mở đầu nêu một nhận định, dẫn một câu chuyện hoặc một đoạn thơ văn, những dẫn chứng gần giống hoặc trái với ý tưởng (Chủ đề của đoạn) tạo thành điểm tựa, làm cơ sở để phân tích sâu sắc ý tưởng. VD: “Quen biết khắp thiên hạ, hiểu được mình có mấy người”. Bình thường chúng ta hay than vãn không tìm được người bạn hiểu được mình. Quả đúng như vậy, tri âm khó tìm, cuộc đời có thể có được người hiểu mình, thì không còn gì đáng tiếc! Nhưng, kết bạn không chỉ là việc của riêng đơn phương một người, mà tâm ý của cả hai phải hiểu rõ nhau, nếu chỉ một phía có tâm, một bên vô tâm thì sẽ khó thành bạn bè được.
Một bên nghèo hèn, một bên giàu có, tình bạn cũng có cơ hội trải nghiệm đói no. Kết giao bạn bè, có thể cùng chung hoạn nạn, sinh tử không sợ mới có thể thấy rõ chân tình, mới đáng để ca tụng. Một số lỗi thường gặp trong bài làm của học sinh 5. Lỗi về hình thức - Ngắt dòng, xuống dòng tùy tiện, trình bày không đúng quy tắc nhận biết về hình thức một đoạn văn.
10 skkn - Dung lượng quá dài hoặc quá ngắn trong khi dung lượng an toàn của đoạn là 2/3 đến 3/4 tờ giấy thi. - Không biết cách triển khai hệ thống ý theo hình thức lập luận phù hợp: diễn dịch, quy nạp, tổng - phân - hợp 5. Lỗi về nội dung - Không hiểu đúng vấn đề nghị luận, lạc đề - Triển khai ý không thống nhất, không bám sát vấn đề trọng tâm đề bài yêu cầu - Kể lể, nhắc lại những chi tiết trong ngữ liệu đọc hiểu hoặc chép lại, "lắp ghép" vụng về phần đọc hiểu vào đoạn nghị luận xã hội. - Phần mở đoạn dẫn dắt quá dài, thậm chí tóm tắt cả câu chuyện.
Thân đoạn chỉ kể lể lan man, trùng lặp. Kết đoạn không nêu được nhận thức, suy nghĩ của bản thân… - Trong phạm vi một đoạn văn ngắn, lấy quá nhiều dẫn chứng trong khi chỉ nên chọn một, hai dẫn chứng mang tính tiêu biểu, điển hình và phù hợp làm nổi bật vấn đề nghị luận. KĨ NĂNG VIẾT ĐOẠN NLXH NÓI CHUNG 1. Viết phần mở đoạn: - Cách 1: Trực tiếp: Sử dụng một câu chủ đề để giới thiệu ý tưởng chính trong một đoạn văn.
(Ví dụ Thông điệp/ ý kiến của đoạn trích ở phần Đọc hiểu đem lại cho ta nhiều suy ngẫm sâu sắc về.) - Cách 2: Gián tiếp (Từ 1 đến 3 câu) Dẫn dắt từ 1 câu nói, một câu thơ, danh ngôn có nội dung gần gũi với vấn đề. Sau đó nêu vấn đề cần nghị luận 2. Viết phần thân đoạn: - Giải thích và/hoặc làm rõ ý tưởng chính của đoạn văn bằng cách cung cấp các dẫn chứng, lí lẽ có liên quan: 11 skkn + Nếu là đoạn văn nghị luận về một hiện tượng đời sống cần: gọi tên hiện tượng, nêu hiện trạng, phân tích kết quả/hậu quả, nêu nguyên nhân khách quan/chủ quan, đề xuất biện pháp/giải pháp, có tư duy phản biện nếu cần. + Nếu là đoạn văn nghị luận về một tư tưởng đạo lí cần: giải thích ngắn gọn, phân tích các biểu hiện, đưa ra một, hoặc hai dẫn chứng tiêu biểu để làm rõ quan điểm, bình luận thể hiện rõ thái độ đồng tình/không đồng tình, tư duy phản biện nếu cần.
- Dấu hiệu của giải thích: Trước hết ta cần hiểu. - Dấu hiệu của bàn luận: Vì sao tác giả lại nói như vậy?/ Biểu hiện như thế nào?/Làm thế nào để hiểu đúng ý nghĩa sâu sắc của. Viết phần kết đoạn: - Nhắc lại nội dung/ý tưởng chính trong phần kết đoạn, khẳng định đúng/sai. Nâng cao vấn đề và để lại ấn tượng một cách sáng tạo (chú ý nêu bài học ý nghĩa góp phần nâng cao giá trị con người và nâng cao chất lượng cuộc sống).
