ĐẶT VẤN ĐỀ Ngày nay, xu hướng sử dụng các hợp chất có nguồn gốc thiên nhiên làm thuốc chữa bệnh hay thực phẩm chăm sóc sức khỏe con người đang được quan tâm đặc biệt ở trong và ngoài nước. Bên cạnh đó, Việt Nam là nước có hệ thực vật phong phú và với nhiều loài thảo dược có ích cho sức khỏe, trong đó có các cây họ Chè (Theaceae). Theo thống kê của Trung tâm Dữ liệu Thực vật Việt Nam, nước ta có 11 chi với hơn 100 loài cây thuộc họ Chè, với giá trị sử dụng khác nhau như làm nước uống, làm thuốc, làm cảnh. Trong số các cây họ Chè, có một nhóm thực vật đặc biệt có tiềm năng sinh học rất lớn được gọi là trà hoa vàng, phân bố chủ yếu ở miền Nam Trung Quốc và miền Bắc Việt Nam.
Ngoài việc được sử dụng làm nước uống, nó còn được dùng như một phương thuốc truyền thống để cải thiện sức khỏe. Những năm gần đây, nghiên cứu về tác dụng dược lý trong lá và hoa của trà hoa vàng đã được tiến hành rộng rãi. Các kỹ thuật trồng và chăm sóc cây con cũng được quan tâm nhiều hơn. Có thể nói, trà hoa vàng là một cây dược liệu quý, rất cần được bảo tồn, phát triển và khai thác hiệu quả bởi những giá trị to lớn mà nó mang lại.
Ở các tỉnh vùng Tây Nguyên và miền Bắc nước ta, có một loại trà hoa vàng đặc hữu với tên gọi trà Thạch Châu Pyrenaria jonqueriana Pierre ex Laness. Loài cây này thường được người dân địa phương sử dụng làm nước uống với tác dụng giải nhiệt, mát gan, tăng cường sức đề kháng,…[1]. Đây là cây dược liệu quý hiếm, tuy nhiên, hiện nay vẫn chưa có nhiều nghiên cứu khoa học cụ thể và đầy đủ về thành phần hóa học và tác dụng sinh học của loài trà này. Vì vậy, việc nghiên cứu và khảo sát sâu hơn về một số hợp chất có hoạt tính sinh học trong cây trà Thạch Châu là rất cần thiết để đánh giá và khai thác sử dụng hiệu quả loài cây này trong y học và đời sống, cũng như phát triển một số sản phẩm thương mại từ chúng.
Từ nhu cầu này, đã đưa đến ý tưởng thực hiện một đề tài khoa học với nội dung chính là nghiên cứu khảo sát thành phần và hoạt tính sinh học trong cao lá trà Thạch Châu, từ đó định hướng sản xuất thực phẩm chức năng giúp hỗ trợ cải thiện sức khỏe người sử dụng. Giới thiệu về cây trà hoa vàng Thạch Châu Giới thiệu chung Trà hoa vàng là tên gọi của một nhóm thực đặc biệt thuộc họ Theaceae, có tên thường gọi là Golden Camellia hay Yellow Camellia, đa số các loài thuộc chi Camellia. Cây trưởng thành có hoa màu vàng đặc trưng[2]. Trà hoa vàng rất hiếm gặp trong tự nhiên và chỉ tồn tại đặc hữu ở miền Nam Trung Quốc và Việt Nam, chúng thường được tìm thấy phân bố ở các rừng lá rộng thường xanh tự nhiên.
Hiện nay có hơn 50 loài trà hoa vàng đã được tìm thấy, trong đó, có gần 40 loài phân bố tự nhiên ở Việt Nam [3]. Năm 2010, trà hoa vàng được công nhận như một loại thực phẩm mới bởi Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Trung Quốc (the State Food and Drug Administration of China). Bên cạnh việc được sử dụng như trà, trà hoa vàng thường được sử dụng như một loại thuốc cổ truyền Trung Quốc để điều trị tăng huyết áp và ung thư [2]. Hiện nay, trà hoa vàng nhận được khá nhiều quan tâm nghiên cứu vì có chứa nhiều hợp chất tiềm năng và thể hiện nhiều hoạt tính mong đợi như ức chế ung thư, hạ huyết áp, giảm lipid máu và giảm cholesterol, và ngăn ngừa xơ vữa động mạch.
