MỞ ĐẦU Ngày nay, việc nghiên cứu hoạt tính sinh học của các hợp chất có nguồn gốc thiên nhiên ngày càng đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển về lĩnh vực Y Dược phục vụ cuộc sống con người, bởi các dược liệu chứa nhiều hoạt chất có hoạt tính sinh học, cấu trúc hóa học rất đa dạng và phong phú. Trong nhiều trường hợp, các hợp chất tự nhiên còn có cấu trúc hóa học đặc biệt nằm ngoài sự đánh giá của con người. Để lĩnh vực Y Dược ngày càng phát triển và có nhiều ứng dụng thực tế hơn phục vụ Y, Sinh, Nông nghiệp, … các nhà khoa học đã chú trọng nhiều đến việc tìm kiếm những hoạt chất từ thiên nhiên với định hướng có thể tổng hợp hay chiết xuất những hoạt chất khả thi mục đích tạo sản phẩm mới trong việc hỗ trợ điều trị nhiều bệnh nan y và công tác chăm sóc sức khỏe cộng đồng. Đồng thời, các kết quả nghiên cứu sẽ góp phần giải thích rõ hơn về tác dụng chữa bệnh của các cây thuốc cổ truyền dân tộc vẫn hay được sử dụng trong dân gian.
Trên thế giới, nhiều công trình nghiên cứu về hóa học và tác dụng sinh học các loài thực vật họ Schisandraceae, các kết quả nghiên cứu cho biết nhiều hợp chất phân lập được thể hiện phổ hoạt tính khá rộng như: khả năng gây độc trên một số dòng tế bào ung thư, kháng HIV, bảo vệ gan,… Các kết quả này mở ra những hướng nghiên cứu khả quan trong lĩnh vực dược phẩm hỗ trợ và điều trị các mầm bệnh mới cũng như các bệnh hiểm nghèo. Nhằm đóng góp một phần hiểu biết thêm về thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của một số loài thực vật thuộc chi Kadsura và Schisandra họ Schisandraceae ở Việt Nam, chúng tôi thực hiện đề tài với nội dung: “Nghiên cứu thành phần hóa học và hoạt tính sinh học một số loài thực vật thuộc chi Kadsura và Schisandra, họ Schisandraceae ở Việt Nam”. Mục tiêu nghiên cứu: 1. Phân lập và xác định cấu trúc các hợp chất từ các bộ phận khác nhau của loài Kadsura heteroclita, Kadsura induta, Kadsura coccinea, Schisandra perulata và Schisandra sphenanthera thu ở Việt Nam.
Thăm dò hoạt tính gây độc trên một số dòng tế bào ung thư: buồng trứng (OVCAR), đại tràng (HT-29) và phổi (A-549) của các hợp chất sạch phân lập được. Giới thiệu chung về thực vật họ Ngũ vị (Schisandraceae) Họ Schisandraceae gồm có 2 chi, là chi Ngũ vị tử (Schisandra) và chi Na rừng (Kadsura) với tổng cộng khoảng 50 loài, chủ yếu được tìm thấy trong các khu vực nhiệt đới, ôn đới của Đông và Đông Nam Á cũng như Caribe [1,2]. Hình thái học họ Schisandraceae Đặc điểm chung về hình thái họ Ngũ vị: cây thân leo, hóa gỗ. Hoa đơn, mọc ở đầu cành hoặc lách lá, đôi khi thành cặp hoặc cụm lên đến 8.
Nhị hoa 4-80, rời nhưng chặt chẽ, đôi khi tập hợp thành một khối gần hình cầu. Quả là tập hợp của các lá noãn rời, vỏ quả nạc. Hạt thường 1-5, giàu nội nhũ [1,2,3]. Giới thiệu về thực vật chi Kadsura Chi Kadsura có 16 loài, phân bố ở Tây và Tây Nam Châu Á [3,4].
Theo tác giả Nguyễn Tiến Bân, chi Kadsura ở Việt Nam có 5 loài và 1 thứ. Năm 2012, Bùi Văn Thanh và cộng sự đã bổ sung thêm loài Kadsura induta A. Smith vào hệ thực vật Việt Nam: Nắm cơm lá hẹp (Kadsura angustifolia A. Smith): phân bố ở Lào Cai (Sa Pa).
Dây nắm cơm (Kadsura longgipedunculata Fin.): phân bố ở miền Bắc Việt Nam. Nắm cơm lá thuôn (Kadsura oblongifolia Merr.): phân bố ở Bắc Ninh, Hà Nội. Xưn xe trung bộ (Kadsura coccinea.): là thứ khá chuẩn. Mới thấy ở Lâm Đồng (Bảo Lộc) [5,6].
