CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Một số vấn đề cơ bản về văn nghị luận 1. Khái niệm văn bản nghị luận Trong Hán ngữ cổ, “nghị” chỉ việc phát biểu bằng ngôn luận, tiến hành bình luận, “luận” có nghĩa là thảo luận, bình luận, biện luận. Luận ý muốn bàn về sự đúng sai, kết quả của thảo luận thường đi đến sự phán đoán.
Văn nghị luận được ra đời từ rất lâu. Ở Trung Hoa, văn nghị luận có từ thời Khổng Tử. Tại Việt Nam, văn nghị luận là một thể loại có truyền thống lâu đời, và tác dụng vô cùng to lớn trong trường kì lịch sử dân tộc. Đó là tác phẩm Chiếu dời đô (1010) của Lí Công Uẩn, Đại cáo bình Ngô (1428) của Nguyễn Trãi, Chiếu cầu hiền (1788) của Nguyễn Trường Tộ), Hịch tướng sĩ (1825) của Trần Quốc Tuấn.
Và đặc biệt đến thế kỉ XX, văn nghị luận phát triển vô cùng mạnh mẽ với hàng loạt tên tuổi chính luận như tác giả Hồ Chí Minh, và sau này là Hoài Thanh, Đặng Thai Mai, Xuân Diệu. Trong bài Tìm hiểu chung về văn nghị luận ( SGK Ngữ văn 7 tập 2) có nêu định nghĩa : văn nghị luận là văn được viết ra nhằm xác lập cho người đọc, người nghe một tư tưởng quan điểm nào đó. Muốn thế văn nghị luận phải có luận điểm rõ ràng, có lý lẽ, dẫn chứng thuyết phục. Khi bàn về khái niệm này, tác giả Đỗ Ngọc Thống trong cuốn Làm văn định nghĩa như sau:"Nghị luận là dùng lý lẽ, phán đoán, chứng cứ để bàn luận về một vấn đề nào đó.
Vấn đề được nêu ra như một câu hỏi cần giải đáp, làm sáng tỏ. 10 Luận là bàn về đúng – sai, phải- trái, khẳng định điều này, bác bỏ điều kia để người đọc nhận ra chân lý, đồng tình với mình, chia sẻ quan điểm và niềm tin với mình. Văn nghị luận là loại văn trong đó người viết đưa ra những lý lẽ, dẫn chứng về một vấn đề nào đó. Thông qua cách thực bàn luận để cho người đọc hiểu, tin và tán đồng với những ý kiến của mình và hành động theo những điều mà mình đề xuất.
Tóm lại, văn nghị luận chính là một loại văn bản dùng để thể hiện tư tưởng, quân điểm, thái độ của người viết, người nói về một vấn đề của đời sống xã hội. Để tạo lập được một văn bản nghị luận, người viết cần xây dựng được luận điểm logic, hệ thống ly lẽ, dẫn chứng sinh động, thuyết phục kết hợp với lối diễn đạt, lập luận rõ ràng nhằm tăng sức thuyết phục đối với người nghe, người đọc. Vấn đề được đưa ra nghị luận phải là vấn đề sâu sắc, nhiều người quan tâm. Chúng ta có thể thấy, dù được định nghĩa theo cách nào, nhìn chung văn nghị luận là loại văn bản trong đó người viết dùng lý lẽ, dẫn chứng để thuyết phục người đọc đồng tính với quan điểm của mình, từ đó định hướng hành động cho người đọc.
- Về chức năng : Văn nghị luận trực tiếp trình bày các luận điểm, thể hiện tư tưởng hay giãi bày quan điểm, đạo lý ở đời. - Về kết cấu : bài văn nghị luận thường gồm ba phần chính dưới dạng tổng- phân- hợp. 11 - Về tổ chức lời văn : văn nghị luận đòi hỏi sự chặt chẽ của lập luận, sự thuyết phục của luận cứ. Đặc trưng của văn nghị luận Mỗi bài văn nghị luận đều phải bao gồm những thành tố sau: luận điểm, luận cứ và cách lập luận.