- Nên trích dẫn danh ngôn/ câu nói nổi tiếng phù hợp vào phần kết đoạn. VD: Tham khảo một số câu nói sau đây: + Đường đời là chiếc thang không nấc chót, sự học là quyển sách không trang cuối cùng” (Kalinin). + Mọi lí thuyết chỉ là màu xám, còn cây đời mãi mãi xanh tươi (Gớt)…vv + Sống là cho đâu chỉ nhậnriêng mình. (Tố Hữu) + Khi tôi 20 tuổi, tôi nói: Tôi và Moza.
Ba mươi tuổi, tôi nói: Moza và tôi. Bốn mươi tuổi, tôi nói: Moza. + Không có việc gì khó/ Chỉ sợ lòng không bền.Hồ Chí Minh + Đời người ai cũng phải trái qua giông tố nhưng không được cúi đầu trước giông tố. (Đặng Thùy Trâm) 12 skkn + Hiểu biết của con người như giọt nước trong đại dương.
( Đức Phật) + Thuở nhỏ đọc sách như nhìn trăng qua cái kẽ. Lớn lên đọc sách như ngắm trăng ngoài sân. Tuổi già đọc sách như thưởng trăng trên đài. ( Lâm Ngữ Đường) ******************************************************** PHẦN HAI CÁCH NHẬN BIẾT VÀ TRIỂN KHAI CÁC DẠNG ĐOẠN VĂN NLXH I.
NGHỊ LUẬN VỀ MỘT TƯ TƯỞNG, ĐẠO LÍ 1. Đối tượng nghị luận Nghị luận về một tư tưởng đạo lí là bàn về một vấn đề thuộc lĩnh vực tư tưởng, đạo đức, quan điểm nhân sinh như nhận thức, lối sống, tính cách, phẩm chất, tâm hồn, quan hệ gia đình – xã hội, cách ứng xử, … của con người. Đối với học sinh trong nhà trường phổ thông, do đặc điểm tâm lí, lứa tuổi, tầm nhận thức nên vấn đề đặt ra để bàn luận thường không quá phức tạp, lớn lao mà chỉ là những vấn đề đạo đức, tư tưởng, tình cảm gắn liền với cuộc sống hàng ngày như: tình cảm gia đình, quê hương, học tập, ý thức trách nhiệm, phẩm chất đạo đức. Các vấn đề đó thường được đặt ra trực tiếp hoặc gợi mở, đúc kết trong những câu tục ngữ, danh ngôn, ngụ ngôn hoặc câu nói của người nổi tiếng.
Ví dụ: Uống nước nhớ nguồn, Trung thực, Khiêm tốn, Nhân ái, Không có gì quý hơn độc lập tự do… 2. Những điểm cần lưu ý trong đề bài nghị luận về một vấn đề tư tưởng đạo lí – Vấn đề tư tưởng đạo lí có thể hoàn toàn đúng đắn, cần ca ngợi, khẳng định; hoặc hoàn toàn sai lầm, cần lên án, phê phán; cũng có thể vừa đúng, vừa sai. – Vấn đề tư tưởng đạo lí có thể chưa thật đầy đủ, toàn diện, cần bổ sung. – Đề bài nghị luận về vấn đề tư tưởng đạo lí có thể chia ra theo hai dạng: 13 skkn + Dạng mệnh lệnh: hãy bàn luận, nêu suy nghĩ của mình, nêu ý kiến, nêu nhận xét, bày tỏ thái độ, trình bày suy nghĩ… Chẳng hạn: Nêu suy nghĩ của anh (chị) về quan niệm: “Sống là cho đâu chỉ nhận sao đành” – Tố Hữu.
+ Dạng mở, không có mệnh lệnh: “Học phải đi đôi với hành”. “Có học mới hay, có cày mới giỏi”. “Để cuộc đời trở nên có ý nghĩa, con người cần sống chậm lại, tận hưởng những vẻ đẹp cuốc sống”. Phân loại Nghị luận về tư tưởng, đạo lí thường tồn tại ở hai dạng: - NLXH bàn về một tính cách, phẩm chất hoặc một trạng thái tâm lí VD: + Tự trọng và kiêu; Tài và đức + Bàn về Sống đẹp, nơi dựa.
