năm 2008, tỷ lệ bệnh đái tháo đường tuýp 2 trong lứa tuổi từ 30 - 69 chiếm khoảng 3 5,7% dân số, nếu chỉ ở khu vực thành phố, khu công nghiệp tỷ lệ bệnh từ 7,0% đến 10,0% [6].
Nghiên cứu của Đỗ Thị Ngọc Diệp và cộng sự [12] năm 2008 trên đối tượng 30 - 69 tuổi trong hai cuộc điều tra trên cùng một cộng đồng Thành phố Hồ Chí Minh vào thời điểm khác nhau là 2001 và 2008 cùng một phương pháp do trung tâm dinh dưỡng tiến hành. Kết quả cho thấy tỷ lệ đái tháo đường tuýp 2 năm 2008 là 7,04%, và tỷ lệ này tăng dần theo nhóm tuổi. Điều đáng lo ngại hơn là bệnh xuất hiện ở lứa tuổi trẻ ngày càng nhiều. Tỷ lệ thừa cân, béo phì đang tăng nhanh ở lứa tuổi thiếu niên là mối lo ngại cho bệnh đái tháo đường tuýp 2.
Trong khi đó, 75,5% số người được hỏi đều có kiến thức rất thấp về bệnh đái tháo đường [3]. Nhiều người đang sống với bệnh đái tháo đường tuýp 2 trong một thời gian dài mà không nhận biết được tình trạng bệnh của họ. Theo kết quả điều tra năm 2015 của Bộ Y tế, 68,9% người tăng đường huyết chưa được phát hiện. 85% người chỉ phát hiện bệnh khi đã có biến chứng nguy hiểm.
Đây thực sự là khoảng trống lớn về sự chênh lệch giữa nhu cầu và cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe. Tuy nhiên, thực hiện lối sống lành mạnh có thể phòng ngừa được 70% đái tháo đường tuýp 2 và có thể giúp giảm nguy cơ biến chứng của đái tháo đường [108]. Nguyên nhân gây bệnh đái tháo đường tuýp 2 Đái tháo đường tuýp 2 liên quan đến: Tình trạng rối loạn tiết insulin và kháng insulin. Ảnh hưởng của di truyền và môi trường.
Ảnh hưởng của sự phát triển lúc bào thai và tuổi thiếu niên. 4 Tỉ lệ phù hợp trẻ sinh đôi cùng trứng bị đái tháo đường tuýp 2 là 90 - 100%. Liên quan trực hệ cùng bị đái tháo đường. Các chủng tộc khác nhau có tỷ lệ mắc bệnh đái tháo đường tuýp 2 khác nhau [54], [93].
Cơ chế bệnh sinh đái tháo đường tuýp 2 Đái tháo đường tuýp 2 liên quan đến sự thiếu hụt insulin tương đối do rối loạn tiết insulin và hiện tượng kháng insulin [54], [93]. Trong đó rối loạn tiết insulin và kháng insulin có liên quan mật thiết với nhau và đều xảy ra trước khi xuất hiện các biểu hiện lâm sàng của đái tháo đường (giai đoạn tiền đái tháo đường) [26], [53]. Bệnh nhân đái tháo đường tuýp 2 không thừa cân có biểu hiện giảm insulin là chính, ngược lại bệnh nhân có kèm béo phì thì tình trạng kháng insulin lại là chính [33]. Rối loạn bài tiết insulin Ở bệnh nhân kháng insulin, trong giai đoạn đầu để bù lại hiện tượng kháng insulin thì đảo tụy tăng tiết insulin hoặc tăng khối lượng của tụy [10].
Nhưng nếu glucose huyết vẫn tiếp tục tăng thì ở giai đoạn sau, khả năng tiết insulin đáp ứng với glucose càng giảm sút [93]. Bệnh đái tháo đường tuýp 2 chỉ có những biểu hiện lâm sàng khi tế bào đảo tụy bị tổn thương, không còn tiết insulin, không đủ khả năng tiết insulin để đưa glucose huyết về giới hạn bình thường [37]. Các nghiên cứu đã chứng minh ảnh hưởng của một số gen đến các bất thường trong tiết insulin như insulin receptor substrate-1 (IRS-1) gen, glucagon receptor (GCGR) gen, sulfonylurea receptor (SUR) gen,… Tuy nhiên, vẫn chưa thể khẳng định được là gen nào đóng vai trò quan trọng [10], [34]. 5 Sự suy giảm chức năng tế bào đảo tụy trong đái tháo đường tuýp 2 còn do: Giảm khối lượng tế bào đảo tụy: tăng quá trình chết theo chương trình (apoptosis) là nguyên nhân chính dẫn đến giảm khối lượng tế bào đảo tụy ở bệnh nhân đái tháo đường tuýp 2 [20], [26].
Độc tố do tăng glucose: tăng glucose mạn tính ảnh hưởng trực tiếp đến dẫn truyền tín hiệu, đến các biểu hiện gen và đến cấu trúc của tế bào đảo tụy, đồng thời gây tăng stress oxy hóa trong tế bào đảo tụy dẫn đến suy giảm chức năng tiết insulin [45], [60]. Kiệt quệ tế bào đảo tụy: tăng glucose huyết mạn tính kích thích tế bào đảo tụy tiết insulin trong thời gian dài dẫn đến kiệt quệ các tế bào đảo tụy, giảm đáp ứng của các tế bào này với sự kích thích của glucose [26], [33], [93]. Độc tố do tăng lipid: tăng nồng độ acid béo tự do, thường gặp ở bệnh nhân đái tháo đường tuýp 2 béo phì, dẫn đến giảm sản xuất insulin từ proinsulin và ảnh hưởng đến chức năng tiết insulin của tụy. Tuy nhiên cơ chế cụ thể vẫn chưa rõ ràng [36].
Sự tích lũy các amyloid: amyloid là polypeptid có khả năng gây độc đối với đảo tụy, gây suy giảm chức năng tiết insulin [27]. Giảm tiết insulin do giảm tiết glucagon like peptid-1 (GLP-1) hoặc giảm tác dụng kích thích tiết insulin của glucose-dependent insulinotropic polypeptid (GIP): ở bệnh nhân đái tháo đường tuýp 2 mức độ nhạy cảm của GLP-1 rất ít thay đổi [41]. Kháng insulin 6 Kháng insulin là tình trạng giảm hoặc mất tính nhạy cảm của cơ quan đích với insulin [36]. Kháng insulin cũng là nguyên nhân gián tiếp dẫn đến suy giảm chức năng tiết insulin của tế bào đảo tụy.
Ở mức độ tế bào, kháng insulin có thể do các nguyên nhân trước receptor, tại receptor hoặc hậu receptor. Các khiếm khuyết trước receptor như bất thường của insulin hoặc do kháng thể kháng insulin rất ít khi xảy ra. Hơn nữa, khả năng insulin gắn vào receptor cũng ít khi thay đổi [34]. Đối với đái tháo đường tuýp 2, kháng insulin chủ yếu do các bất thường trong con đường truyền tin nội bào của insulin [10], [36].