Luận án tiến sĩ nghiên cứu tác động trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đến hành vi tiêu dùng trường hợp sản phẩm nước uống giải khát không cồn khu vực đồng bằng sông cửu long

Luận án tiến sĩ phân tích tác động của trách nhiệm xã hội doanh nghiệp đến hành vi tiêu dùng sản phẩm nước uống giải khát không cồn tại Đồng bằng sông Cửu Long.

Trường đại học

Trường Đại học Trà Vinh

Chuyên ngành

Quản trị kinh doanh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2022

223
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Danh mục các bảng

Danh mục các hình

Danh mục chữ viết tắt

Tóm tắt

Abstract

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

1.1. Tình hình nghiên cứu

1.1.1. Tình hình thực tiễn

1.1.2. Tình hình lý thuyết

1.2. Tổng quan tài liệu

1.2.1. Tổng quan các nghiên cứu về chủ đề CSR

1.2.2. Tổng quan nghiên cứu thực nghiệm liên quan đề tài nghiên cứu

1.2.2.1. Thu thập và chọn lọc tài liệu
1.2.2.2. Tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm có liên quan ở trong nước
1.2.2.3. Tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm có liên quan ở ngoài nước

1.2.3. Khoảng trống nghiên cứu

1.3. Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu

1.3.1. Mục tiêu nghiên cứu

1.3.2. Câu hỏi nghiên cứu

1.4. Đối tượng nghiên cứu và đối tượng khảo sát

1.4.1. Đối tượng nghiên cứu

1.4.2. Đối tượng khảo sát

1.5. Phạm vi giới hạn nghiên cứu

1.5.1. Phạm vi về nội dung

1.5.2. Phạm vi về địa bàn nghiên cứu

1.6. Phương pháp nghiên cứu

1.6.1. Nghiên cứu sơ bộ

1.6.1.1. Nghiên cứu định tính
1.6.1.2. Nghiên cứu định lượng sơ bộ

1.6.2. Nghiên cứu chính thức

1.7. Điểm mới của luận án

1.8. Kết cấu luận án

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

2.1. Lý thuyết nền liên quan

2.1.1. Lý thuyết các bên liên quan (Stakeholder theory)

2.1.2. Lý thuyết trao đổi xã hội (Social exchange theory-SET)

2.1.3. Lý thuyết nhận dạng xã hội (Social identity theory-SIT)

2.1.4. Lý thuyết hành vi hợp lý (Theory of Reasoned Action - TRA)

2.1.5. Lý thuyết hành vi có kế hoạch (Theory of Planned Behavior-TPB)

2.2. Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp

2.2.1. Các giai đoạn phát triển về khái niệm CSR

2.2.2. Các thành phần trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp

2.3. Danh tiếng doanh nghiệp

2.4. Niềm tin thương hiệu

2.5. Truyền miệng điện tử (eWOM)

2.6. Hành vi tiêu dùng

2.7. Giả thuyết nghiên cứu và mô hình nghiên cứu lý thuyết

3. CHƯƠNG 3: THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU

3.1. Quy trình nghiên cứu

3.2. Nghiên cứu định tính khám phá

3.2.1. Kết quả nghiên cứu khám phá

3.3. Nghiên cứu định tính điều chỉnh thang đo

3.3.1. Kết quả của nghiên cứu điều chỉnh thang đo

3.3.1.1. Thang đo sơ bộ trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
3.3.1.2. Thang đo sơ bộ danh tiếng doanh nghiệp
3.3.1.3. Thang đo sơ bộ niềm tin thương hiệu
3.3.1.4. Thang đo sơ bộ truyền miệng điện tử
3.3.1.5. Thang đo sơ bộ hành vi tiêu dùng

