mở đầu bao trùm không khí thiêng liêng, thành kính nhưng vẫn gợi sự ấm áp, gần gũi không chỉ ở cách xưng hô “con” mà còn ở cách dùng từ “thăm” mang ý nghĩa nói giảm nói tránh. + Hình ảnh đầu tiên gây ấn tượng đậm nét với tác giả là hình ảnh hàng tre trong sương sớm, trải dài, bát ngát một màu xanh, khiến cho lăng Bác trang nghiêm bỗng trở nên thân thuộc, gần gũi như làng quê Việt Nam. Hình ảnh hàng tre “đứng thẳng hàng” trong “bão táp mưa sa” đã trở thành biểu tượng cho sức sống bền bỉ, kiên cường, không bao giờ chịu khuất phục của nhân dân Việt Nam. Hình ảnh thơ như khúc nhạc du dương mở ra một loạt những suy tưởng mênh mông, sâu lắng về vẻ đẹp và phẩm chất của con người Việt Nam, mà kết tinh, hội tụ trong đó là Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Khổ thứ hai – Tiếp nối dòng suy tưởng ấy, nhà thơ đã sử dụng một ẩn dụ nghệ thuật tuyệt đẹp để nói lên cảm nhận của mình khi đứng trước lăng Người: Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ. + Trong nền thơ ca Việt Nam hiện đại, cũng có nhiều bài thơ nói đến hình ảnh mặt trời: Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ Mặt trời chân lí chói qua tim. (Từ ấy, Tố Hữu) 7 LUYỆN THI VÀO LỚP 10 MÔN NGỮ VĂN Mặt trời của bắp thì nằm trên đồi Mặt trời của mẹ, em nằm trên lưng. (Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ, Nguyễn Khoa Điềm) Với Viễn Phương, nhà thơ có một lối nói rất hay và sáng tạo, đem đến cho người đọc nhiều liên tưởng thú vị: “Mặt trời đi qua trên lăng” là mặt trời của thiên nhiên, đem lại ánh sáng và sự sống cho vạn vật.
“Mặt trời trong lăng” là một ẩn dụ chỉ Bác Hồ. Người chính là mặt trời, là ánh sáng soi đường đem lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho dân tộc Việt Nam. + Mặt trời Bác toả sáng, ấm áp, sóng đôi và trường tồn cùng mặt trời thiên nhiên là một sáng tạo riêng của tác giả. – Cách nói vừa ca ngợi sự vĩ đại, bất tử của Bác, vừa thể hiện niềm tôn kính, ngưỡng mộ và lòng biết ơn vô hạn đối với Bác.
Tất cả tình cảm đó dệt thành ý thơ tuyệt đẹp: Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân. + Điệp ngữ “ngày ngày” và hình ảnh “dòng người đi trong thương nhớ” vừa gợi ấn tượng về cõi trường sinh vĩnh viễn, vừa thể hiện tấm lòng nhớ thương tha thiết của nhân dân đối với Bác. + Mỗi người thăm Bác lúc bấy giờ là đại diện cho những tấm gương điển hình tiên tiến trên mặt trận chiến đấu, là những người con ưu tú, những bông hoa tươi thắm kết thành một “tràng hoa” để dâng lên Người. + Cuộc đời Bác đi qua “Bảy mươi chín tuổi xuân trong sáng/ Vào cuộc trường sinh, nhẹ cánh bay” (Theo chân Bác, Tố Hữu).
Tình cảm đó đã kết thành tràng hoa đẹp dâng lên bảy mươi chín mùa xuân của Bác Hồ kính yêu. + Nhịp thơ chậm rãi, dàn trải, cấu trúc câu và từ ngữ được lặp lại gợi liên tưởng đến những bước đi chầm chậm của dòng người vào lăng viếng Bác trong không khí thiêng liêng, thành kính và niềm xúc động thiết tha. Khổ thứ ba – Đứng trước di hài Bác, bao tình cảm ấp ủ bấy lâu bỗng trào dâng, thổn thức trong tâm trí nhà thơ: Bác nằm trong giấc ngủ bình yên Giữa một vầng trăng sáng dịu hiền Vẫn biết trời xanh là mãi mãi Mà sao nghe nhói ở trong tim! 8 Chuyên đề NGHỊ LUẬN VĂN HỌC + Với Viễn Phương, Bác “ngủ bình yên” nghĩa là Bác vẫn như còn sống mãi. Lúc này, giấc ngủ đến với Người nhẹ nhàng, thanh thản bởi đất nước đang tràn ngập niềm vui chiến thắng, ước nguyện của Người đã trở thành sự thật.
