Đặt vấn đề), Thân bài (Giải quyết vấn đề) và Kết luận (Kết thúc vấn đề). Phần Mở bài: Cần giới thiệu được vấn đề nghị luận một cách chính xác, hướng người đọc vào nội dung bàn luận một cách tự nhiên và gợi hứng thú với vấn đề được trình bày trong bài văn. Mở bài cần ngắn gọn, tránh tình trạng mở bài dài nhưng không đúng chủ đề hay làm lạc đề. Cần có phần dẫn dắt nhất định để đi vào bài một cách tự nhiên, tránh gò bó, gượng ép gây cảm giác khó chịu cho người đọc.
Có thể mở bài theo hai cách trực tiếp hoặc gián tiếp giới thiệu vấn đề nghị luận. Mở bài trực tiếp là giới thiệu thẳng vào vấn đề cần bàn luận. Mở bài gián tiếp là dẫn dắt từ những vấn đề có liên quan vào vấn đề bàn luận. Phần Thân bài: Được xem như phần chính, phần xương sống của cả bài viết bởi nó làm nhiệm vụ giải quyết những vấn đề chính của đề bài đặt ra.
Phần này thường trả lời cho các câu hỏi: Vấn đề đó nghĩa là gì? Những quan điểm của người viết về vấn đề đó: Vấn đề đó là đúng hay sai, tại sao? Trong thực tế cuộc sống, nó diễn ra phổ biến như thế nào? Cần làm gì để phát huy những mặt tốt và hạn chế những tiêu cực (nếu là mặt xấu) đó trong xã hội hiện nay? Cần làm gì và làm như thế nào để góp phần hiện thực hóa nó vào trong thực tế? Đây là những yêu cầu cơ bản trong việc viết một thân bài của dạng bài NLXH. -8- LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Các vấn đề trên được người viết triển khai thành các luận điểm, luận cứ để giải quyết vấn đề lập luận. Phần kết bài: Là phần thông báo về sự kết thúc của việc trình bày vấn đề, nêu đánh giá khái quát của người viết về những khía cạnh nổi bật nhất của vấn đề, từ đó gợi liên tưởng vấn đề rộng hơn, sâu sắc hơn. Phần kết bài đóng vai trò vô cùng quan trọng vì nó khép lại vấn đề mà cả bài viết bài đang đề cập tới và mở rộng ra những ý kiến cá nhân nhằm làm người đọc có những liên tưởng rõ hơn về cả bài viết.
Nếu mở bài cần tạo hứng thú cho người đọc tìm hiểu vấn đề thì kết bài tạo dư ba cho người đọc về vấn đề đặt ra trong bài viết. Đặc trưng Đặc trưng đầu tiên khi đề cập đến văn bản NLXH là tính nghị luận của văn bản. Bằng việc sử dụng lí lẽ và dẫn chứng, người viết làm sáng tỏ vấn đề nghị luận. Dẫn chứng càng xác thực bao nhiêu, lý lẽ càng chặt chẽ thì càng làm tăng sức thuyết phục bấy nhiêu.
Các luận điểm, luận cứ đưa ra là một chỉnh thể logic nhất quán về nội dung, để tạo thành một lập luận soi sáng vấn đề cần bàn luận. Văn phong sử dụng mang tính mẫu mực cao. Thứ hai là phương diện ngôn ngữ, ngôn ngữ trong văn bản nghị luận xã hội phải là ngôn ngữ được chọn lọc mang tính chuẩn mực. Ngôn ngữ phải mang phong cách ngôn ngữ chính luận.
Nó luôn đòi hỏi phải đảm bảo tính chính xác chặt chẽ, điều này phù hợp với mục đích diễn đạt trong văn nghị luận làm rõ vấn đề thuộc về chân lý để thuyết phục người đọc, người nghe. Vì vậy mà nó đòi hỏi người viết cần biết lựa chọn từ ngữ chính xác, phù hợp với vấn đề nghị luận, tránh sử dụng những từ ngữ lạc phong cách hoặc cầu kì, sáo rỗng. Người viết có thể kết hợp sử dụng các biện phát tu từ từ vựng và những tù ngữ mang tính biểu cảm để bộc lộ cảm xúc phù hợp. Ngoài ra, cần sử dụng kết hợp các kiểu câu tạo nên giọng điệu linh hoạt cho bài viết, sử dụng các biện pháp tư tù cú pháp để tạo nhịp điệu, nhấn mạnh rõ hơn thái độ, quan điểm và cảm xúc của người viết.
-9- LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Phương diện thứ ba là đề tài và nội dung đề cập đến phải mang tính thời sự. Đề tài đó phải liên quan đến thực tế đời sống hàng ngày, là vấn đề mọi người đang quan tâm, muốn tìm hiểu và tìm cách giải quyết để mang lại sự hữu ích cho xã hội. Các vấn đề mang tính thời sự thì có nhiều nhưng quan trọng là phải tìm được vấn đề phù hợp với nhận thức, tâm lý lứa tuổi của học sinh. Từ đó, học sinh được cung cấp, mở rộng vốn sống và có thêm kinh nghiệm sống cho mình.
Một phương diện nữa là dẫn chứng sử dụng trong bài văn NLXH phải gắn liền với thực tiễn đời sống. Điều đó đòi hỏi người viết không chỉ học trong sách vở mà phải biết tự tìm hiểu những tri thức trong cuộc sống hàng ngày. Đó là tất cả những điều các em được trải nghiệm trong cuộc sống. Đó có thể là một câu nói một cử chỉ hành vi, một việc làm tuy rất nhỏ nhưng lại mang đến những bài học nhân sinh lớn lao cho các em.
