Luận văn nghiên cứu thu nhận và xác định một số tác dụng sinh học của phân đoạn peptide từ lá cây thuốc hoàn ngọc đỏ strobilanthes schomburgkii craib j r i wood

Luận văn nghiên cứu thu nhận và xác định tác dụng sinh học của peptide từ lá cây hoàn ngọc đỏ Strobilanthes schomburgkii Craib J R I Wood.

Chuyên ngành

Dược học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp đại học

2023

47
3
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG BIỂU

DANH MỤC HÌNH ẢNH

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Giới thiệu về peptide

1.2. Các hoạt tính sinh học của peptide

1.2.1. Các peptide kháng viêm

1.2.2. Các peptide kháng khuẩn

1.2.3. Các peptide chống oxy hóa

1.2.4. Các peptide chống stress và tăng sức đề kháng

1.2.5. Các peptide có hoạt tính chống ung thư

1.2.6. Các hoạt tính sinh học khác của peptide

1.3. Nghiên cứu về các cây thuốc thuộc họ Ôrô (Acanthaceae)

1.4. Nghiên cứu trên Thế Giới và Việt Nam về cây Hoàn Ngọc Đỏ Strobilanthes schomburgkii (Craib) J.

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Nguyên liệu thực vật

2.3. Hóa chất và thiết bị

2.4. Phương pháp nghiên cứu

2.4.1. Xử lý nguyên liệu

2.4.2. Tách các phân đoạn peptide tự nhiên

2.4.3. Thu nhận và tách các peptide được thủy phân từ protein của cây thuốc

2.4.4. Phương pháp điện di trên Gel Tricine-SDS-PAGE xác định các Peptide

2.4.5. Xác định hàm lượng Protein theo phương pháp Lowry

2.4.6. Đánh giá khả năng kháng khuẩn của các phân đoạn peptide bằng phương pháp khuếch tán trên đĩa thạch

2.4.7. Phương pháp nuôi các tế bào Macrophage từ tủy xương của chuột

2.4.8. Đánh giá hoạt tính độc tố của phân đoạn peptide tới khả năng sống của tế bào macrophage bằng kít đếm tế bào sống sót

2.4.9. Đánh giá khả năng kháng viêm theo phương pháp của Trịnh Tất Cường và cộng sự

2.4.10. Phần mềm ANOVA thống kê và Excel phân tích và vẽ đồ thị

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1. Tách chiết và thu nhận các phân đoạn peptide tự nhiên và thủy phân từ lá cây thuốc Hoàn Ngọc Đỏ

3.2. Tách chiết và thu nhận các phân đoạn peptide tự nhiên từ lá cây thuốc Hoàn Ngọc Đỏ

3.3. Tách chiết và thu nhận các phân đoạn peptide thủy phân từ lá cây thuốc Hoàn Ngọc Đỏ

3.4. Đánh giá ảnh hưởng của các phân đoạn peptide đến sự giải phóng cytokine tiền viêm trên in vitro

3.5. Xác định hoạt tính kháng khuẩn của các phân đoạn peptide thu nhận được

4. CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

Tóm tắt

I. Giới thiệu về peptide

Peptide là các chuỗi ngắn gồm từ hai đến vài chục amino acid, thường có khối lượng phân tử ≤ 10 kDa. Một số peptide có khối lượng lớn hơn vẫn thể hiện hoạt tính sinh học. Peptide có thể được tổng hợp tự nhiên hoặc hình thành từ quá trình thủy phân protein. Chúng đóng vai trò quan trọng trong trao đổi chất và có tính chất hóa lý tương tự amino acid. Peptide tham gia vào các phản ứng đặc trưng như phản ứng Biure, được sử dụng rộng rãi để định lượng protein. Từ năm 1950, các peptide sinh học đã được phát hiện từ thực phẩm, đặc biệt là sữa, thịt và thực vật. Các peptide chức năng có thể được hấp thụ qua ruột và thể hiện tác dụng sinh lý trong cơ thể.

1.1. Cấu trúc và tính chất của peptide

Peptide có cấu trúc đơn giản nhưng đa dạng nhờ sự khác biệt trong mạch bên R của amino acid. Chúng tham gia vào các phản ứng đặc trưng như phản ứng Biure, tạo phức chất màu tím đỏ với CuSO4. Tính lưỡng tính của peptide cho phép chúng phản ứng với cả acid và base. Các peptide chức năng thường có kích thước từ 2-20 amino acid, nhưng một số có thể dài hơn. Chúng có thể được hấp thụ nguyên vẹn qua ruột và thể hiện tác dụng sinh lý trong cơ thể.