+ “Vầng trăng” là hình ảnh ẩn dụ, tượng trưng cho lòng nhân ái, đức độ và tâm hồn bao la của Bác. Đồng thời, gợi lên vầng trăng tri kỉ đã từng gắn bó với Bác, thể hiện tâm hồn Bác hoà hợp với tình yêu thiên nhiên. + “Trời xanh” cũng là một hình ảnh ẩn dụ, tượng trưng cho sự bất tử của Bác. Bác còn sống mãi với non sông đất nước.
Đây là hình ảnh kì vĩ của thiên nhiên, gợi suy ngẫm về sự cao cả, vĩ đại, trường tồn. – Bác như đã hoá thân vào thiên nhiên, đất nước và còn sống mãi với non sông. Dẫu tin như vậy nhưng trái tim nhà thơ vẫn “nhói” đau khi nghĩ rằng Bác không còn nữa. Tình cảm ấy cũng là tình cảm chung của nhân dân khi Bác ra đi “đời tuôn nước mắt, trời tuôn mưa”.
Nỗi đau được biểu hiện cụ thể, trực tiếp “mà sao nghe nhói ở trong tim”. Đó là nỗi đau, là niềm thương vô hạn của đứa con về muộn bên di hài người Cha yêu kính. Khổ thứ tư – Cuộc gặp gỡ nào rồi cũng đến lúc phải chia li. Lòng nhớ thương, đau xót kìm nén bấy lâu đến giờ đã vỡ oà thành nước mắt: Mai về miền Nam thương trào nước mắt Muốn làm con chim hót quanh lăng Bác Muốn làm đoá hoa toả hương đâu đây Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này.
+ Ước nguyện được hoá thân thành “con chim”, “đoá hoa”, “cây tre” để canh giữ, điểm tô cho nơi yên nghỉ ngàn thu của Bác. + Hình ảnh cây tre lặp lại cuối bài tạo ấn tượng đậm nét, thể hiện lòng kính yêu và biết ơn vô hạn của nhà thơ đối với Bác. + Điệp ngữ “Muốn làm”, cấu trúc câu được lặp lại tạo thành nốt nhạc dồn dập, tha thiết diễn tả tình cảm, khát vọng trào dâng mãnh liệt. – Bài thơ tưởng như khép lại trong sự xa cách về không gian nhưng lại tạo được sự gần gũi trong tình cảm, ý chí.
Như vậy, bước chân ra đi nhưng tấm lòng của người con miền Nam thì ở lại. Tiếng lòng đó, ước nguyện đó không chỉ là của riêng tác giả mà đã trở thành tiếng lòng chung của nhiều người. Nhận xét và đánh giá – Niềm xúc động thiêng liêng, thành kính, niềm tự hào, đau xót của nhà thơ từ miền Nam vừa được giải phóng ra thăm lăng Bác. Giọng điệu thơ phù hợp với nội dung tình cảm, cảm xúc: vừa trang nghiêm, sâu lắng, vừa tha thiết, đau xót, tự hào.
9 LUYỆN THI VÀO LỚP 10 MÔN NGỮ VĂN – Thể thơ tự do, những dòng thơ tám chữ, xen lẫn những dòng thơ bảy hoặc chín chữ. Nhịp thơ chủ yếu là nhịp chậm, diễn tả sự trang nghiêm, thành kính và những cảm xúc sâu lắng. Riêng khổ cuối nhịp thơ nhanh hơn, phù hợp với sắc thái của niềm mong ước. – Hình ảnh thơ có nhiều sáng tạo, kết hợp hình ảnh thực với hình ảnh ẩn dụ, biểu tượng.