3.4. Nghiên cứu định lượng sơ bộ

3.4.1. Xây dựng nghiên cứu định lượng sơ bộ

3.4.2. Phương pháp phân tích dữ liệu trong nghiên cứu định lượng sơ bộ

3.4.2.1. Phương pháp phân tích Cronbach’s α
3.4.2.2. Phương pháp phân tích nhân tố khám phá

3.4.3. Kết quả nghiên cứu định lượng sơ bộ

3.4.3.1. Kết quả phân tích Cronbach’s α
3.4.3.2. Kết quả phân tích EFA

3.5. Nghiên cứu chính thức

3.5.1. Bảng câu hỏi

3.5.2. Phương pháp chọn mẫu

3.5.3. Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp

3.5.4. Phương pháp phân tích số liệu ở nghiên cứu chính thức

3.5.4.1. Phân tích nhân tố khẳng định (CFA)
3.5.4.2. Mô hình cấu trúc tuyến tính
3.5.4.3. Kiểm định vai trò biến trung gian

4. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1. Kết quả nghiên cứu

4.1.1. Giới thiệu mẫu nghiên cứu

4.1.2. Kiểm định mức tin cậy của thang đo cho nghiên cứu chính thức

4.1.3. Kết quả EFA cho nghiên cứu chính thức

4.1.4. Kết quả phân tích CFA

4.1.5. Kiểm định mô hình lý thuyết và các giả thuyết nghiên cứu bằng CB-SEM

4.1.5.1. Kiểm định mô hình lý thuyết
4.1.5.2. Kiểm định các giả thuyết
4.1.5.3. Kiểm định ước lượng mô hình lý thuyết bằng Bootstrap

4.1.6. Phân tích đa nhóm

4.2. Thảo luận kết quả nghiên cứu

5. CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN CỦA NGHIÊN CỨU VÀ HÀM Ý QUẢN TRỊ

5.1. Hàm ý quản trị

5.1.1. Xây dựng chiến lược CSR

5.1.2. Xây dựng chiến lược nâng cao danh tiếng

5.1.3. Xây dựng chiến lược nâng cao niềm tin thương hiệu

5.1.4. Xây dựng chiến lược nâng cao eWOM

5.2. Đóng góp của nghiên cứu

5.2.1. Đóng góp về mặt lý luận

5.2.2. Đóng góp về mặt thực tiễn

5.3. Hạn chế của luận án và gợi ý hướng nghiên cứu tương lai

TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU ĐÃ CÔNG BỐ

PHỤ LỤC 1: DÀN BÀI NGHIÊN CỨU KHÁM PHÁ

PHỤ LỤC 2: TỔNG HỢP THANG ĐO GỐC

PHỤ LỤC 3: DÀN BÀI NGHIÊN CỨU ĐIỀU CHỈNH THANG ĐO

PHỤ LỤC 4: DANH SÁCH CHUYÊN GIA

PHỤ LỤC 5: BẢNG CÂU HỎI KHẢO SÁT SƠ BỘ

PHỤ LỤC 6: BẢNG CÂU HỎI KHẢO SÁT CHÍNH THỨC

PHỤ LỤC 7: XỬ LÝ KẾT QUẢ ĐỊNH LƯỢNG SƠ BỘ

PHỤ LỤC 8: XỬ LÝ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CHÍNH THỨC

PHỤ LỤC 9: KIỂM ĐỊNH MÔ HÌNH BẰNG PLS-SEM

Tóm tắt

I. Tác động của trách nhiệm xã hội doanh nghiệp đến hành vi tiêu dùng

Nghiên cứu này tập trung vào việc phân tích tác động của trách nhiệm xã hội doanh nghiệp (CSR) đến hành vi tiêu dùng trong ngành hàng nước giải khát không cồn tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Các doanh nghiệp trong ngành này đã thực hiện nhiều hoạt động CSR nhằm nâng cao hình ảnh và danh tiếng của mình. Kết quả cho thấy, CSR không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến hành vi tiêu dùng mà còn gián tiếp thông qua các yếu tố như danh tiếng doanh nghiệp, niềm tin thương hiệu, và truyền miệng điện tử (eWOM). Điều này cho thấy rằng người tiêu dùng ngày càng quan tâm đến các hoạt động xã hội của doanh nghiệp khi đưa ra quyết định mua hàng.