Một số sản phẩm thương mại từ trà hoa vàng cũng đang được phát triển [3]. Với tiềm năng cây trà hoa vàng trên thế giới và sự phổ biến loài ở Việt Nam mở ra những hướng nghiên cứu để phát triển loài cây này ở nước ta. Trong số những loài trà hoa vàng được tìm thấy ở Việt Nam, có cây trà Thạch Châu Pyrenaria jonqueriana P. mọc nhiều ở vùng Tây Nguyên nước ta.
Loài này thuộc chi Pyrenaria, có nhiều loài thuộc chi này được được ứng dụng trong y học với tác dụng làm thức uống để giải nhiệt, giải cảm phong hàn, mát gan, dùng chữa tê thấp, đau gân, sốt, viêm sưng, xuất huyết và rửa vết thương [4, 5]. Điều này cũng gợi ý cho những nghiên cứu và ứng dụng trên cây trà hoa vàng Thạch Châu trong tương lai. 3 Cây trà hoa vàng Thạch Châu Tên gọi Trà hoa vàng Thạch Châu có tên khoa học là Pyrenaria jongquieriana Pierre ex Laness, trong tiếng Hy Lạp, Pyren nghĩa là hạt cứng (Thạch Châu). Loại cây này được công bố đầu tiên vào năm 1887 bởi Pierre, một nhà thực vật học người Pháp, trên cơ sở mẫu vật do Harmand thu thập vào năm 1877.
Đến năm 2016, trà Thạch châu đã được đăng kí trình tự mã vạch DNA trên ngân hàng Gen Quốc tế bởi TS. Trần Hồ Quang, Viện Công nghệ sinh học–Viện Hàn Lâm Khoa học & Công nghệ Việt Nam [1]. Tên thường gọi: Thạch Châu, Thạch Châu Trung bộ, chè hạch Jonquier, Thạch Châu Jonquier [6, 7] Phân loại thực vật Giới: Thực vật (Plantae) Ngành: Ngọc Lan (Magnoliophyta) Lớp: Ngọc Lan (Magnoliopsida) Bộ: Chè (Theales) Họ: Chè (Theaceae) Chi: Thạch Châu (Pyrenaria) Loài: Jonquier (jonqueriana) Chi Pyrenaria (Thạch Châu) là một chi nhỏ trong họ Theaceae (Chè). Tùy theo hệ thống phân loại mà số lượng loài trong chi khác nhau, theo hệ thống phân loại APG IV: chi Pyrenaria có 28 loài [8].
Dựa theo thống kê của Trung tâm Dữ liệu Thực vật Việt Nam, ở nước ta, hiện có 5 loài thuộc chi Pyrenaria được công bố, đó là: Pyrenaria garentiana Craib., Pyrenaria jonqueriana Piere., Pyrenaria poilaneana Gagn., Pyrenaria serrata Bl và Pyrenaria chelienesis Hu. Các loài này mọc tại Sapa, Bạch Mã (Huế), Đà Lạt, Quảng Trị [6]. 4 Đặc điểm thực vật và phân bố Trà hoa vàng Thạch Châu Pyrenaria jonqueriana Piere. thuộc loại cây thân gỗ, lá thường xanh; cây cao khoảng 9m, màu nâu và tiết diện tròn.
Cành chia thành nhiều nhánh. Lá đơn, mọc so le, hình mác thuôn, đầu nhọn, phiến lá dài, mỏng, dai; không có lá kèm, dài khoảng 5-15cm; mặt trên nhẵn, có màu xanh nõn chuối khi non, xanh đậm khi già; mặt dưới của lá non và đầu chồi có lông nhỏ, trắng, mịn; gốc lá thuôn hoặc tròn, ngọn lá nhọn; mép lá: phía gốc nguyên, phía ngọn khía răng cưa; gân lá hình lông chim, gân chính nổi rõ. Lá có phiến mỏng, bìa có răng, mặt dưới nâu lúc khô. Hoa đơn mọc ở đầu cành, ở nách lá hoặc ở các vết sẹo trên thân; hoa không cọng; màu vàng, vàng nhạt hoặc trắng; hoa lưỡng tính; có 11-13 phiến hoa, phiến toa nhân cao khoảng 1,5 cm, bìa rìa lông; cánh hoa chót lõm, màu ngà; bộ nhị dài 0,5-1cm, xếp thành 3-6 hàng, màu vàng đậm; chỉ nhị dài, nhẵn; bao phấn đính lưng, hình thận, hướng trong, nứt dọc; bộ nhụy gồm 3 lá noãn hợp thành bầu trên hình cầu.