Luận điểm được hiểu là ý kiến thể hiện tư tưởng, quan điểm của bài văn được nêu ra dưới hình thức câu khẳng định (hay phủ định), được diễn đạt sáng tỏ, dễ hiểu, nhất quán. Luận điểm giúp thống nhất các đoạn văn thành một khối. Luận điểm đúng đắn, chân thật, đáp ứng nhu cầu thực tế thì mới có sức thuyết phục” [3,tr.19] Luận điểm phải đúng đắn, chân thật, đáp ứng nhu cầu thực tế thì mới có sức thuyết phục. Luận cứ là lý lẽ, dẫn chứng được đưa ra làm cơ sở cho luận điểm.
Luận cứ phải chân thực, đúng đắn, tiêu biểu mới khiến luận điểm có sức thuyết phục” [3,tr.19] Luận cứ cần xác đáng, khách quan để là, sáng tỏ luận điểm. Lập luận được hiểu là cách lựa chọn, sắp xếp, trình bày luận cứ sao cho chúng làm cơ sở vững chắc cho luận điểm. Lập luận có vai trò cụ thể hóa luận điểm, luận cứ thành các câu văn, đoạn văn có tính liên kết về mặt hình thức và nội dung nhằm đảm bảo một mạch tư tưởng nhất quán, có sức thuyết phục” [3,tr.19] Lập luận phải chặt chẽ, hợp lý thì bài văn nghị luận mới có sức thuyết phục cao. 12 Mục đích của văn nghị luận là thuyết phục người nghe, người đọc bằng việc lập luận, đưa ra bằng chứng, lý lẽ.
Để thực hiện được mục tiêu đó, người viết phải chú ý đến cách thức lập luận. Thuyết phục người khác là một nghệ thuật sử dụng ngôn từ, không thể sử dụng ngôn từ một cách tuỳ tiện, tuỳ hứng mà phải tuân thủ một số đặc trưng của văn bản nghị luận như sau: * Văn nghị luận được tạo lập nhằm giải quyết một vấn đề nào đó trong cuộc sống: Cuộc sống luôn đặt ra những vấn đề đòi hỏi chúng ta phải có cách nhìn nhận đúng đắn để giải quyết một cách thoả đáng. Mỗi bài văn nghị luận là một ý kiến đề xuất, là việc trình bày quan điểm, tư tưởng của người viết trước một vấn đề của văn học, của cuộc sống. Văn nghị luận sử dụng ngôn từ một cách khéo léo, không áp đặt mà phải có sức mạnh chính luận mạnh mẽ.
Ngôn ngữ trong văn nghị luận tác động trực tiếp đến lý trí, nhận thức của người tiếp nhận. Để từ đó, họ được đính hướng bài học nhận thức và hành động một cách phù hợp. Đó là đặc điểm đặc thù của văn bản nghị luận, chúng ta dùng nó để phân biệt với những loại văn bản khác. Văn nghị luận hàm chứa chất trí tuệ của người viết.
Trong việc dạy học môn Ngữ văn, cụ thể là dạy văn nghị luận, người GV không thể áp đặt, quy chụp suy nghĩ của mình lên người tiếp nhận, không được làm mất đi dấu ấn cá nhân của tác giả trong quá trình phân tích văn bản. Bởi cách tác giả đưa ra luận đề, luận điểm thể hiện được tư duy và cách nhìn nhận rất riêng của bản thân tác giả ấy. Đối với việc dạy viết văn nghị luận, người GV cần biết cách kích thích để HS thực hiện tốt nhất nhiệm vụ trình bày quan điểm, triển khai luận đề thành các luận điểm một cách hợp lý, khoa học. Để có thể làm rõ được vấn đề, người viết cần huy động vốn hiểu biết, kinh nghiệm cùng vốn từ vựng một cách phong phú nhằm đạt được hiệu quả cao nhất.