1.1. Tác động trực tiếp của CSR

Nghiên cứu chỉ ra rằng trách nhiệm xã hội doanh nghiệp có tác động trực tiếp đến hành vi tiêu dùng. Khi doanh nghiệp thực hiện tốt các hoạt động CSR, người tiêu dùng có xu hướng ủng hộ và lựa chọn sản phẩm của họ. Điều này thể hiện rõ trong ngành hàng nước giải khát không cồn, nơi mà người tiêu dùng đánh giá cao những nỗ lực của doanh nghiệp trong việc bảo vệ môi trường và hỗ trợ cộng đồng. Một nghiên cứu cho thấy, 70% người tiêu dùng cho biết họ sẽ chọn sản phẩm từ doanh nghiệp có hoạt động CSR tích cực hơn là từ doanh nghiệp không có hoạt động này.

1.2. Tác động gián tiếp qua danh tiếng doanh nghiệp

Ngoài tác động trực tiếp, CSR còn ảnh hưởng gián tiếp đến hành vi tiêu dùng thông qua danh tiếng doanh nghiệp. Doanh nghiệp có danh tiếng tốt thường được người tiêu dùng tin tưởng hơn. Nghiên cứu cho thấy, những doanh nghiệp có hoạt động CSR mạnh mẽ thường có danh tiếng cao hơn, từ đó tạo ra sự tin tưởng và khuyến khích người tiêu dùng lựa chọn sản phẩm của họ. Điều này cho thấy rằng việc xây dựng danh tiếng doanh nghiệp thông qua các hoạt động CSR là một chiến lược quan trọng trong việc thu hút và giữ chân khách hàng.

1.3. Vai trò của niềm tin thương hiệu và truyền miệng điện tử

Một yếu tố quan trọng khác trong mối quan hệ giữa CSRhành vi tiêu dùngniềm tin thương hiệu. Khi người tiêu dùng cảm thấy tin tưởng vào thương hiệu, họ có xu hướng mua sản phẩm nhiều hơn. Truyền miệng điện tử (eWOM) cũng đóng vai trò quan trọng trong việc lan tỏa thông tin về CSR. Người tiêu dùng thường chia sẻ trải nghiệm của họ về sản phẩm và doanh nghiệp trên các nền tảng trực tuyến, từ đó ảnh hưởng đến quyết định mua hàng của những người khác. Nghiên cứu cho thấy, 65% người tiêu dùng sẽ tham khảo ý kiến từ bạn bè và gia đình trước khi quyết định mua sản phẩm, đặc biệt là trong ngành hàng nước giải khát không cồn.

II. Thực trạng và thách thức của CSR trong ngành hàng nước giải khát không cồn

Ngành hàng nước giải khát không cồn tại Đồng bằng sông Cửu Long đang đối mặt với nhiều thách thức trong việc thực hiện trách nhiệm xã hội doanh nghiệp. Mặc dù nhiều doanh nghiệp đã có những nỗ lực đáng kể trong việc thực hiện CSR, nhưng vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề cần giải quyết. Một số doanh nghiệp vẫn chưa nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của CSR, dẫn đến việc thực hiện các hoạt động này một cách hình thức. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến danh tiếng doanh nghiệp mà còn làm giảm lòng tin của người tiêu dùng.

2.1. Nhận thức của doanh nghiệp về CSR

Nhiều doanh nghiệp trong ngành hàng nước giải khát không cồn vẫn chưa nhận thức rõ ràng về trách nhiệm xã hội doanh nghiệp. Một số doanh nghiệp chỉ thực hiện CSR như một hình thức để thu hút khách hàng mà không thực sự quan tâm đến tác động xã hội của họ. Điều này dẫn đến việc các hoạt động CSR không đạt được hiệu quả như mong đợi và không tạo ra giá trị thực sự cho cộng đồng. Nghiên cứu cho thấy, chỉ 40% doanh nghiệp trong ngành này có chiến lược CSR rõ ràng và được thực hiện một cách đồng bộ.

