Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Khái niệm Văn nghị luận Việt Nam đã hình thành từ xa xưa cùng với sự phát triển của tư tưởng và văn hóa giáo dục của dân tộc Việt Nam. Nó là phương tiện đắc lực góp phần vào sự phát triển của quá trình ấy. Cùng với việc sáng tác thơ, phú, văn tế để bộc lộ tâm tư, tình cảm, chí khí của cá nhân hoặc ca ngợi cảnh đẹp đất nước, niềm tự hào dân tộc, cha ông ta đã sử dụng một thể văn có tính chất nghị luận để bàn về cương thường đạo lí, nhân tình thế thái, mưu sự giúp dân dựng nước hay diệt trừ nạn ngoại xâm, giữ gìn bờ cõi yên vui cho tổ quốc.
Văn sách, kinh nghĩa là những thể văn phổ biến có tính chất bắt buộc đối với các sĩ tử và hơn thế, nó còn quyết định con đường khoa bảng và hoạn lộ của họ trong các kì thi cử. Theo Từ điển thuật ngữ văn học thì: “Bàn và đánh giá cho rõ về một vấn đề nào đó là nghị luận luận lí”. [18,19 ] Một cách khác ta có thể trình bày định nghĩa về văn nghị luận như sau: “Văn nghị luận là loại văn chương nghị sự, luận chứng, phân tích lí lẽ. Nó là tên gọi chung của một thể loại văn vận dụng các hình thức tư duy logic như khái niệm, phán đoán, suy lí và thông qua việc nêu sự thực, trình bày lí lẽ, phân biệt đúng sai để tiến hành phân tích luận chứng khoa học đối với khách quan và quy luật bản chất của sự vật, từ đó nhằm biểu đạt tư tưởng, chủ trương, ý kiến, quan điểm của tác giả”.
[25,20] Văn nghị luận trong cuộc sống thường ngày ta thường tiếp xúc và vận dụng, nhà mĩ học Chu Quang Tiềm có nói: “Nêu sự thật, trình bày lí lẽ đã trở thành hoạt động xã hội ngày càng phổ biển, ngày càng quan trọng trong đời sống chúng ta. Họp thảo luận phải thuyết lí, làm báo cáo phải thuyết lí, viết xã luận phải thuyết lí, soạn sách giáo khoa cũng phải thuyết lí… Tóm lại phàm là ở những chỗ Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phải động não, phàm là ở những nơi phải biện hộ cho mình, thuyết phục người khác, không thể không thuyết lí”. Muốn hoàn thành nhiệm vụ thuyết lí đó, ngoài cách phát biểu bằng miệng, chủ yếu phải viết thành văn bản nghị luận. “Văn nghị luận là một loại văn trong đó người viết đưa ra những lí lẽ, dẫn chứng một vấn đề nào đấy và thông qua cách thức bàn luận mà làm cho người đọc hiểu, tin, tán đồng những ý kiến của mình và hành động theo những điều mà mình đề xuất.
TS Đỗ Ngọc Thống trong cuốn “Làm văn” cho rằng:”Văn nghị luận là một thể văn phản ánh rõ nhất đời sống tinh thần, tư tưởng, ý chí và khát vọng của một dân tộc. Nói một cách khái quát văn nghị luận là một thể loại nhằm phát biểu tư tưởng, tình cảm, thái độ, quan điểm của người viết một cách trực tiếp về văn học hoặc chính trị, đạo đức, lối sống… Nhưng lại được trình bày bằng một thứ ngôn ngữ trong sáng hùng hồn, với những lập luận chặt chẽ, mạch lạc, giàu sức thuyết phục…” [27,30] Trong sách giáo khoa ngữ văn lớp 7, tập hai có viết về văn nghị luận như sau: “Văn nghị luận là văn được viết ra nhằm xác lập cho người đọc, người nghe một quan điểm, tư tưởng nào đó” [14] Như vậy, dã có rất nhiều định nghĩa khác nhau về văn nghị luận, xong các định nghĩa trên đều có chung một điểm thống nhất là cho rằng: Văn nghị luận là loại văn người viết bày tỏ ý kiến, quan điểm về một vấn đề nào đó, dùng lí lẽ, dẫn chứng để thuyết phục người đọc, người nghe đồng tình theo quan điểm của mình. Yêu cầu đối với việc dạy học văn nghị luận a) Đáp ứng mục tiêu dạy học đề ra trong chương trình ngữ văn THPT Mục tiêu dạy học văn nghị luận ở trường phổ thông được đề ra như sau: - Hoàn thiện những hiểu biết về văn nghị luận (đặc điểm, vai trò của luận điểm, yêu cầu của đề văn và ngôn ngữ của bài văn nghị luận,…) - Hiểu biết cách thức triển khai các thao tác lập luận: giải thích, chứng minh,… - Biết vận dụng kiến thức về văn nghị luận để đọc- hiểu văn bản nghị luận. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Biết viết đoạn văn, bài văn nghị luận về một vấn đề xã hội hoặc văn học; biết điều chỉnh dung lượng của bài văn.
- Biết viết đoạn văn, bài văn theo các thao tác giải thích, chứng minh,…; biết huy động các kiến thức về tác phẩm văn học được học ở lớp 10 để viết bài. b) Phát huy được tính chủ động, sáng tạo của học sinh Yêu cầu và cách thức sáng tạo trong bài văn nghị luận chưa được chú trọng trong dạy học văn nghị luận ở trường phổ thông. Một bài văn hay là bài văn có cách viết sáng tạo, cách nghĩ, cách cảm sáng tạo. Nhưng như thế nào là “sáng tạo” thì học sinh cũng cần được hướng dẫn và gợi ý cụ thể.