1.2. Nguồn gốc và ứng dụng của peptide

Peptide có nguồn gốc từ nhiều loại thực phẩm như sữa, thịt và thực vật. Các peptide sinh học được sử dụng rộng rãi trong y học và thực phẩm chức năng. Ví dụ, CalpisEvolus là các sản phẩm thương mại chứa peptide từ protein lên men sữa. Các peptide chức năng có thể có đặc tính đa chức năng, như chống oxy hóa, kháng khuẩn và điều hòa miễn dịch.

II. Tác dụng sinh học của peptide

Peptide có nhiều tác dụng sinh học quan trọng, bao gồm kháng viêm, kháng khuẩn, chống oxy hóa và tăng cường sức đề kháng. Các peptide kháng viêm (AIPs) điều hòa sự biệt hóa tế bào miễn dịch và ngăn ngừa phản ứng viêm quá mức. Peptide kháng khuẩn (AMPs) là thành phần của hệ thống miễn dịch bẩm sinh, giúp chống lại vi khuẩn gây bệnh. Peptide chống oxy hóa ngăn chặn sự hình thành gốc tự do, bảo vệ tế bào khỏi tổn thương. Các peptide opioid có tác dụng giảm đau và điều hòa hành vi.

2.1. Peptide kháng viêm

Các peptide kháng viêm (AIPs) có nguồn gốc từ thảo dược và thực phẩm thủy phân. Chúng điều hòa sự biệt hóa tế bào miễn dịch và ngăn ngừa phản ứng viêm quá mức. Ví dụ, Cordymin từ nấm Cordyceps sinensis có tác dụng chống viêm và bảo vệ thần kinh. Lunasin từ đậu nành ức chế các cytokine gây viêm như IL-6 và TNF-α.

2.2. Peptide kháng khuẩn

Peptide kháng khuẩn (AMPs) là thành phần của hệ thống miễn dịch bẩm sinh. Chúng được phân lập từ nhiều bộ phận của thực vật và có hoạt tính chống lại vi khuẩn gây bệnh. Ví dụ, lunatusin từ Phaseolus lunatus L. và các AMPs khác từ Spinacia oleracea cv. Các AMPs như vancomycinpolymyxin được sử dụng để điều trị vi khuẩn kháng kháng sinh.

III. Nghiên cứu peptide từ cây Hoàn Ngọc Đỏ

Cây Hoàn Ngọc Đỏ (Strobilanthes schomburgkii) là một loại cây thuốc thuộc họ Ôrô (Acanthaceae). Nghiên cứu này tập trung vào việc thu nhận và đánh giá tác dụng sinh học của các peptide từ lá cây Hoàn Ngọc Đỏ. Các peptide được tách chiết và thủy phân từ protein của lá cây, sau đó đánh giá hoạt tính kháng viêm, kháng khuẩn và chống oxy hóa. Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp bằng chứng khoa học về tác dụng sinh học của cây Hoàn Ngọc Đỏ, góp phần vào việc phát triển các sản phẩm dược liệu từ thực vật.

3.1. Thu nhận peptide từ lá cây Hoàn Ngọc Đỏ

Các peptide được tách chiết từ lá cây Hoàn Ngọc Đỏ bằng phương pháp điện di trên Gel Tricine-SDS-PAGE. Quá trình thủy phân protein từ lá cây được thực hiện để thu nhận các peptide thủy phân. Các phân đoạn peptide được đánh giá về hàm lượng protein và hoạt tính sinh học.

3.2. Đánh giá tác dụng sinh học của peptide

Các peptide từ lá cây Hoàn Ngọc Đỏ được đánh giá về hoạt tính kháng viêm, kháng khuẩn và chống oxy hóa. Kết quả cho thấy các peptide có khả năng ức chế sự giải phóng cytokine tiền viêm và kháng khuẩn hiệu quả. Nghiên cứu này mở ra tiềm năng ứng dụng các peptide từ cây Hoàn Ngọc Đỏ trong y học và dược phẩm.

13/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 – TỔNG QUAN 1. Giới thiệu về peptide Peptide là những protein thường có cấu trúc đoạn ngắn khoảng từ hai đến vài chục amino acid liên kết với nhau, thường có khối lượng phân tử ≤ 10 kDa. Tuy nhiên, một số peptide có khối lượng phân tử > 10 kDa cũng có hoạt tính sinh học. Một số nghiên cứu trên thế giới cho thấy các peptide collagen có trọng lượng phân tử 11.93 kDa và peptide gelatin có trọng lượng phân tử 16,62 kDa từ da của cá Thunnus albacares đều có hoạt tính antioxidant [14].