Cây Na leo (Kadsura heteroclita Craib): Cây Na leo còn gọi tên khác theo địa phương là cây Nam cỏ tranh, Nắm cơm, Hải phong đằng và Xưn xe tạp, mọc rải rác ven rừng, dựa suối, ở một số tỉnh phía bắc nước ta: Lào Cai, Thái Nguyên, Hòa Bình (Mai Châu) và Ninh Bình. Trên thế giới, cây được phân bố ở Trung Quốc, Ấn Độ, Myanma và Indonesia. Cây Na leo thường thu toàn dây vào quanh năm, Y học dân gian dùng rễ và dây để chữa cam sài trẻ em, động kinh, tê thấp. Dây và lá sắc uống trị kiết lỵ.
Lá giã với muối chữa mụn bắp chuối, cũng dùng chữa viêm ruột, viêm loét dạ dày và hành tá tràng, đòn ngã tổn thương, trị cảm, phụ nữ bị liệt sau sinh [5,7,8]. Cây và quả loài K. heteroclita 2 Cây Ngũ vị nam (Kadsura induta A. Smith): Cây Ngũ vị nam hay còn gọi là cây Na rừng, Nắm cơm, Ngũ vị tử nam, mới được phát hiện tại Lào Cai (Sa Pa).
Trên thế giới, còn có ở Trung Quốc (Vân Nam, Quảng Tây). Cây Ngũ vị nam được sử dụng làm thuốc bổ, trị suy nhược và liệt dương. Phần rễ cây dùng trị bệnh viêm ruột, viêm loét dạ dày và hành tá tràng, phong thấp, đòn ngã sưng đau. Dây, lá và quả còn dùng làm thuốc hoạt huyết, tiêu thũng [3,4,6].
Cây và lá loài K. induta Cây Na rừng (Kadsura coccinea (Lem) A. Smith): Cây Na rừng hay còn gọi là Nắm cơm, Xưn xe, Nam ngũ vị tử. Cây được phân bố ở Lào Cai (Sa Pa), Vĩnh Phúc (Tam Đảo), Hà Tây (Ba Vì), Quảng Trị (Đông Trị), Lâm Đồng (Di Linh, Braian, Bảo Lộc).
Còn có ở Trung Quốc (Quý Châu, Vân Nam, Hồng Kông) và Lào. Cây Na rừng trong dân gian ta dùng làm thuốc bổ, kích thích tiêu hóa, giảm đau, trị viêm dạ dày mãn tính, viêm trường vị cấp tính, loét dạ dày tá tràng, phong thấp nhức xương, ứ đau do chấn thương, đau bụng trước khi có kinh, ứ đau sau khi sinh, phù thũng. Quả sử dụng làm thuốc an thần, gây ngủ, rễ chữa viêm ruột mãn tính, viêm dạ dày, viêm ruột cấp tính, hành tá tràng, phong thấp và sản hậu [1,5,7,9]. Cây và hoa loài K.
Giới thiệu về thực vật chi Schisandra Chi Schisandra được gọi là Ngũ vị tử gồm có 34 loài, một loài bản địa ở Bắc Mỹ, tất cả các loài khác phân bố ở Đông Châu Á, trải dài từ Hokkaido (Nhật Bản), xa 3 về phía Đông là vùng Đông Bắc Siberia, phía Nam Java và Bali và phía Tây Uttar Pradesh (Ấn Độ). Phần lớn các loài này được sử dụng trong dược phẩm. Thân cây được sử dụng làm dây thừng. Thân, lá và quả đều có thể sử dụng chiết tách tinh dầu [1,2,3].
Theo Nguyễn Tiến Bân và các cộng sự, trong hệ thực vật Việt Nam chi Ngũ vị tử (Schisandra) có 6 loài: Ngũ vị bắc (Schisandra chinensis (Turcz) K. Koch): phân bố ở Lai Châu (Phong Thổ), Lào Cai (Sa Pa). Quả và hạt làm thuốc bổ, có tác dụng cường dương, trị suy nhược, chữa hen xuyễn, ho lâu ngày, ra mồ hôi trộm, di tinh, ỉa chảy kéo dài, bồn chồn mất ngủ. Ngũ vị cuống dài (Schisandra propinqua (Wall.)): phân bố ở Lào Cai (Sa Pa, Phan Si Pan).
Thân và lá dùng trị kinh nguyệt không đều, bạch đới, lao xương, mụn nhọt, tổn thương, phổi có mủ. Quả dùng thay thế Ngũ vị bắc. Ngũ vị hoa đỏ (Schisandra rubrifloria (Franch) Rehd.): phân bố ở Lai Châu (Phong Thổ), Lào Cai (Sa Pa), Hòa Bình (Mai Châu). Quả và hạt làm thuốc bổ, có tác dụng cường dương, trị suy nhược.