Những hình ảnh ẩn dụ – biểu tượng như mặt trời trong lăng, tràng hoa, trời xanh vừa quen thuộc, vừa gần gũi với hình ảnh thực, vừa sâu sắc, có ý nghĩa khái quát và giá trị biểu cảm. KẾT BÀI – Khái quát lại vấn đề vừa nghị luận + Viếng lăng Bác là bài thơ giàu chất suy tưởng, chất trữ tình đằm thắm, kết hợp với cách sử dụng ngôn từ luyến láy, âm điệu phong phú. + Chính vì vậy, nó đã được phổ nhạc thành một bài ca sâu lắng, giàu sức truyền cảm. – Nêu cảm xúc của bản thân + Xin mượn lời thơ của Tố Hữu để khẳng định lại điều này: Đâu chẳng vang lời Bác thiết tha? Đời vui tiếng Bác ấm muôn nhà Bác đi.
Đâu cũng nghe chân bước Như gió xuân về, đất nở hoa. (Bác vẫn bên ta, Tố Hữu) 10 Chuyên đề NGHỊ LUẬN VĂN HỌC II. NGHỊ LUẬN VỀ MỘT NHÂN VẬT, NHÓM NHÂN VẬT TRONG TÁC PHẨM, ĐOẠN TRÍCH VĂN XUÔI 1. SƠ ĐỒ TƯ DUY HƯỚNG DẪN LÀM BÀI Giới thiệu về tác giả, vị trí văn học của tác giả (Có thể nêu phong cách) Mở bài Giới thiệu về tác phẩm (Đánh giá sơ lược về tác phẩm), nêu nhân vật Ấn tượng sâu sắc nhất về nhân vật là gì? Tóm tắt tác phẩm Khái quát vào truyện Lai lịch Ngoại hình Ngôn ngữ Phân tích Nội tâm Cử chỉ, hành động NGHỊ LUẬN VỀ MỘT Những nhận xét của các nhân vật khác về nhân vật đang được phân tích NHÂN VẬT, NHÓM NHÂN Thân bài VẬT TRONG TÁC PHẨM, Hiện thực ĐOẠN TRÍCH VĂN XUÔI Nội dung Nhân đạo Sự mới mẻ Đánh giá về nhân vật đối với tác phẩm Điểm nhìn Mở rộng, liên hệ (nếu có) Nghệ thuật Tình huống Tâm lí Đánh giá nhân vật đối với sự thành công của tác phẩm, của văn học dân tộc Kết bài Thông điệp mà tác giả muốn hướng tới Đặc điểm điển hình của nhân vật Cảm nhận của bản thân về nhân vật Đặc điểm: phong cách/ bút pháp nổi trội của tác giả 2.
VÍ DỤ MINH HOẠ Đề bài Phân tích nhân vật ông Hai trong truyện ngắn Làng của Kim Lân. GỢI Ý LÀM BÀI 1. MỞ BÀI – Giới thiệu chung để dẫn vào vấn đề nghị luận Mỗi người Việt Nam đều yêu thương, gắn bó với quê hương mình. Đó là nơi cha ông đã sinh cơ lập nghiệp từ bao đời.
Đó là nơi “chôn nhau cắt rốn”, nơi có những người thân yêu đang cần cù làm lụng một nắng hai sương. Vì vậy, lòng yêu quê hương trở thành tình cảm truyền thống của con người Việt Nam, đặc biệt là người nông dân. 11 LUYỆN THI VÀO LỚP 10 MÔN NGỮ VĂN – Đánh giá sơ lược, nêu nhân vật và ấn tượng về nhân vật Nếu như trước Cách mạng tháng Tám, Ngô Tất Tố phác hoạ chân dung chị Dậu với sức sống mãnh liệt tiêu biểu của người nông dân; Nam Cao đưa tới một lão Hạc đầy lòng tự trọng và tình yêu thương con vô bờ bến… thì sau Cách mạng tháng Tám, Kim Lân mang tới cho bạn đọc hình ảnh người nông dân vô cùng độc đáo. Đó chính là nhân vật ông Hai trong truyện ngắn Làng với tình yêu làng, yêu đất nước sâu đậm, tha thiết.
Khái quát chung Sinh ra và lớn lên nơi làng quê Việt Nam, giữa những người nông dân chất phác, nhà văn Kim Lân đã sớm gắn bó và am hiểu sâu sắc về cuộc sống nông thôn. Đây cũng là đề tài chính trong các sáng tác của ông. Trong thời kì đầu cuộc kháng chiến chống Pháp, khi người dân miền Bắc được lệnh tản cư, ông đã viết truyện ngắn Làng, thể hiện tình yêu làng quê, đất nước của những người chân lấm tay bùn.