- NLXH bàn về một hoặc hai nhận định. Nhận định có thể xuất hiện qua câu nói, câu thơ/lời hát, câu châm ngôn,. Dạng đề này thường gặp trong các bài thi HSG, đề thi của học sinh Chuyên VD: + Cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn từng viết: “Sống trong đời sống cần có một tấm lòng. Để làm gì em biết không? Để gió cuốn đi”.
Suy nghĩ của em về ý nghĩa gợi ra từ lời hát? + Ngạn ngữ có câu: “Cuộc đời ngắn ngủi không cho phép ta ước vọng quá nhiều”. Nhưng nhà văn Nga lại viết: “ Phải ước mơ nhiểu hơn nữa, phải ước mơ tha thiết hơn nữa để biến tương lai thành hiện tại”. Trình bày suy nghĩ của anh/chị về hai câu nói trên. Cách làm dàn ý chung *Mở đoạn (khoảng 2 dòng) – Dẫn dắt ngắn gọn vào vấn đề: Giới thiệu khái quát tư tưởng, đạo lí cần nghị luận – Trích dẫn nếu cần.
Giải thích tư tưởng, đạo lí cần nghị luận. Là gì? – Chỉ giải thích những từ ngữ, hình ảnh chứa hàm ý hoặc chưa rõ nghĩa. 14 skkn – Phải đi từ yếu tố nhỏ đến yếu tố lớn: giải thích từ ngữ, hình ảnh trước, rồi mới khái quát ý nghĩa của tư tưởng, đạo lí. – Cần dựa vào văn bản phần Đọc hiểu để giải thích ý, tránh suy diễn.
Phân tích, chứng minh các mặt đúng của tư tưởng, đạo lí. Từ đó chỉ ra ý nghĩa, tầm quan trọng, tác dụng của tư tưởng đạo lí với đời sống xã hội. Thực chất là trả lời câu hỏi Tại sao? Như thế nào? Có tác dụng gì? Yêu cầu: Minh chứng bằng các dẫn chứng, ví dụ cụ thể. – Dẫn chứng cần chân thực, hợp lí, tiêu biểu, phục vụ cho việc bàn luận.
– Nên kết hợp các dẫn chứng quá khứ – hiện tại, trong nước – thế giới, người nổi tiếng – người bình thường, hiện thực – văn chương…, sao cho phong phú, đa dạng và giàu sức thuyết phục. – Có bốn cách lấy dẫn chứng phổ biến: + Cách 1. Lấy dẫn chứng bằng các hiện tượng có thật hiển nhiên, không thể phủ nhận (ví dụ: Quy luật tự nhiên, xã hội; đạo lí truyền thống…). Lấy dẫn chứng bằng số liệu cụ thể, rõ ràng (ví dụ: thống kê con số đọc sách/ người).
Lấy dẫn chứng bằng gương sáng tiêu biểu, nổi tiếng, điển hình (ví dụ: Hồ Chí Minh, Nguyễn Ngọc Kí, Nickvujisic …). Lấy dẫn chứng bằng lời nói của một người nổi tiếng (ví dụ: Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: Có tài mà không có đức là người vô dụng, có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó…). Bình luận, mở rộng vấn đề, nêu quan điểm cá nhân (thấy đúng, sai hay cả đúng cả sai). Lí giải cho quan điểm đó.
Tại sao? – Lập luận bảo vệ cho quan điểm của mình, đồng thời bác bỏ những biểu hiện sai lệch có liên quan đến vấn đề tư tưởng, đạo lí đang bàn luận. – Khi bàn luận, đánh giá cần thận trọng, khách quan, có căn cứ vững chắc. Luận bàn, đánh giá các khía cạnh của vấn đề: phê phán hạn chế, ca ngợi, khẳng định hướng tích cực… Toàn diện, sâu sắc chưa? Yêu cầu: 15 skkn – Các em học sinh nên tự đặt ra và trả lời các câu hỏi: Tư tưởng đạo lí đã đầy đủ, toàn diện chưa? Có thể bổ sung thêm điều gì? – Cần xem xét từ nhiều góc độ, nhiều quan hệ để đánh giá và bổ sung cho hợp lí, chính xác, lật đi lật lại vấn đề, tránh phiến diện. – Có thể đưa ra các quan điểm khác biệt nhưng phải hợp lí và thuyết phục.