Ngũ vị sắn (Schisandra verrucosa Gagnep.): phân bố ở Lai Châu (Bình Lư), Lào Cai (Sa Pa). Toàn dây băm nhỏ, phơi khô, nấu nước uống hằng ngày, chữa sưng vú, khô sữa [5]. Cây Ngũ vị vảy chồi (Schisandra perulata Gagnep.): Cây Ngũ vị vảy chồi theo địa phương còn được gọi là Phân hùng vảy chồi. Cây được phân bố ở phía Bắc Thái Lan và Bắc Việt Nam.
Đồng bào các dân tộc tỉnh Lào Cai sử dụng loài Ngũ vị vảy chồi để chăm sóc sức khỏe, như lấy thân, lá làm thuốc tắm hay thân còn được ngâm rượu làm thuốc bổ gân cốt, ngoài ra quả của loài này còn được dùng ăn để giải nhiệt khi đi rừng. Ở Trung Quốc, loài này được dùng chữa kinh nguyệt không đều, bạch đới, đòn ngã tổn thương, mụn nhọt, thần kinh suy nhược, đau dạ dày [5,7,10,11]. Cành và hoa loài S. Cành mang hoa; 2.
4 Cây Ngũ vị tử nam (Schisandra sphenanthera Rehd.): Cây Ngũ vị tử nam được phát hiện ở Việt Nam năm 2007. Ngoài ra còn có tên gọi khác là Ngũ vị tử, Ngũ vị hoa nam. Ở Việt Nam, cây được phân bố ở Tây Nguyên, đặc biệt có trữ lượng lớn ở Kon Tum. Ngoài ra, cây còn được phân bố ở An Huy, Cam Túc, Quý Châu, Hà Nam, Hồ Bắc, Hồ Nam, Giang Tô, Thiểm Tây, Sơn Tây, Tứ Xuyên, Vân Nam, Chiết Giang (Trung Quốc).
Đồng bào dân tộc tỉnh Quảng Nam và Tây Nguyên dùng cây này trị bệnh gan mật rất tốt [5,7,12]. Cây và hoa loài S.com) Đông Y Trung Quốc coi Ngũ vị tử là một vị thuốc bổ thận dùng trong các trường hợp cơ thể mệt nhọc, uể oải chán ăn, còn dùng chữa ho, liệt dương và an thần. Chủ trị các chứng mất cân bằng dịch thể, khô họng, ra mồ hôi trộm, di tinh, tiêu chảy kéo dài, mất ngủ và mộng nhiều. Bên cạnh tính bổ dưỡng và tái tạo, Ngũ vị tử còn được dùng trong những lĩnh vực khác như bảo vệ gan, tác dụng lên hệ thần kinh, chữa bệnh đường hô hấp, đường tiêu hóa, … 1.
Thành phần hóa học và hoạt tính sinh học họ Ngũ vị (Schisandraceae) Cho đến nay, đã có hơn 25 loài thực vật họ Schisandraceae (họ Ngũ vị) trên thế giới đã được nghiên cứu hoá thực vật, nhiều hợp chất được phân lập và nhận dạng, thuộc các nhóm chất khác nhau. Thành phần hóa học chính của các loài họ Ngũ vị là các hợp chất lignan và tritecpenoit. Ngoài ra, còn chứa các thành phần khác như ditecpenoit, flavonoit, … 1. Các hợp chất lignan Các loài thực vật họ Schisandraceae có chứa nhiều hợp chất lignan rất phong phú và đa dạng, với cấu trúc lập thể phức tạp và bộ khung khác nhau, chúng có nhiều hoạt tính sinh học đáng chú ý: dibenzocyclooctadien, spirobenzofuranoit dibenzocyclooctadien; 4-aryltetralin; 2,3-dimetyl-1,4-diarylbutan và 2,5-diaryl tetrahydrofuran, một số hợp chất được phát hiện có tác dụng ức chế và kháng virut HIV, kháng ung thư,.
Các hợp chất dibenzocyclooctadien Thành phần hóa học chủ yếu trong họ Schisandraceae là các hợp chất lignan, hiện có hơn 285 hợp chất đã được phân lập và xác định cấu trúc (đại diện hợp chất 1-48, hình 1. Các hợp chất lignan phần lớn là dibenzocyclooctadien lignan với khung cơ bản là diphenyl cyclooctadien, trong đó có chứa các nhóm thế tại nhiều vị trí khác nhau. Ở vị trí C-4 và C-11 của vòng biphenyl có hai proton thơm; ở vị trí khác nhau như C-1~3 và C-12~14 là các nhóm thế chứa oxi: metoxi, metylendioxi, hydroxyl hoặc cacboxyl.