MỞ ĐẦU (2 ich sử nhân loại đã chứng minh rằng : Một đất nước muôn dat được sự iii thịnh vương về mặt kinh tế cẩn phải dưa trên sức manh chat xám, dưa trên Asc sử dung tài sản trí tuệ và các nguồn lực vé các khoa học công nghệ, g thời nhờ vào việc phát triển lực lượng lao đông rất lành nghé và thường xuyên học hỏi. Như vậy nên kinh tế phát triển bao giờ cũng có tiền để là nẻn giáo dục phát triển cao, Ngày nay, các cuộc cách mang khoa học kỹ thuật trên thế giới phát triển mạnh mẻ đòi hỏi phải tăng cường vẻ số lượng lẫn chất lượng đội ngũ các nhà khoa học, trí thức, đội ngũ lao động xã hội, phát triển tư duy sáng tao, tài nang sáng chế của giới trẻ bằng con đường giáo dục - nâng cao dân trí, phổ cập nghề nghiệp. s Để đáp ứng những đòi hỏi trên, chúng ta phải nhận thức được vị trí, vai trò của giáo dục và đào tạo. Chính vì vậy, Đại hội Đảng Cộng Sin Việt Nam lần thứ VII đã xác định "Giáo dục và đào tạo phải được xem là quốc sách hàng đẩu” và "đẩy mạnh hơn nữa sự nghiệp giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ coi đó là quốc sách hàng đầu để phát huy nhân tố con người, động lực trực tiếp của su phát triển".
Sự khẳng định này hết sức đúng đắn và phù hợp với yêu cầu của cách mạng Việt Nam. Trong thời đại bùng nổ tri thức khoa học và công nghệ trên toàn thế giới thì đổi mới phương pháp giáo dục luôn luôn là yêu cầu cấp bách của thời đại. Đất nước ta lại đang chuyển từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà Nước. Điểu đó đòi hỏi chúng ta không những phải học hỏi kinh nghiệm của các nước phát triển mà còn đòi hỏi phải 4p dung những kinh nghiệm đó một cách sáng tạo tìm ra con đường phát triển riêng phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của đất nược.
Tình hình trên đòi hỏi nền giáo dục phải có những đổi mới sâu sắc để đào tạo cho đất nước những con người hoạt động có hiệu quả trong xã hội mới đó. Nghị quyết Trung ương lần thứ tư khóa VII vé "tiếp tục đổi mới sự nghiệp giáo dục đào tao” tháng 1-1993 đã nhấn mạnh đến đào tao những con người lao động tự chủ, ning động, sáng tao, có năng lực giải quyết những vấn để thường gặp, tư lo được việc làm và thăng tiến trong cuộc sống qua đó góp phan xây dựng đất nước giàu manh, đưa đất nước phát triển kịp với thời dai, Trang 5 LUẬN VAN TỐT NGHIỆP |. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI: Mục đích của giáo dục ngày nay không dừng lai ở việc truyền thu kiến thức, kinh nghiệm cho học sinh mà còn béi dưỡng cho họ năng lực sáng tạo ra kiến thức mới và ứng dụng vào sản xuất nhanh chóng. Để thực hiện phương pháp đổi mới giáo dục nhằm dat được những mục dich trên thì chúng ta cần chú ý đến các vấn để sau : - Tao cơ sở vật chất kỹ thuật, trang thiết bị đầy đủ, phù hợp và hiện đại.
Cần chú ý đến diéu kiện làm việc của giáo viên, hoàn cảnh học tập của học sinh. - Học sinh phải tự lực hoạt động để tái tạo ra những kiến thức và năng lực mà loài ngưỡi đã tích lũy để biến chúng thành cái riêng của mình. - Giáo viên có vai trò vừa là người truyền thụ kiến thức, kinh nghiệm vừa là người tạo điều kiện tốt nhất cho học sinh hoạt đông sáng tạo có hiệu quả. Vai trò của giáo viên rất nặng nể, quan trọng và phức tạp.