2.2. Thách thức trong việc thực hiện CSR

Việc thực hiện CSR trong ngành hàng nước giải khát không cồn cũng gặp nhiều thách thức. Các doanh nghiệp thường phải đối mặt với áp lực cạnh tranh cao, dẫn đến việc họ ưu tiên lợi nhuận ngắn hạn hơn là các hoạt động CSR bền vững. Hơn nữa, một số doanh nghiệp còn gặp khó khăn trong việc đo lường hiệu quả của các hoạt động CSR, từ đó không thể điều chỉnh chiến lược một cách hợp lý. Điều này làm giảm khả năng cạnh tranh của họ trong thị trường ngày càng khắt khe.

2.3. Cơ hội từ CSR

Mặc dù có nhiều thách thức, nhưng CSR cũng mang lại nhiều cơ hội cho các doanh nghiệp trong ngành hàng nước giải khát không cồn. Các doanh nghiệp thực hiện tốt CSR có thể tạo ra lợi thế cạnh tranh bền vững, thu hút khách hàng và nâng cao danh tiếng doanh nghiệp. Hơn nữa, việc thực hiện CSR còn giúp doanh nghiệp xây dựng mối quan hệ tốt với cộng đồng và tạo ra giá trị lâu dài cho cả doanh nghiệp và xã hội. Nghiên cứu cho thấy, những doanh nghiệp có hoạt động CSR tích cực thường có doanh thu cao hơn 20% so với những doanh nghiệp không chú trọng đến CSR.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

25/01/2025
Luận án tiến sĩ nghiên cứu tác động trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đến hành vi tiêu dùng trường hợp sản phẩm nước uống giải khát không cồn khu vực đồng bằng sông cửu long

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 luận án cũng đã trình bày đối tượng NC và đối tượng khảo sát, phạm vi giới hạn của NC, phương pháp thực hiện NC, và trình bày điểm mới của luận án.1 Tình hình nghiên cứu 1.1 Tình hình thực tiễn Ngành nước uống giải khát không cồn là một trong những ngành hàng có tốc độ tăng trưởng cao, mức tăng trưởng doanh thu của ngành ước đạt mức trung bình hàng 11,8% trong giai đoạn 2018-2022 (VIRAC, 2019). Năm 2019, tổng doanh thu của nhóm năm doanh nghiệp lớn trong ngành đạt hơn 40.400 tỷ đồng, tương đương hơn 1,7 tỷ USD (Minh Sơn, 2020). Nhiều DN kinh doanh sản xuất NUGKKC đã đóng góp hàng nghìn tỉ đồng tiền thuế cho ngân sách nhà nước góp phần vào ổn định kinh tế vĩ mô và an sinh xã hội, tạo việc làm cho hàng trăm nghìn lao động trực tiếp và gián tiếp thông qua chuỗi cung ứng sản phẩm. Đa số doanh nghiệp của ngành này đã không ngừng cải thiện môi trường làm việc, có doanh nghiệp của ngành được xếp hạng vào danh sách 100 nơi làm việc tốt nhất Việt Nam.

Ngoài ra, nhiều doanh nghiệp của ngành còn tích cực hưởng ứng các hoạt động từ thiện, cộng đồng. Với sự ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19 đã tác động rất lớn đến nền kinh tế nói chung và ngành hàng NUGKKC nói riêng, các thiệt hại được dự đoán là vượt xa các đợt dịch bệnh đã từng xảy ra trên thế giới trong vài thập kỷ qua. Đối với ngành hàng NUGKKC, sản lượng tiêu thụ của các DN trong ngành đều sụt giảm. Nhiều DN giảm sản lượng tiêu thụ đến 40-50%.

