Chương 1: Tổng quan nghiên cứu Giới thiệu lý do chọn đề tài, xác định mục tiêu nghiên cứu tổng quát và cụ thể, xác định đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, xây dựng phương pháp nghiên cứu, nêu ý nghĩa về mặt thực tiễn và khoa học của đề tài, cuối cùng trình bày cấu trúc bài nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết Đưa ra các khái niệm liên quan đến truyền miệng điện tử, hình ảnh thương hiệu, mỹ phẩm và các thuyết hành vi. Giới thiệu các bài nghiên cứu của các tác giả khác trong và ngoài nước trước đây. Từ đó đề xuất mô hình và giả thuyết nghiên cứu.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Trình bày các bước trong quy trình nghiên cứu, phương pháp thu thập dữ liệu nghiên cứu, chọn mẫu, xác định kích cỡ mẫu, thiết kế thang đo, bảng câu hỏi và phương pháp phân tích dữ liệu chính thức, kết quả nghiên cứu sơ bộ. Chương 4: Kết quả nghiên cứu 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Truyền miệng điện tử (Electronic Word – of – Mouth) 2.1 Truyền miệng truyền thống (Word – of – Mouth) Theo Dellarocas (2003), một trong những cách truyền đạt thông tin lâu đời nhất đó là truyền miệng. Truyền miệng (WOM) xuất hiện vào những năm đầu, những định nghĩa đầu tiên được đưa ra bởi Katz & cộng sự (1966), tác giả đã mô tả WOM là quá trình truyền đạt giữa người tiêu dùng và nhà tiếp thị, quá trình này giúp khách hàng hình thành cảm nhận, hành vi và thái độ đối với sản phẩm hoặc dịch vụ. Định nghĩa đơn giản hơn về WOM, chỉ là một cuộc giao tiếp trực tiếp giữa người với người (Arndt, 1967).
Sau đó, định nghĩa về truyền miệng được trình bày một cách khái quát hơn, là cuộc giao tiếp không chính thức hướng đến những người tiêu dùng về quyền sử dụng, quyền sở hữu hoặc những đặc trưng riêng của hàng hóa và dịch vụ cụ thể (Westbrook, 1987). Định nghĩa của Anderson (1998) về truyền miệng truyền thống (WOM) được xem như là một hình thức giao tiếp giữa các bên liên quan đến việc đánh giá hàng hóa, dịch vụ mà không có sự tham gia của quảng cáo, chỉ thông qua lời nói/ truyền miệng của khách hàng và những người trải nghiệm sản phẩm hoặc dịch vụ. Giá trị của lời truyền miệng có thể là tích cực, trung tính hoặc tiêu cực. Thông thường những lời truyền miệng tích cực thường kể lại những trải nghiệm thú vị, độc đáo, hoặc đưa ra những chia sẻ, khuyến nghị cho người khác.
Ngược lại, đối với truyền miệng mang tính tiêu cực bao gồm những hàng vi chê bai sản phẩm, phàn nàn về dịch vụ hoặc kể lại những trải nghiệm không vui. Theo Litvin & cộng sự (2008), lời nói của người tiêu dùng là hình thức truyền thông mang sức lan tỏa cao về sản phẩm, dịch vụ mà không bị ảnh hưởng của quảng cáo. Truyền miệng truyền thống được công nhận là một trong những nguồn truyền tải thông tin có sức ảnh hưởng nhất và được nhận định có sự tác động đáng kể trong việc ảnh hưởng và hình thành ý định hành vi mua hàng của người tiêu dùng (Jalilvand & Samiei, 2012).2 Truyền miệng điện tử (Electronic Word – of – Month) Theo Kala & Chaubey (2018), truyền thông WOM được công nhận rộng rãi là một nguồn thông tin phi thương mại và đáng tin cậy, có tác động mạnh đến việc hình thành thái độ và ý định mua của người tiêu dùng. Internet xuất hiện giúp cho con người có thể giao tiếp với nhau mà không bị giới hạn về không gian hay thời gian, điều này đưa truyền miệng truyền phát triển rộng, được gọi là truyền miệng điện tử (eWOM) (Beneke & cộng sự, 2015).