Quả nhã cứng dài 3,5 cm, có 1-3 hột [1, 6, 9]. Hoa nở vào tháng 5-7, có quả tháng 10-12 [10]. Cây phân bố ở các vùng núi cao (độ cao từ 800-1700m), ở vùng đông bắc Lào, tỉnh Hải Nam (Trung Quốc). Ở Việt Nam, trà Thạch Châu được tìm thấy ở các vùng núi Vọng Phu, Bạch Mã và Đà Lạt [6, 10].
Một số hình ảnh về cây trà hoa vàng Thạch Châu Pyrenaria jonqueriana Piere. Thành phần hóa học Các loài trà hoa vàng trên thế giới Ngày nay, trà hoa vàng nhận được nhiều sự quan tâm do những tiềm năng về khả năng hỗ trợ sức khỏe người sử dụng. Và để giải đáp rõ ràng khía cạnh đó, các nhà khoa học trên thế giới cần tiến hành phân tích thành phần hợp chất tự nhiên chứa trong cây. Các nghiên cứu về sự hiện diện của các hợp chất này sẽ giúp gợi mở về nhiều hơn hoạt tính sinh học cũng như khả năng ứng dụng cây trà hoa vàng vào phát triển sức khỏe con người.
Từ những phương pháp nghiên cứu khác nhau, các nhóm tác xác định các thành phần quan trọng có trong trà hoa vàng thuộc các nhóm polyphenol, flavonoid, saponin tự do hoặc có gắn đường và sự ảnh hưởng của các thành phần hợp chất lên khả năng sinh học [3]. Đa phần các loài trà hoa vàng thuộc chi Camellia, được biết đến nhiều nhất là các nhánh Camellia chrysantha, Camellia nitidissima, tồn tại phổ biến ở khu vực Đông Á, đặc biệt là Trung Quốc, nên nhiều tác giả ở các nước này là những người đi tiên phong trong việc thực hiện các bài nghiên cứu về loài thực vật này. Những nghiên cứu này đã góp phần củng cố thêm niềm tin về ảnh hưởng có lợi đến sức khỏe mà trà hoa vàng mang lại. Trong một báo cáo về cây trà Camellia nitidissima - một loài được mệnh danh là “ Nữ hoàng trong các loại trà hoa vàng”, cho thấy loài cây này có chứa nhiều các hợp chất thuộc nhóm flavonoid, saponin, polysaccharide trong lá và hoa [11].
Trong một nghiên cứu khác, cũng chỉ ra Camellia impressinervis – một loài trà hoa vàng phân bố ở Trung Quốc và miền bắc Việt Nam, cũng có những nhóm hợp chất tương tự [12]. Nghiên cứu từ nhóm nghiên cứu của Peng (2011) về Camellia chrysantha cho thấy hoa của loài trà hoa vàng này giàu flavonoids, saponins và polysaccharides [13]. Song và các cộng sự đã thực hiện nghiên cứu trên sáu loại trà hoa vàng đại diện Camellia euphlebia, Camellia microcarpa, Camellia nitidissima, Camellia tunghinensis, và Camellia chrysantha, kết quả cho thấy các loài này có hàm lượng cao các hợp chất phenolic và tiềm năng kháng oxi hóa tốt (Bảng 1. Nghiên cứu này cũng tiến hành phân lập và xác định có sự hiện diện các hợp chất polyphenols cụ thể là: 6 ellagitannin, proanthocyanidin, taxifolin deoxyhexose, apigenin, kaempferol, quercetin, glucosyl isorhamnetin, catechin, (epi) catechin- (epi) polyme afezelechin và platphylloside [14].
Nghiên cứu này còn chỉ ra một điểm khác biệt so với trà xanh là trên lá của sáu loài trà hoa vàng này còn không tìm thấy caffein [14], tuy nhiên, trong một báo cáo khác (2013) chỉ ra trà hoa vàng vẫn có caffein tuy nhiên hàm lượng rất thấp, từ 33. murauchii) [15] so với lá trà Camellia sinensis 20-50mg/g [16], mở ra hướng ứng dụng nguồn nguyên liệu này để thay thế cho các trà chứa caffein nhằm mục đích chống oxy hóa và hỗ trợ sức khỏe. Hàm lượng polyphenol toàn phần, hàm lượng tannin thủy phân và hàm lượng tannin ngưng tụ của các loài trà hoa vàng ([14]) Hàm lượng Hàm lượng Hàm lượng Hàm lượng polyphenol tannin thủy tannin ngưng Mẫu proanthocyanidin toàn phần phân tụ tổng (molCE/g) (molGAE/g) (molEAE/g) (molECE/g) C.