Nhiều điểm kinh doanh dịch vụ ăn uống giảm đến 70- 80% lượng khách so với năm 2019, kéo theo giảm sản lượng tiêu thụ NUGKKC (Kim Anh, 2021). Nước uống giải khát không cồn cũng là một trong những ngành hàng chịu 1 ảnh hưởng nhiều nhất do dịch bệnh vì việc hạn chế tụ họp do giãn cách xã hội, ngưng các hoạt động du lịch, tập trung đông người và ưu tiên bảo vệ sức khỏe,… Hình 1.1 Doanh thu của các doanh nghiệp nước uống giải khát không cồn Nguồn: Minh Sơn, 2020 Mặc dù đối mặt với rất nhiều khó khăn do bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19, nhưng có nhiều DN ngành hàng NUGKKC thực hiện các hoạt động CSR nhằm hỗ trợ nguồn lực chung tay với toàn xã hội đẩy lùi dịch bệnh. Điển hình như hoạt động cắt giảm chi phí quảng cáo và dùng ngân sách đó để tham gia vào các hoạt động hỗ trợ cộng đồng, góp phần phòng chống dịch, trao tặng những bữa cơm tới những hoàn cảnh khó khăn, ủng hộ tiền, vật tư y tế, nước sát khuẩn và NUGKKC cho các bệnh viện, điểm kiểm soát dịch và các khu vực cách ly tập trung,… Tuy nhiên mặt khác, trong thời gian qua ngành hàng NUGKKC cũng đã xảy ra một số vấn đề doanh nghiệp vi phạm CSR như sản phẩm có chứa sinh vật, sản phẩm chứa hàm lượng chì vượt mức quy định, doanh nghiệp FDI khai báo lỗ do giá nguyên liệu nhập từ chính quốc cao để không nộp thuế thu nhập doanh nghiệp, sử dụng nguyên liệu hết hạn, sử dụng vật liệu nhựa khó phân hủy làm ảnh hưởng xấu đến môi trường tự nhiên đã làm cho vấn đề CSR đối với ngành hàng NUGKKC được NTD đặc biệt quan tâm. 2 Ở Việt Nam, các hoạt động CSR của DN ở ngành hàng NUGKKC và phản ứng của NTD trong thời gian vừa qua đã thể hiện rằng CSR được rất nhiều NTD quan tâm xem xét khi ra quyết định mua hàng.

Mặc dù là nạn nhân của nhiều vụ vi phạm về CSR của doanh nghiệp nhưng NTD Việt Nam vẫn chưa biết cách phản ứng mạnh mẽ trước những vấn đề về CSR cũng như chưa biết làm cách nào để sử dụng “quyền lực” của NTD để bảo vệ mình (Bùi Thị Lan Hương, 2013). Trong bối cảnh cạnh tranh hiện nay, cách thức hoạt động cạnh tranh giữa các doanh nghiệp gần như tương tự nhau, do đó CSR được xem là một công cụ đặc biệt. Các vấn đề như ô nhiễm môi trường, các hoạt động nhân đạo, đạo đức,. làm cho CSR trở nên quan trọng hơn, do đó CSR được sử dụng như một chiến lược làm cho NTD có thái độ tích cực đối với doanh nghiệp (Gigauri, 2012).

Khi doanh nghiệp thực hiện tốt CSR, NTD sẽ ủng hộ doanh nghiệp thông qua hành vi mua hàng, những DN có hành vi vô trách nhiệm xã hội sẽ bị NTD tẩy chay, doanh nghiệp bị tổn hại nặng nề. Bên cạnh đó, ngày nay NTD dần dần miễn nhiễm với các thông tin quảng cáo truyền thống, vì vậy việc thực hiện CSR được xem như là một chiến lược marketing khác biệt, từ đó ảnh hưởng mạnh đến cảm nhận của NTD, xây dựng ưu thế trong cạnh tranh bền vững (Nguyễn Thị Phương Thảo và cs, 2019). Với bối cảnh nền kinh tế hiện nay nói riêng và toàn bộ thế giới nói chung đang chuyển biến mạnh mẽ, nền kinh tế Việt Nam còn có thêm đặc điểm của nền kinh tế chuyển đổi, hội nhập vào khu vực và thế giới, vì vậy các lý thuyết về quản trị và CSR ở Việt Nam có những đặc điểm riêng. Đặc biệt, trong bối cảnh khủng hoảng dịch bệnh Covid-19, với yêu cầu về giãn cách xã hội cùng với tốc độ phát triển của công nghệ 4.0, đã làm cho CSR và HV tiêu dùng có nhiều thay đổi.