Học sinh cũng cần mài sắc cho mình các giác quan để nhận thấy cuộc sống đang biến đổi từng ngày, để thu lượm cho mình những dẫn chứng xác đáng cho bài viết. Dẫn chứng phải mang tính chính xác tiêu biểu và chon lọc Để làm tốt một bài văn nghị luận đòi hỏi người viết cần hội tụ trong mình nhiều yếu tố như cần có hiểu biết về các tin tức, thời sự nóng hổi đang diễn ra hàng ngày, có những kiến thức về truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc từ ngàn xưa để lại. Người viết cũng cần trang bị cho mình thêm nhiều vốn sống ở nhiều lĩnh vực trong xã hội, nhất là rèn luyện kĩ năng sống, nhận biết được các giá trị sống để bài viết vừa phong phú lại vừa sâu sắc. Ngoài ra người viết cũng cần sử dụng các thao tác nghị luận, có phương pháp luận để làm bài để bài viết sao cho ngắn gọn, chặt chẽ, giàu sức thuyết phục với người đọc, người nghe.
Việc phân chia các dạng bài nghị luận xã hội ở trường phổ thông Văn nghị luận xã hội chia làm ba dạng chính: Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí; nghị luận về hiện tượng đời sống và nghị luận về một vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học. -10- LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí * Khái luận chung về kiểu bài nghị luân về tư tưởng, đạo lí Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí là quá trình kết hợp những thao tác lập luận để làm rõ những vấn đề tư tưởng, đạo lí trong cuộc đời. Đề tài của nghị luận về tư tưởng, đạo lí là vô cùng phong phú, bao gồm: Các vấn đề về nhận thức như lí tưởng, mục đích sống, lối sống; Các vấn đề về tâm hồn, tính cách như: Lòng yêu nước, lòng nhân ái, vị tha, bao dung, tính trung thực, dũng cảm, chăm chỉ, cần cù, thái độ hòa nhã, khiêm tốn; Về các quan hệ gia đình như tình mẫu tử, anh em.; Về quan hệ xã hội như tình đồng bào, tình thầy trò, bạn bè,… ; Về cách ứng xử, những hành động của mỗi người trong cuộc sống.
Kiểu bài văn nghị luận về một tư tưởng, đạo lí hướng cho HS trong việc rèn luyện nhân cách, giúp các em có cái nhìn tinh tế hơn trước các vấn đề của cuộc sống. Giáo viên đưa ra những quan điểm đúng đắn tiến bộ để từ đó giúp các em có suy nghĩ đúng hành động đúng phù hợp với chuẩn mực của xã hội. Thông qua kiểu bài này các em sẽ thấy thấm thía hơn câu nói "văn học chính là nhân học" (Gorki), dạy văn cũng chính là dạy người. Cũng từ kiểu bài nghị luận về một tư tưởng, đạo lí, giáo viên sẽ rèn cho học sinh các kĩ năng và thao tác tổng hợp thông tin, lập luận và vận dụng các kĩ năng lập luận vào vào viết bài văn, nhằm đáp ứng yêu cầu học tập phần làm văn nói riêng và yêu cầu xã hội nói chung, đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn đời sống.
Thông qua đề văn, HS cần xác định được được vấn đề nghị luận ở đây là gì? nó được thể hiện ra sao? nguồn gốc, nguyên nhân của các tư tưởng đó? Tuy nhiên cũng cần nhìn vấn đề quan điểm đạo đức đó sao cho phù hợp với từng thời đại, chỉ ra các điểm còn sai lệch chậm tiến và phát huy những mặt ưu điểm đúng đắn tiến bộ của nó. Từ đó rút ra bài học về tư tưởng, đạo lí, để áp dụng vào thực tiễn cuộc sống. *Một số đề bài nghị luận về một tư tưởng, đạo lí -11- LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Có ý kiến cho rằng: "Cuộc sống như một cuốn sách: Kẻ điên rồ giở qua nhanh chóng, người khôn ngoan vừa đọc vừa suy ngẫm, vì biết rằng mình chỉ được đọc một lần" (Jean Paul Pougala) Ý kiến của anh (chị) như thế nào? - "Nên tha thứ cho kẻ khác nhưng đừng bao giờ tha thứ cho chính mình" (Syrus) Trình bày suy nghĩ của anh (chị) về ý kiến trên? - "Xấu hổ trước người khác là một tình cảm tốt nhưng xấu hổ trước bản thân lại càng tốt hơn" (Lep Tolstoi) Suy nghĩ của anh (chị) về ý kiến trên? - Nhà văn Ban-dăc cho rằng: "Khi công nhận cái yếu của mình, con người trở nên mạnh mẽ" Ý kiến của anh (chị) như thế nào? - Suy nghĩ của anh (chị) về khát vọng và tham vọng của con người trong cuộc sống?. Nghị luận về một hiện tượng đời sống xã hội * Khái luận chung về kiểu bài nghị luận về một hiện tượng đời sống Nghị luận về hiện tượng đời sống là kiểu bài văn nghị luận bàn bạc về một hiện tượng, sự kiện xảy ra trong đời sống.
Hiện tượng đó có thể có ý nghĩa tích cực, cũng có thể tác động tiêu cực đến xã hội. Vì vậy, đây có thể nói là kiểu bài có ý nghĩa thiết thực trong văn nghị luận xã hội. Với kiểu bài này, học sinh cần có những kiến thức am hiểu về xã hội và làm nổi bật được chính kiến của riêng mình về hiện tượng cần bàn luận như ủng hộ những hiện tượng tốt đẹp và lên án phê phán vạch trần cái xấu, cái ác. Từ đó, học sinh rút ra được giải pháp khắc phục đối với vấn đề tiêu cực, phát huy đối với vấn đề tích cực và rút ra bài học nhận thức, hành động cho bản thân.