Theo Hennig-Thurau & cộng sự (2004), eWOM là thông tin do người tiêu dùng chia sẻ về một sản phẩm hoặc công ty, bao gồm các đánh giá tích cực và tiêu cực được công bố công khai trên Internet và có thể tiếp cận bởi nhiều người tiêu dùng, tổ chức khác. Khái niệm về eWOM được Litvin & cộng sự (2008) mô tả là tất cả những thông tin không chính thức được người dùng Internet chia sẻ với người tiêu dùng, liên quan đến việc sử dụng, đặc tính của hàng hóa và dịch vụ. Ưu điểm nổi bật nhất của eWOM là dễ tiếp cận cho tất cả miễn là họ có sử dụng nền tảng trực tuyến. Người tiêu dùng có thể tận dụng ưu điểm sẵn có của eWOM để chia sẻ ý kiến đánh giá, cảm nhận cá nhân với những người tiêu dùng khác.
Ngày nay khách hàng tìm đến những nhận xét trực tuyến để xem xét thông tin về sản phẩm, dịch vụ (Nieto & cộng sự, 2014). Theo Bataineh (2015), eWOM là hành động mà người dùng Internet chia sẻ ý kiến, thông tin của mình tại bất kỳ một kênh truyền thông mà không bị giới hạn về thời gian và địa điểm. Sự phát triển nhanh chóng của Internet và cụ thể hơn là các trang mạng xã hội, những kênh thương mại điện tử đã tạo ra những thay đổi đa dạng trong hành vi, ý định mua hàng và quá trình ra quyết định của người tiêu dùng. Khách hàng có thể dễ dàng tìm kiếm được những thông tin đa dạng phong phú trên nền tảng khác nhau (Wan Zulkiffli & cộng sự, 2017).
Những kiến thức về sản phẩm, dịch vụ được truyền đạt qua eWOM mở ra một lượng thông tin khổng lồ và đa dạng mà các doanh nghiệp hiếm khi có thể cung cấp được, eWOM được cung cấp từ nhiều góc độ khác nhau như là: thương hiệu, giá cả, danh tiếng, hiệu quả và các vấn đề tiềm ẩn khác. EWOM có thể đưa ra cảnh báo cho người tiêu dùng về các thương hiệu ít được biết đến và những trải nghiệm sử dụng cùng một sản phẩm, dịch vụ từ nhiều người (Hung & Li, 2007). Ngoài những ưu điểm dành cho người tiêu dùng, eWOM còn cung cấp cho doanh nghiệp cách để xác định nhu cầu và nhận thức từ khách hàng, là một cách hiệu quả về chi phí để giao tiếp với họ (Nieto & cộng sự, 2014). Ngày nay, eWOM 9 đã trở thành một phương tiện quan trọng trong việc tiếp thị trên mạng xã hội của các doanh nghiệp (Hussain & cộng sự, 2017).
Nhìn chung, eWOM là nguồn thông tin phi thương mại, đáng tin cậy có ảnh hưởng đến thái độ và ý định của người tiêu dùng. eWOM cung cấp lượng thông tin khổng lồ đa dạng về sản phẩm, giúp người tiêu dùng cảnh báo thương hiệu kém chất lượng hoặc so sánh các trải nghiệm. eWOM là công cụ quan trọng trong tiếp thị ảnh hưởng đến nhà tiêu dùng và doanh nghiệp.3 Đặc điểm của truyền miệng điện tử Đặc điểm nổi bật nhất của truyền miệng điện tử (eWOM), theo Huete-Alcocer (2017) là tốc độ truyền đạt thông tin lan truyền một cách nhanh chóng. Theo quan điểm của C.