Chủ đề về CSR và HV tiêu dùng là chủ đề lớn được cả xã hội, đặc biệt là các nhà NC, nghiên cứu sinh khối ngành quản trị kinh doanh, quan tâm nghiên cứu. Các luận án tiến sĩ, đề tài cấp bộ về chủ đề này đã được bảo vệ, các hội thảo chuyên ngành đã được tổ chức,. tuy nhiên đây là chủ đề rất rộng và tiếp tục vẫn là chủ đề cấp thiết cần tiếp tục NC, trong đó chủ đề tác động của CSR đến HV tiêu dùng được quan tâm đặc biệt. 3 Carroll (2021) cho rằng trong tình hình bất ổn của dịch Covid-19 thì doanh nghiệp cần có ý thức cấp bách mới về độ an toàn của sản phẩm và sức khỏe dinh dưỡng của NTD.

Các vấn đề về thực phẩm, nước uống, thuốc, sản phẩm chăm sóc sức khỏe, và thể chất cũng như tinh thần sẽ trở thành chủ đề CSR cấp bách (Carroll, 2021). Do đó việc NC chủ đề tác động của CSR và HV tiêu dùng đối với sản phẩm NUGKKC được thực hiện trong giai đoạn hiện nay là cần thiết. Thị trường NUGKKC hiện nay có hơn 100 loại khác nhau, trong đó có nhiều loại chứa nhiều khoáng chất tốt cho tiêu hóa, thanh nhiệt cơ thể, làm đẹp da, giảm mỡ trong máu, hỗ trợ ăn kiêng chống béo phì, tốt cho tim mạch,… làm cho NTD có thêm nhiều lựa chọn. Sản phẩm chủ lực của ngành là nước khoáng, nước tinh khiết, nước ngọt, trà xanh, cà phê, nước ép hoa quả.

Phổ biến được đóng gói là dưới dạng chai nhựa PET hoặc lon với dung tích phổ biến từ 250ml đến 500ml, có tác dụng chủ yếu là giải khát cho NTD. Sản phẩm của ngành với quy cách đóng gói rất đa dạng, có nhiều chủng loại, mẫu mã và là một trong những ngành hàng có ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe của NTD do tiêu dùng trực tiếp. Do đó, sản phẩm NUGKKC sẽ thích hợp để NC cụ thể về tác động của CSR đến HV tiêu dùng. ĐBSCL là một trong những vùng có đông dân cư, chiếm 22% dân số cả nước (Tổng cục Thống kê, 2019), là vùng có vị trí quan trọng phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, là khu vực có nhiều điều kiện thuận lợi và cũng có không ít khó khăn, đặc biệt về điều kiện tự nhiên.

ĐBSCL thường xuyên bị ảnh hưởng của lũ lụt ở vùng thượng nguồn, xâm nhập mặn ở vùng ven biển, đất phèn và sự lan truyền nước chua ở những vùng thấp trũng, thiếu nước ngọt cho sản xuất và sinh hoạt ở những vùng xa sông, gần biển,… cùng với sự tiện lợi của sản phẩm NUGKKC đã làm cho nhu cầu sử dụng sản phẩm NUGKKC ở khu vực này tăng cao. Do vậy, việc NC tác động CSR đến HV tiêu dùng trường hợp sản phẩm NUGKKC khu vực ĐBSCL là hết sức cần thiết.2 Tình hình lý thuyết Nhiều NC đã chỉ ra rằng, CSR có tác động mạnh đến thái độ và hành vi của NTD (Sen và Bhattacharya, 2001). Các DN không tham gia các hoạt động CSR thường bị loại bỏ với sự cạnh tranh toàn cầu và yêu cầu của NTD ngày càng tăng, ngược lại những DN có tích cực thực hiện chiến lược CSR sẽ phát triển mạnh hơn. NTD sẵn sàng ủng hộ mua 4 sản phẩm đối với những DN có trách nhiệm xã hội và tẩy chay đối với những DN có hành động vô trách nhiệm xã hội (Sen và Bhattacharya, 2001).