13 * Tính lập luận chặt chẽ, hợp lý: Lập luận là một trong những đặc trưng cơ bản, quan trọng của văn bản nghị luận. Bản chất của văn bản nghị luận là thuyết phục người khác bằng cái lý của mình, lập luận chính là tạo cái lý trong đó. Dù khẳng định hay phủ định người viết cần làm rõ được cái lý, phải trình bày, giải thích, chứng mình, phân tích và đánh giá được vấn đề. Mỗi lý lẽ đưa ra cần đảm bảo rõ ràng, thống nhất và có hệ thống.
Nếu lập luận không chặt chẽ, bài văn nghị luật sẽ không có tính thuyết phục, dễ bị “bắt bẻ”. Và để lập luận được chặt chẽ, người viết (người nói) phải biết kết hợp nhiều thao tác tư duy khác nhau. * Tính thuyết phục cao: Thông qua việc trình bày lý lẽ, dẫn chứng một cách có chọn lọc, bài văn nghị luận sẽ có sự thuyết phục, khiến người đọc (người nghe) đồng tình với ý kiến của người viết. Khi người đọc (người nghe) thông suốt tức người viết (người nói) đã thành công.
Điều đó thể hiện ở việc người đọc hoàn toàn chấp nhận, đồng tình với những lý lẽ và dẫn chứng người viết đưa ra. Để làm được điều đó, ngoài việc thuyết phục người đọc (người nghe) bằng cái lý, người nói( người viết) không được bỏ qua cái tình. Khi lý lẽ vững chắc, hội tụ được yếu tố tình cảm thì khi đó, lập luận trở nên mạnh mẽ, sắc bén hơn rất nhiều. Tình và lý song song, kết hợp với nhau khiến người đọc (người nghe) bị thuyết phục một cách hoàn toàn – tâm phục khẩu phục.
* Tính trang trọng, dùng từ, đặt câu chính xác, trong sáng: Nếu như trong văn miêu tả, người viết sử dụng những câu văn giàu hình ảnh, sức gợi; văn biểu cảm ta dễ dàng bắt gặp những câu từ thấm đẫm cảm xúc thì văn nghị luận lại đòi hỏi ngôn ngữ sử dụng một cách chính xác, rõ ràng. Bởi mục 14 đích của văn nghị luận là trình bày quan điểm, tư tưởng của mình nhằm thuyết phục người khác nên câu văn phải đảm bảo tính khoa học, tránh mơ hồ, đa nghĩa gây hiểu lầm. Cách dùng từ trong văn nghị luận phải đảm bảo tính chính xác, đồng thời phải biểu hiện được tư tưởng, tình cảm cả người viết một cách sâu sắc, mạnh mẽ nhất. Câu trong đoạn văn của văn bản nghị luận cần vừa mang chức năng biểu đạt thông tin, vừa lồng vào đó những thái độ và tình cảm của người viết.
* Tính chỉnh thể, thống nhất: Tính thống nhất của văn bản nghị luận thể hiện ở bố cục chặt chẽ và hợp lý. Điều đó thể hiện qua sự logic trong việc sắp xếp các luận điểm, luận cứ ở phần nội dung cũng như biểu hiện ở hình thức của bài văn. Thứ nhất, về nội dung. Tuy dung lượng có thể dài ngắn khác nhau song mỗi bài văn nghị luận đều hướng tới việc đưa ra quan điểm, bày tỏ thái độ nhằm thuyết phục người đọc.
Vi vậy, nội dung bài văn nghị luận cần sự chặt chẽ và thống nhất. Luận đề sẽ nêu ở phần mở bài, sau đó các luận điểm được triển khai trong từng đoạn của thân bài. Phần thân bài chứa nhiều luận điểm, thường mỗi luận điểm sẽ được triển khai thành một đoạn, có câu chủ đề và bao gồm nhiều luận cứ để làm sáng tỏ luận điểm đã nêu. Kết bài là phần tổng kết những luận điểm đã nêu trước đó.
Thứ hai, về mặt hình thức. Hình thức và nội dung tạo nên một chỉnh thể hoàn hảo của một bài văn nghị luận mạnh lạc. Cũng có kết cấu như một bài văn nói chung, một bài văn nghị luận gồm ba phần chính: mở bài, thân bài và kết bài. Mỗi một phần mang những chức năng khác nhau.