Peptide có trọng lượng phân tử 14 kDa từ Tenebrio molitor có khả năng kháng vi khuẩn Escherichia coli [15]. Các peptide có thể được tổng hợp trong tự nhiên hoặc được hình thành do quá trình thủy phân protein. Mặc dù có cấu trúc nhỏ nhưng nhiều peptide có vai trò khá quan trọng trong hoạt động trao đổi chất của cơ thể [16]. Peptide có tính chất hóa lý không khác nhiều so với amino acid vì đều chứa nhóm –NH2 và nhóm – COOH tự do.

Sự khác biệt chủ yếu là do R của gốc amino acid tham gia trong chuỗi peptide. Chính sự khác nhau giữa các mạch bên R, khác về số lượng và loại amino acid trong peptide làm cho điểm đẳng điện, khối lượng cũng khác nhau [17]. Peptide tham gia các phản ứng đặc trưng của nhóm –NH2 và nhóm –COOH. Tính lưỡng tính: H2N–R–COOH + H+ H3N + –R–COOH - H2N–R–COOH + OH H2N–R–COO-+ H2O Tạo phức chất với este: H2N–R–COOH + R–OH H2N–R–COOR+ H2O Sản phẩm tạo ra ở dạng muối, lấy sản phẩm cho tác dụng với ammoniac để tái tạo nhóm chức amin (–NH2).

Phản ứng màu đặc trưng: Ngoài phản ứng của nhóm –NH2 và –COOH đầu tận cùng, các gốc R của peptide cũng cho những phản ứng màu đặc trưng của các amino acid tự do tương ứng. Một trong những phản ứng màu đặc trưng nhất cho liên kết peptide đó là phản ứng Biure, phản ứng này không xảy ra với amino acid tự do. Trong môi trường kiềm mạnh, liên kết peptide phản ứng với CuSO4 tạo thành phức chất màu tím đỏ và có khả năng hấp thụ cực đại ở bước sóng 540nm. Đây là phản ứng được sử dụng rộng rãi để định lượng protein [16].

SVTH: Viên Thị Sáng 3 MSV: 18100207 Khóa Luận Tốt Nghiệp Từ năm 1950, Mellander đã tìm ra các peptide sinh học từ nguồn thực phẩm [18]. Ông phát hiện ra các peptide phosphoryl hóa casein có nguồn gốc từ sữa có thể làm tăng khả năng hấp thụ Vitamin D nhưng không ảnh hưởng tới sự vôi hóa xương ở trẻ em mắc bệnh còi xương. Các peptide có hoạt tính sinh học đã được tìm thấy trong nhiều loại thực phẩm khác nhau như: sữa, thịt, thực vật và các protein từ các nguồn này là những nguồn nguyên liệu có tiềm năng lớn để thu được các loại peptide có hoạt tính sinh học. Tuy nhiên, chỉ có một số ít sản phẩm thực phẩm từ thịt hoặc thủy sản có thể thu được peptide có hoạt tính sinh học có tính thương mại [19].

Các peptide có hoạt tính sinh học thu được có nhiều chức năng sinh lý khác nhau như: chống oxy hóa, kháng khuẩn, làm tiền chất, chống huyết khối và điều hòa miễn dịch, trong đó hoạt tính chống huyết áp cao đã được nghiên cứu và công bố rộng rãi nhất, đặc biệt là các peptide có khả năng ức chế ACE [20]. Đã có một số sản phẩm thương mại chứa peptide có hoạt tính sinh học được đưa ra thị trường như Calpis (từ Nhật Bản) và Evolus (từ Phần Lan), cả 2 đều có nguồn gốc từ các protein lên men sữa. Các peptide mạch ngắn có hoạt tính sinh học hay các peptide chức năng ngoài các giá trị về dinh dưỡng cần bổ sung thêm các chức năng sinh lý cho cơ thể [21]. Quá trình giải phóng peptide chức năng quyết định bởi hai yếu tố: chuỗi protein ban đầu và độ đặc hiệu của một hay nhiều enzyme được sử dụng để tạo ra peptide [22].