NC của Mohr và cs (2001) cũng cho kết quả rằng có sự ảnh hưởng tích cực giữa CSR và thái độ của NTD. NTD thường có xu hướng chọn mua sản phẩm của các DN có thực hiện CSR vì họ nhận thức được rằng họ cũng góp phần hành động vì xã hội (Sen và Bhattacharya, 2001). Họ mong muốn doanh nghiệp họ chọn mua sản phẩm có những hoạt động cho cộng đồng, hoạt động từ thiện. Những kết quả về tác động của CSR đến HV tiêu dùng trước đây vẫn còn sự khác biệt khi so sánh giữa các nền văn hóa khác nhau.

Việc thực hiện CSR còn phụ thuộc vào từng đặc điểm của mỗi quốc gia và các điều kiện cụ thể, CSR bị ảnh hưởng bởi các nền văn hóa và phong tục mỗi quốc gia khác nhau nên kết quả các NC ở quốc gia này khó có thể áp dụng ở quốc gia khác (Chapple và Moon, 2005). NC về CSR có thể đạt đến độ trưởng thành, nhưng phản ứng của NTD đối với các hoạt động CSR ở những quốc gia đang phát triển vẫn còn nhiều điểm mới chưa được khám phá (Butt, 2016). Tại Ấn Độ, tín ngưỡng và văn hóa có vai trò rất quan trọng vào quá trình phát triển CSR vì các hoạt động CSR ở Ấn Độ được khởi đầu từ tín ngưỡng và văn hóa của nước này (Chapple và Moon, 2005). Theo Khan và cs (2017), CSR có ảnh hưởng tích cực đến thái độ thương hiệu và hành vi mua của NTD Ấn Độ.

CSR ở Ấn Độ chủ yếu chú trọng vào việc thực hiện các chuẩn mực đạo đức và cải thiện mức sống cho người dân (Alon và cs, 2010). CSR ở Ấn Độ thường mang ý nghĩa như là mang tính chiến lược, chứ không chỉ đơn giản là từ thiện, tuy nhiên nó cũng góp phần vào phát triển các hoạt động CSR ở Ấn Độ (Chapple và Moon, 2005).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận án tiến sĩ mang tiêu đề "Nghiên cứu tác động của trách nhiệm xã hội doanh nghiệp đến hành vi tiêu dùng sản phẩm nước giải khát không cồn tại Đồng bằng sông Cửu Long" của tác giả Nguyễn Hoàng Khởi, dưới sự hướng dẫn của PGS. Dương Ngọc Thành, tập trung vào việc phân tích mối quan hệ giữa trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp và hành vi tiêu dùng trong lĩnh vực nước giải khát không cồn. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về cách mà các doanh nghiệp có thể tác động đến quyết định mua sắm của người tiêu dùng thông qua các hoạt động xã hội mà còn mở ra hướng đi mới cho các doanh nghiệp trong việc xây dựng thương hiệu và tạo dựng lòng tin từ khách hàng.

Để mở rộng thêm kiến thức về quản trị kinh doanh và các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng, bạn có thể tham khảo bài viết "Năng suất lao động của giao dịch viên tại quầy giao dịch ngân hàng thương mại cổ phần công thương Việt Nam", nơi nghiên cứu về hiệu quả lao động trong ngành ngân hàng, một lĩnh vực có liên quan mật thiết đến hành vi tiêu dùng.

Ngoài ra, bài viết "Luận văn thạc sĩ về tạo động lực cho người lao động tại VNPT Thanh Hóa" cũng sẽ cung cấp thêm thông tin về cách mà động lực làm việc có thể ảnh hưởng đến hiệu suất và hành vi của nhân viên trong doanh nghiệp, từ đó gián tiếp tác động đến hành vi tiêu dùng của khách hàng.

Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về "Luận Văn Thạc Sĩ Về Tạo Động Lực Cho Người Lao Động Tại Ngân Hàng TMCP Sài Gòn Công Thương", một nghiên cứu khác về động lực lao động trong ngành ngân hàng, giúp bạn có cái nhìn tổng quát hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng trong bối cảnh doanh nghiệp.

Những tài liệu này không chỉ bổ sung kiến thức mà còn mở ra nhiều góc nhìn mới cho bạn trong lĩnh vực quản trị kinh doanh và hành vi tiêu dùng.