CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU. Khái quát về người cao tuổi ở Việt Nam hiện nay. Khái niệm về người cao tuổi.
Có rất nhiều khái niệm khác nhau về người cao tuổi. Trước đây, người ta thường dùng thuật ngữ người già để chỉ những người có tuổi, hiện nay thuật ngữ “người cao tuổi” ngày càng được sử dụng nhiều hơn. Hai thuật ngữ này tuy không khác nhau về mặt khoa học song về tâm lý, “người cao tuổi” là thuật ngữ mang tính tích cực và thể hiện thái độ tôn trọng. Theo quan điểm y học: Người cao tuổi là người ở giai đoạn già hóa gắn liền với việc suy giảm các chức năng của cơ thể.
Về mặt pháp luật: Luật Người cao tuổi Việt Nam (Luật 39/2009/QH12 Người cao tuổi) năm 2009 quy định: Người cao tuổi là “Tất cả các công dân Việt Nam từ 60 tuổi trở lên” [60]. Theo Tổ chức y tế thế giới (WHO) thì: Người cao tuổi phải từ 70 tuổi trở lên. Một số nước phát triển như Đức, Hoa Kỳ… lại quy định người cao tuổi là những người từ 65 tuổi trở lên. Quy định ở mỗi nước có sự khác biệt là do sự khác nhau về lứa tuổi có các biểu hiện về già của người dân ở các nước đó khác nhau.
Những nước có hệ thống y tế, chăm sóc sức khỏe tốt thì tuổi thọ và sức khỏe của người dân cũng được nâng cao. Do đó, các biểu hiện của tuổi già thường đến muộn hơn, nên việc quy định về tuổi của các nước đó cũng khác nhau [80]. Tình hình người cao tuổi ở Việt Nam hiện nay. Những thập kỷ gần đây, tuổi thọ trung bình của con người trên thế giới, đặc biệt ở các nước đang phát triển, đã gia tăng một cách đáng kể.
Song song với tăng tuổi thọ, số lượng người cao tuổi ngày càng cao. Năm 1950, số lượng người cao tuổi trên toàn thế giới là gần 200 triệu, năm 1975 là 350 triệu, năm 2000 là 590 triệu, ước tính đến 2025 sẽ là 1. Như vậy, trong vòng 75 năm (từ 1950 - 2025), số người cao tuổi trên thế giới tăng 423%, đó là sự tăng luan an 5 trưởng rất nhanh. Trong vòng 50 năm trở lại đây, sự gia tăng số lượng người cao tuổidiễn ra ở các nước phát triển là 89%, ở các nước đang phát triển là 347%.
Như vậy, trái với quan niệm thông thường là người cao tuổi chỉ tăng nhanh ở các nước phát triển, còn những nước đang phát triển vốn có nền kinh tế thấp, số lượng người cao tuổi tăng không đáng kể. Thực tế đã cho thấy ở các nước đang phát triển tốc độ gia tăng số người cao tuổi nhanh hơn, dự báo năm 2025, số người cao tuổi ở khu vực các nước đang phát triển sẽ chiếm 3/4 tổng số người cao tuổi trên thế giới [57], [60], [62]. Trong số người cao tuổi thì người ở độ tuổi rất già (từ 80 tuổi trở lên) có tốc độ tăng nhanh hơn cả. Số người trên 80 tuổi năm 1950 trên toàn thế giới là 15 triệu người, đến năm 2025 sẽ là 111 triệu người (tăng 640.00%), trong đó ở các nước phát triển tăng 450% và ở các nước đang phát triển là 857% [62].
Theo kết quả tổng điều tra dân số công bố vào ngày 01/04/2019, tổng số dân của Việt Nam là 96.984 người, trong đó, dân số nam là 47.061 người, chiếm 49.80% và dân số nữ là 48.923 người, chiếm 50. Số người từ 60 tuổi trở lên là 11.409 triệu người. Số người từ 65 tuổi trở lên là 7.417 triệu người[57], [60], [62]. Cũng theo kết quả tổng điều tra dân số năm 2019 cho biết, tuổi thọ trung bình của người Việt Nam là 73.60 tuổi; trong đó, tuổi thọ của nam giới là 71 tuổi, của nữ giới là 76.