Kích cỡ của các peptide chức năng thường là khoảng 2-20 amino acid, nhưng cũng có nhiều loại nhiều hơn 20 amino acid đã được tìm thấy. Các peptide chức năng có thể được hấp thụ bởi ruột và được vận chuyển nguyên vẹn trong hệ tuần hoàn, tại đây chúng sẽ thể hiện tác dụng sinh lý, hoặc chúng có thể ở trong đường tiêu hoá để tạo ra các hiệu quả cục bộ [23]. Hơn nữa, một số peptide chức năng có thể có đặc tính đa chức năng, trong đó các trình tự peptide cụ thể có thể có hai hoặc nhiều hoạt tính sinh học khác nhau [22]. Các hoạt tính sinh học của peptide 1.

Các peptide kháng viêm Trong những năm gần đây, các peptide hoạt tính sinh học có nguồn gốc từ quá trình thủy phân protein thực phẩm bằng enzyme đã chứng minh được các peptide này làm tăng cường sức khỏe và chống lại nhiều bệnh tật, bao gồm bệnh tim SVTH: Viên Thị Sáng 4 MSV: 18100207 Khóa Luận Tốt Nghiệp mạch, viêm nhiễm và ung thư [1,3]. Các protein từ tự nhiên thường không có hoạt tính sinh học nhưng khi được thủy phân bằng cách sử dụng các enzyme như Alcalase, Flavourzyme và Neutrase thường tạo thành các peptide có nhiều hoạt tính sinh học [24]. Một số peptide từ thảo dược cho thấy hoạt động kháng viêm mạnh và có thể làm giảm viêm mãn tính trong các bệnh khác nhau. Thực vật rất giàu peptide kháng viêm (AIPs) và là chất tiềm năng để điều trị viêm.

Các peptide kháng viêm điều hòa sự biệt hóa tế bào miễn dịch và ngăn ngừa các phản ứng viêm quá mức [4- 6], dị ứng [7]. Gần đây, một số AIPs đã được sử dụng như thuốc để ngăn ngừa và kiểm soát viêm [2,3]. Ví dụ, trong trường hợp viêm khớp dạng thấp, một peptide đường ruột (VIP) đã được tìm thấy để giảm cả viêm và phản ứng tự miễn dịch [25]. Một số AIPs khác cho thấy các đặc tính chống oxy hóa và có thể ngăn chặn sự hình thành ROS.

Một số peptide có nguồn gốc từ protein đã cho thấy khả năng giảm viêm trực tiếp không bị biến tính qua quá trình thủy phân và tiêu hóa in vitro cũng như trong quá trình lên men hoặc làm chín thực phẩm [8]. Ví dụ, peptide Cordymin phân lập từ nấm Cordyceps sinensis có tác dụng chống viêm [26], peptide này cũng có tác dụng bảo vệ thần kinh trong các trường hợp thiếu máu não qua tác dụng ức chế viêm và tổn thương mô [26]. Cordymin được phân lập từ quả khô của C. sinensis làm giảm sự giải phóng TNF-α và IL-1β [27].

Citrusin XI, một peptide được tinh sạch từ trái cây Citrus unshiu có hoạt tính kháng viêm, ức chế sự giải phóng các chất trung gian gây viêm [12]. Một nghiên cứu khác cho thấy các protein từ hạt Amaranthus sau quá trình thủy phân tạo các peptide có hoạt tính chống viêm và điều hòa miễn dịch trên mô hình chuột gây dị ứng [7]. Một cyclic peptides mới từ quả Annona squamosal ức chế hoạt động của TNF-α và IL-6 trên các macrophages RAW 264.7 được gây viêm bởi LPS (lipopolysaccharide) trong in vitro [28]. Lunasin, một peptide từ hạt đậu nành và một số hạt ngũ cốc có khả năng ức chế một số cytokine gây viêm như IL-6 và TNF-α bằng cách ức chế qua con đường NF-kB [29].

Các peptide kháng khuẩn Các peptide kháng khuẩn (AMPs) đã thu hút nhiều sự quan tâm về nghiên cứu của các nhà khoa học. Do sự xuất hiện của vi khuẩn kháng thuốc và kháng một số loại kháng sinh truyền thống, vì vậy việc tìm kiếm các chất kháng khuẩn mới, đặc biệt từ các peptide kháng khuẩn thực sự rất cần thiết [9]. Thực vật bị vi sinh vật và sâu bệnh tấn công trong suốt vòng đời của chúng, do vậy thực vật đã phát triển hệ thống miễn dịch bao gồm các chất thứ cấp, các protein và peptid để bảo vệ chống SVTH: Viên Thị Sáng 5 MSV: 18100207 Khóa Luận Tốt Nghiệp lại các tác nhân gây bệnh. Các peptide kháng khuẩn là thành phần của hệ thống miễn dịch bẩm sinh, một trong những cơ chế kháng vi sinh vật lâu đời, tác dụng nhanh và không tiêu hao năng lượng.