Để thực hiện tốt vai trò của mình, giáo viên phải nấm vững nội dung môn học, phải có những kỹ năng kỹ xảo cần thiết phục vu cho giảng day. Cụ thể với việc giảng dạy môn hóa học, bên cạnh việc nắm vững kiến thức giáo viên còn phải có kỹ năng, kỹ xảo trong việc tiến hành thí nghiệm, trong việc vẽ hình, làm mô hình, mẫu vật phục vụ cho việc giảng day. Về việc rèn luyện kỹ năng vẽ hình cho sinh viên hiện nay có nhiều ý kiến khác nhau : 1. Việc rèn luyện kỹ năng vẽ hình là không can thiết vì đã có thí nghiệm và các sơ đồ tranh in sẩn.
Giáo viên hóa học cần biết vẽ hình nhưng không cần học ở ĐHSP vì ở phổ thông học sinh đã được dạy vẽ, do đó không cần thiết phải đưa giờ vẽ hình vào chính khóa. Việc rèn luyện kỹ năng vẽ hình cho sinh viên khoa hóa trường ĐHSP là can thiết và phải được luyện tập có kế hoạch ngay từ những năm đầu cùng với các kỹ nang day học khác. Ý kiến thứ (3) cho rằng trong chương trình học ở phổ thông hiện nay, ở cấp hai, các em chỉ được học về trang trí mẫu vẽ, vẽ mỹ thuật, còn ở cấp ba, các em lai được học về vẽ máy móc kỹ thuật. Khi trở thành sinh viên khoa Hóa trường ĐHSP, nếu không được rèn luyện kỹ năng vẽ hình thì những tranh ảnh do các em Trang 6 LUẬN VAN TOT NGHIỆP vẽ để phục vụ cho việc học tập hóa học sẽ mắc nhiều sai sót về tính mỹ thuật và tính chính xác.
Sau này khi trở thành giáo viên, nếu sử dụng nhữnh tranh ảnh như vậy để day thì sẽ làm giảm di sự thành công của tiết day và học sinh sẽ có những nhân xét không tốt về khả năng vẽ hình của giáo viên. Như vậy việc rèn luyện kỹ năng vẽ hình và sử dụng hình vẽ cho sinh viên khoa Hóa trường ĐHSP có vai trò hết sức quan trọng. Với những lý do trên em quyết định nghiên cứu vấn để : ” Rèn luyên kỹ ning vẽ hình va sử dụng hình vẽ cho sinh viên khoa Hoá trường ĐHSP ". Il MỤC DICH NGHIÊN C Khi nghiên cứu để tài này em có mục đích duy nhất là muốn góp phần nhỏ bé của mình vào việc nghiên cứu khoa học giáo dục phục vụ cho công tác đào tạo ở các trường sư phạm, cụ thể là nâng cao chất lượng đào tạo và rèn luyện tay nghề cho người giáo viên hóa học tương lai qua việc rèn luyện kỳ năng vẽ hình và sử dụng hình vẽ, 111, ĐỐI TƯỢNG VÀ KHÁCH THE NGHIÊN CUU : 1.
Đối tượng nghiên cứu : Kỹ năng vẽ hình và sử dụng hình vẽ của sinh viên khoa Hoá và việc rèn luyện kỹ năng này ở trường ĐHSP. Khách thể nghiên cứu : Quá trình đạy và học môn hóa ở trường phổ thông và trường ĐHSP. Lam rõ tim quan trong của hình vẽ trong giảng dạy hóa học. Giúp cho các sinh viên nắm được một số kỹ thuật vẽ được sử dung trong day và học hóa học.
Ren luyén kỹ ning vẽ hình và sử dụng hình vẽ trong việc dạy môn hóa ở phổ thông LUAN VAN TỐT NGHIỆP Nếu biết cách rèn luyện kỹ năng vẻ hình và sử dụng hình vẽ một cách hiệu quả ở khoa Hoá trường DHSP thì sé nang cao chất lượng đào tạo giáo viên, đáp ứng được yêu cầu mà cải cách giáo dục để ra. Nghiên cứu dé tài này, em đã sử dụng các phương pháp sau : 1. Đọc và nghiên cứu các tài liệu có liên quan đến dé tài. Tiến hành điều tra cơ bản đối với các sinh viên của năm thứ hai, thứ ba của khoa Hóa.