Từ năm 1989 đến nay, tuổi thọ trung bình của Việt Nam liên tục tăng, từ 65.20 tuổi năm 1989, tăng lên 73. Chênh lệch về tuổi thọ trung bình giữa nam và nữ qua hai cuộc tổng điều tra gần nhất hầu như không thay đổi, duy trì ở mức khoảng 5. Năm 1960 tuổi thọ bình quân của dân số thế giới là 48 tuổi, của dân số Việt Nam là 40 tuổi, thấp hơn tuổi thọ bình quân của thế giới 8 tuổi, nếu tính theo mức tăng tuổi thọ bình quân cao nhất là 0.1 tuổi/năm thì cần khoảng 80 năm để tuổi thọ bình quân của Việt Nam tăng lên bằng mức chung của thế giới. luan an 6 Năm 2019 tuổi thọ bình quân của dân số thế giới là 72.00 tuổi, của dân số Việt Nam đã là 73.60 tuổi, cao hơn tuổi thọ bình quân của thế giới 1.6 tuổi, nếu cũng tính theo mức tăng tuổi thọ bình quân cao nhất là 0.1 tuổi/năm thì dân số Việt Nam đã già hóa dân số hơn dân số thế giới khoảng 16 năm.
Như vậy tổng thời gian dân số Việt Nam già hóa nhanh so với mức chung của Thế giới là khoảng 96 năm [57], [60], [62]. Như vậy thực tiễn cho thấy, tuổi thọ trung bình của con người trên thế giới, đặc biệt ở các nước đang phát triển đã gia tăng một cách đáng kể, trong đó có Việt Nam. Song song với tăng tuổi thọ trung bình, số lượng người cao tuổi ngày càng cao. Tuổi thọ người dân được tăng cao phản ánh những thành tựu to lớn của phát triển kinh tế - xã hội, trong đó có sự đóng góp của công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng và Nhà nước, sự tham gia tích cực của các ban, ngành, đoàn thể, sự nỗ lực tham gia thực hiện của nhân dân.
Hiện tượng tăng dân số già đồng thời cũng là một thách thức cho xã hội trên toàn thế giới. Cùng với sự lão hóa là sự giảm sút sức khỏe, giảm khả năng thích ứng và bệnh tật gia tăng, từ đó đã đặt ra nhiệm vụ cấp thiết cho toàn xã hội trong công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe người cao tuổi. Chính sách của Đảng và Nhà nước về người cao tuổi hiện nay. Việt Nam là nước có dân số đang già hóa, với tỷ lệ người cao tuổi tăng nhanh chóng cả về số lượng và tỷ trọng trong dân số với đa phần người cao tuổi có đời sống vật chất khó khăn, điều kiện chăm sóc sức khỏe chưa thật đầy đủ, cuộc sống tinh thần chưa thực sự thỏa mãn… Mặc dù tỷ lệ dân số trên 60 tuổi hiện nay mới chỉ hơn 10%, nhưng đến năm 2030, tỷ lệ này sẽ tăng lên 18% và đến 2050 là hơn 30%.