Thực vật rất dồi dào các AMPs [10]. Năm 1972, AMP được phát hiện đầu tiên từ Triticum aestivum [30]. Các AMPs được phân lập từ thực vật ở các bộ phận như thân, rễ, hạt, hoa và lá của nhiều loài khác nhau và có hoạt tính chống lại mầm bệnh thực vật cũng như chống lại vi khuẩn gây bệnh cho người [11]. Các AMPs đã được phân lập từ thực vật như lunatusin được thu thập từ Phaseolus lunatus L.

Các AMP khác đã được chiết xuất từ Spinacia oleracea cv. Hiện nay, các peptide kháng khuẩn đã được sử dụng để điều trị các chủng vi khuẩn kháng kháng sinh như: vancomycin, polymyxin, daptomycin. Các peptide chống oxy hóa Oxy hóa là phản ứng cần thiết cho quá trình hô hấp và trao đổi chất của mọi cơ thể sống, trong đó electron được chuyển từ chất khử sang chất oxi hóa có khả năng tạo thành các gốc tự do (O2-, -OH, H2O2). Khi các gốc tự do được sản xuất vượt quá ngưỡng và không được loại bỏ, chúng có thể tấn công các phân tử gần nhất bằng cách lấy đi các electron dẫn đến một phân tử không có điện tử tấn công các phân tử khác, gây nên hàng loạt các phản ứng dây chuyền tấn công lipid ở màng tế bào, protein, DNA… nhiều rối loạn sức khỏe nghiêm trọng [34].

Quá trình oxy hóa là nguyên nhân dẫn tới nhiều căn bệnh khác nhau. Hoạt tính chống oxy hóa của peptide có liên quan đến thành phần, cấu trúc, tính kỵ nước và khả năng trì hoãn, ngăn chặn các quá trình oxi hóa từ sự cho điện tử và sự ổn định của gốc tự do mà vẫn còn trong cấu trúc của chất chống oxy hóa hơn là trong phản ứng. Chúng có thể tìm thấy trong các nguồn động vật và thực vật, như sữa, sản phẩm từ sữa, trứng, cá, hàu, ngũ cốc (lúa, lúa mạch, kiều mạch, lúa mạch và bắp), đậu nành, hạt củ cải và các nguồn giàu protein khác [35,36]. Một số nghiên cứu đã chứng minh việc thủy phân các protein phụ phẩm cá hồi được thủy phân bằng sáu protease và các hoạt tính chống oxy hóa của sản phẩm thủy phân protein phụ phẩm cá hồi (SPH) đã được đánh giá.

Các sản phẩm thủy phân peptide từ SPHs cho thấy hoạt tính chống oxy hóa cao nhất so với các sản phẩm thủy phân protease khác, và được tiếp tục phân đoạn thành bốn phần bằng sắc ký loại trừ kích thước. Các phân đoạn SPH (SPHF) thể hiện hoạt tính thu hồi 2,2- SVTH: Viên Thị Sáng 6 MSV: 18100207 Khóa Luận Tốt Nghiệp diphenyl-1-picrylhydrazyl và hydro peroxide, và SPHF1 thể hiện hoạt tính chống oxy hóa cao nhất.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên cứu thu nhận và tác dụng sinh học của peptide từ lá cây hoàn ngọc đỏ Strobilanthes Schomburgkii" tập trung vào việc khám phá quy trình thu nhận peptide từ lá cây hoàn ngọc đỏ và đánh giá các tác dụng sinh học của chúng. Nghiên cứu này không chỉ làm sáng tỏ tiềm năng ứng dụng của peptide trong y học và dược phẩm mà còn mở ra hướng đi mới trong việc khai thác các hợp chất tự nhiên có lợi cho sức khỏe. Để hiểu rõ hơn về các hợp chất sinh học từ thực vật, bạn có thể tham khảo thêm luận án nghiên cứu thành phần hóa học và hoạt tính sinh học một số loài thực vật thuộc chi Kadsura và Schisandra họ Schisandraceae ở Việt Nam. Ngoài ra, nghiên cứu về hoạt tính sinh học và thành phần lá trà hoa vàng Thạch Châu cũng cung cấp thêm góc nhìn về ứng dụng thực vật trong bào chế thực phẩm chức năng. Đồng thời, luận án tiến sĩ về thành phần hóa học và tác dụng sinh học của cây xáo tam phân và cây nhó đông sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức về các loại cây dược liệu quý hiếm.