Phân tích, tổng hợp kinh nghiệm. Thực nghiệm sư phạm đối với sinh viên năm hai và năm ba. 5, Sử dụng thống kê toán học trong việc xử lý các số liệu. LUẬN VAN TỐT NGHIEP 2 CƠ SỞ THUC TIEN VA LÝ LUẬN CUA VAN ĐỀ NGHIÊN CỨU I.
HINH VẼ LÀ MO Ệ : Các phương tiện dạy học là một tập hợp những đối tượng vật chất được giáo viên sử dụng với tư cách là những phương tiện điều khiển hoạt đông nhận thức của học sinh. Đối với học sinh, đó là nguồn wi thứ phong phú, sinh động. là các phương tiện giúp cho các em lĩnh hội tri thức và rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo. Các phương tiện dạy học cơ bản phổ biển rộng rãi trong nhà trường gồm ba loai 1.
Phương tiện kỹ thuật dạy học : ( Phương tiện chiếu ) Các phương tiện kỹ thuật dạy học bao gồm các phương tiện nghe - nhìn và các mấy day học, trong đó các phương tiện nghe nhìn chiếm vị trí quan trọng nhất. Các phương tiện nghe - nhìn này lại bao gồm : - Các giá mang thông tin (ban trong, phim, bang từ, 4m, - hình, đĩa ghi âm, ghi hình. - Các mấy móc chuyển tải thông tin ghi ở các giá mang thông tin (đèn chiếu, máy chiếu phim, radio, cassette, tivi. Phương tiện dạy học trực quan hay hệ thống đồ dùng dạy học trực quan (phương tiện không chiếu) bao gầm : - Mẫu vật: gồm mẫu vật thật, mẫu vật phân phát, vật nhổi, các sản phẩm nhân tạo, các bộ sưu tầm.
- Hình vẽ, sơ đồ, tranh ảnh. Thí nghiệm nhà trường. Trang 9 LUẬN VĂN TỐT NGHIÊP B-Ý NGHĨA VAI TRÒ CUA PHƯƠNG TIEN DAY HỌC ; Các phương tiện day học thay thé cho những sự vat hiện tượng và các quá trình xảy ra trong thực tiền mà giáo viên và học sinh không thể tiếp cân được. Chúng giúp cho giáo viên phát huy tất cả các giác quan của học sinh trong quá trình truyền thụ kiến thức, do đó giúp cho họcsinh nhận biết được quan hệ giữa những hiện tượng và tái hiện những khái niêm.
qui luật làm cơ sở cho việc đúc rút kinh nghiệm và áp dung kiến thức đã học vào thực tế, Thực tiễn sư phạm cho thấy có phương tiện day hoc, lao đông của giáo viên sẽ được giảm nhẹ, rút ngắn thời gian tìm hiểu vấn dé và giúp cho việc trao dồi kiến thức của học sinh được dễ dàng và lâu bền hơn. Phương ngôn ta có câu “Tram nghe không bằng một thấy, trăm thấy không bằng một làm" để nói lên mức độ quan trọng của việc tác động của các giác quan trong quá trình truyền thụ kiến thức. Trong tai liệu " Hướng dẫn chế tạo và sử dụng phương tiện dạy học 7 của Tô Xuân Giáp đã tổng kết mức độ ảnh hưởng của các giác quan trong quá trình truyền thụ kiến thức như sau : 1% qua nếm 1,5% qua sờ 3,5% qua ngửi 11% qua nghe 83% qua nhìn Đây là tỉ lệ tiếp thu wi thức khi học. Còn tỷ lệ kiến thức nhớ được như sau : 20% qua những gì mà ta nghe được.
30% qua những gì mà ta nhìn được. 50% qua những gì mà ta nghe và nhìn được. 80% qua những gì mà ta nói được. 90% qua những gì mà ta nói và làm được.