Thêm vào đó, tỷ lệ những người cao tuổi - trên 80 tuổi - cũng sẽ tăng và đến năm 2050 sẽ chiếm trên 6% dân số, từ đó đã đặt ra những thách thức không nhỏ cho đời sống của nhóm người cao tuổi cũng như cho hệ thống an sinh xã hội [8], [60]. luan an 7 Đảng và Nhà nước đã đưa ra nhiều chủ trương và ban hành, triển khai nhiều chính sách cụ thể trên thực tế nhằm tạo ra các khuôn khổ pháp lý để cải thiện và nâng cao chất lượng cuộc sống của người cao tuổi. Trước khi có Luật người cao tuổi, những chủ trương, chính sách: Chỉ thị số 59-CT/TW ngày 27/09/1995 về chăm sóc người cao tuổi; Chỉ thị số 117/TTg ngày 27/02/1996 về chăm sóc người cao tuổi và hỗ trợ hoạt động cho Hội người cao tuổi Việt Nam; Pháp lệnh người cao tuổi số 23/2000/PL- UBTVQH10; Quyết định số 141/2004/QĐ-TTG ngày 05/08/2004 về việc thành lập Ủy ban Quốc gia về người cao tuổi Việt Nam [60]. Các chính sách này với những nội dung căn bản: dành ngân sách để chăm sóc vật chất và tinh thần cho NCT; quan tâm việc tạo điều kiện về mọi mặt để Hội người cao tuổi phát huy tốt vai trò nòng cốt trong phong trào toàn dân chăm sóc người cao tuổi; vận động toàn dân tham gia các hoạt động đền ơn đáp nghĩa, uống nước nhớ nguồn đối với các lão thành cách mạng; chăm sóc vật chất và tinh thần của người già, nhất là những người già cô đơn, không nơi nương tựa; quy định về chăm sóc, phụng dưỡng người cao tuổi; phát huy vai trò của người cao tuổi… Nhờ vậy, người cao tuổi được xã hội quan tâm chăm sóc hơn.
Tại Hiến pháp năm 2013, lần đầu tiên thuật ngữ “người cao tuổi” được nhắc đến tại khoản 2 Điều 59 và khoản 3 Điều 3 khi đề cập một cách đầy đủ và khẳng định mục tiêu phát triển hệ thống an sinh xã hội, bảo đảm bình đẳng, công bằng cho mọi thành viên trong xã hội. Từ cơ sở pháp lý cao nhất này, chính sách đối với người cao tuổi đã được đề cập và cụ thể hóa trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật có liên quan, tạo ra một khuôn khổ chính sách khá toàn diện đối với người cao tuổi ở Việt Nam. Cụ thể: Nghị định số 13/2010/NĐ-CP ngày 27/02/2010 có sửa đổi, bổ sung một số điều về chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội; Nghị định số 06/2011/NĐ-CP ngày 14/01/2011 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật người cao tuổi; Thông tư 21/2011/TT-BTC ngày 18/02/2011 của Bộ Tài luan an 8 chính quy định quản lý và sử dụng kinh phí chăm sóc sức khỏe ban đầu cho người cao tuổi tại nơi cư trú, chúc thọ, mừng thọ và biểu dương, khen thưởng người cao tuổi; Thông tư 35/2011/TT-BYT ngày 15/10/2011 của Bộ Y tế hướng dẫn thực hiện chăm sóc sức khỏe người cao tuổi…; Thông tư 14/2013/TT-BYT; xây dựng và hướng dẫn địa phương triển khai mô hình “Tư vấn và chăm sóc sức khỏe người cao tuổi”… [57], [60], [61]. Để triển khai cụ thể các hoạt động chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi, các đơn vị chức năng liên quan đã ban hành hướng dẫn chi tiết, cụ thể trong từng nội dung như: Bộ Giao thông vận tải có Công văn số 7849/BGTVT-VT ngày 22/11/2011 về việc giảm giá vé cho người cao tuổi khi tham gia giao thông công cộng; Bộ Y tế có Công văn số 1727/BYT-KCB và 1728/BYT-KCB ngày 30/3/2016 về việc thực hiện chăm sóc sức khỏe và khám sức khỏe định kỳ người cao tuổi [62].
Dự thảo Chương trình hành động quốc gia về người cao tuổi giai đoạn 2021-2030, nhằm tăng cường khả năng tiếp cận với các dịch vụ xã hội cơ bản, bảo đảm quyền an sinh xã hội của người cao tuổi về chăm sóc xã hội, chăm sóc y tế phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội của đất nước trong từng giai đoạn, xây dựng xã hội gắn kết nhiều thế hệ, tôn trọng và trợ giúp người cao tuổi. Theo đó, mục tiêu, chương trình đề ra cụ thể là phấn đấu đến năm 2025, giảm tỷ lệ người cao tuổi nghèo xuống ngang bằng với tỷ lệ nghèo chung của cả nước.