Giáo viên từ việc lựa chọn nội dung, dẫn chứng đến việc sử dụng hình thức văn bản, cách thức trình bày phải rất linh hoạt và sáng tạo từ đó thúc đẩy học sinh tìm tòi những cách thể hiện mới mẻ để có thể bộc lộ quan điểm bản thân một cách thuyết phục. c) Phát triển được năng lực viết văn nghị luận cho học sinh. Làm văn là hoạt động rèn luyện và sáng tạo. Tham gia vào quá trình viết vài văn, học sinh được trau dồi vốn hiểu biết, rèn luyện năng lực và bồi dưỡng tâm hồn, tình cảm, nhân cách.
Dạy học văn nghị luận trong nhà trường phổ thông có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với việc rèn luyện các năng lực thực tế cho học sinh. Năng lực hành văn bao gồm viết câu chủ đề, sử dụng các câu văn triển khai lí lẽ và dẫn chứng, câu văn kết luận và liên kết đoạn văn. Ngôn từ cần chính xác, diễn đạt mạch lạc, lập luận chặt chẽ, dẫn chứng và lí lẽ thuyết phục; lời văn trong sáng, cảm xúc chân thực. Học sinh cần được rèn luyện cụ thể kĩ thuật viết văn bằng các đề tài gần gũi, quen thuộc, xuất phát từ đời sống của chính bản thân.
d) Phát triển tư duy phản biện cho học sinh Giáo viên tổ chức cho học sinh các hoạt động trao đổi, chia sẻ bài viết của mình với bạn. Hoạt động này, sẽ có những tác động tích cực tới các em. Nếu đối tượng giao tiếp là giáo viên thì các em sẽ thấy thiếu tự tin, không dám bày tỏ hết suy nghĩ của mình và viết cũng khó khăn hơn. Nhưng nếu đối tượng giao tiếp là các bạn, chắc chắn cảm giác tự tin sẽ thúc đẩy các em chủ động viết Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com và hứng thú viết hơn.
Như là viết cho người đã biết và viết cho người chưa biết vậy. Điều này đồng nghĩa với việc học sinh sẽ cố gắng, nỗ lực trong quá trình làm sáng rõ vấn đề để thuyết phục bạn- bạn đọc gần gũi mà mình đã hiểu ít nhiều về tâm lí, tình cảm. Học sinh vừa được thưởng thức sản phẩm sáng tạo của nhau, học tập lẫn nhau, vừa có thể tranh luận sôi nổi về tư tưởng và cách trình bày trong bài viết của mình, của bạn. Tổ chức hoạt động này, dạy học văn nghị luận sẽ thực sự phát huy được vai trò của mình đối với rèn luyện các năng lực thực tế cho học sinh THPT đặc biệt là rèn luyện năng lực tư duy phản biện.
Tư duy phản biện trong dạy học văn nghị luận 1. Khái niệm tư duy phản biện Tư duy phản biển… sự đánh giá trí tuệ để nghiên cứu chính nó Tư duy phản biện là một khái niệm phong phú đã được phát triển trong suốt 2500 năm qua. Thuật ngữ “tư duy phản biện” có nguồn gốc từ giữa thế kỷ 20. Chúng tôi cung cấp ở đây các định nghĩa trùng nhau, cùng nhau hình thành nên một quan niệm thực tế và liên ngành về tư duy phản biện * Tư duy phản biện theo định nghĩa của Hội đồng Quốc gia về sự xuất sắc trong tư duy phản biện, 1987 Một tuyên bố của Michae Scriven và Richard Paul, được trình bày tại Hội nghị Quốc tế thường niên lần thứ 8 về cải cách giáo dục và tư duy phản biện, hè năm 1987.
Tư duy phản biện là một tiến trình tư duy tích cực và thành thạo trong việc khái niệm hóa, phân tích, tổng hợp, và đánh giá những tin tức thu nhận được từ sự quan sát hay do kinh nghiệm, suy niệm, lý luận hay giao tiếp (với các nguồn tin khác) để hướng dẫn hành động và tạo niềm tin. Khi đưa ra hình mẫu của mình, tư duy phản biện dựa trên các giá trị tri thức phổ quát vượt qua sự phân chia chủ đề: rõ ràng, chính xác, cụ thể, nhất quán, phù hợp, có bằng chứng thuyết phục, lý do chính đáng, nội dung có chiều sâu, quan điểm quảng đại và công bằng. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tư duy phản biện đòi hỏi việc kiểm tra những cấu trúc hoặc các yếu tố tư duy tiềm ẩn trong tất cả các lý luận: mục đích, vấn đề, hoặc vấn đề dựa vào câu hỏi; các giả định; các khái niệm; nền thực nghiệm; lý luận dẫn đến kết luận; tác động và hậu quả; phản đối từ các quan niệm thay thế; và khung tham khảo. Tư duy phản biện- đáp ứng linh hoạt các chủ đề, các vấn đề và các mục đích dạng- được liên kết trong mô hình tư duy lẫn nhau, trong đó bao gồm: Tư duy khoa học, tư duy toán học, tư duy lịch sử, tư duy nhân học, tư duy kinh tế, tư duy đạo đức, tư duy triết lý.
Tư duy phản biện có thể được xem như có hai thành phần: - Một tập hợp các thông tin, tạo niềm tin và quy trình hóa kĩ năng - Thói quen dựa trên sự cam kết mang tính trí tuệ, sử dụng các kĩ năng đó để hướng dẫn hành vi.