Park & Lee (2009) chia sẻ về đặc điểm của eWOM là hầu hết những thông tin được chia sẻ trên Internet đều được trình bày hiển thị dưới dạng văn bản và có thể lưu trữ. Trong nghiên cứu của Litvin & cộng sự (2008), miễn là người dùng có sử dụng nền tảng trực tuyến thì họ có thể đọc được những đánh giá, bình luận có liên quan đến sản phẩm họ quan tâm. Theo Chatterjee (2001) cho rằng mối liên kết giữa người truyền tải và người tiếp nhận thông tin từ truyền miệng điện tử không được đánh giá cao, thiếu sự ràng buộc. Lý do xuất phát từ việc bất kỳ ai cũng có thể chia sẻ đăng tải quan điểm cá nhân về sản phẩm khiến cho người tiếp nhận thông tin gặp nhiều khó khăn trong việc xác định tính chính xác của thông tin.
Do đó, nguy cơ thông tin sai lệch hoặc thông tin không chính xác được truyền tải đến người tiêu dùng là rất cao (Chatterjee, 2001). Dựa vào những đặc điểm trên, người tiêu dùng có thể tận dụng truyền miệng điện tử (eWOM) một cách thông minh. Bằng việc đọc nhiều đánh giá khác nhau để có được cái nhìn toàn diện, đưa ra so sánh với các nguồn thông tin khác từ đánh giá của chuyên gia hoặc trang web chính thức của sản phẩm hay dịch vụ. Người tiêu dùng có thể báo cáo những thông tin eWOM sai lệch hoặc không chính xác, vì eWOM chỉ là ý kiến của cá nhân nên người tiêu dùng cần tỉnh táo để xem xét.
Sử dụng truyền miệng điện tử (eWOM) một cách thông minh sẽ giúp bạn đưa ra quyết định mua hàng sáng suốt và tránh được những rủi ro tiềm ẩn.4 So sánh giữa truyền miệng (WOM) và truyền miệng điện tử (eWOM) Giống nhau: Cả WOM và eWOM đều có khả năng lan truyền thông tin nhanh chóng và rộng rãi, đặc biệt eWOM với sự hỗ trợ của Internet và mạng xã hội. Những thông tin đến từ WOM và eWOM thường được người tiêu dùng tin tưởng và đánh giá cao hơn là những thông tin quảng cáo đến từ doanh nghiệp vì tính khách quan và chân thực. Cả WOM và eWOM đều có thể ảnh hưởng đến ý định và quyết định mua hàng của người tiêu dùng, đặc biệt là những sản phẩm mới ra mắt hoặc người tiêu dùng lần đầu tiên sử dụng sản phẩm và dịch vụ đó.1: Điểm khác nhau cơ bản của WOM và eWOM WOM eWOM Khả năng tiếp cận Khó khăn trong việc tiếp cận. Dễ dàng tiếp cận bằng Internet.
Thông tin được chia sẻ không Là cuộc giao tiếp trực tiếp mang tính bảo mật vì được lưu lại Quyền riêng tư giữa các cá nhân với nhau, nên đôi khi có thể bị bất kỳ ai xem diễn ra trong thời gian thực. trong bất kể thời gian nào Người nhận thông tin biết Danh tính của người gửi, người được người truyền thông tin nhận khó có thể xác minh tính Sự đáng tin là ai và thường có ảnh hưởng chính xác và nguồn gốc của thông tích cực đến độ tin cậy của tin. Thông tin được lan truyền rất Nhờ có Internet, việc tham khảo chậm, người tiêu dùng cần có Tốc độ lan truyền thông tin một cách nhanh chóng và mặt và trực tiếp tham gia vào linh hoạt. quá trình chia sẻ thông tin Nguồn: Tác giả tự tổng hợp 2.2 Các khía cạnh của truyền miệng điện tử eWOM được Lin & cộng sự (2013) phân chia thành 3 khía cạnh: chất lượng, số lượng và chuyên môn người gửi.
Nghiên cứu khác của Bataineh (2015) cũng đề xuất 3 yếu tố cho 11 eWOM, bao gồm chất lượng, số lượng và độ tin cậy. Tiếp tục kế thừa từ 2 nghiên cứu trên, trong bài nghiên cứu này, eWOM được nghiên cứu theo 4 khía cạnh là: chất lượng eWOM, số lượng eWOM, độ tin cậy eWOM và chuyên môn người gửi, cụ thể như sau: 2.