CHƯƠNG 1 MOT SÓ VAN DE LY LUẠN VE QUYỀN HIẾN MO, BO PHAN CƠ THE NGƯỜI VÀ HIẾN XÁC 1. Khái niệm mô, BPCT ngườivà xác Trong từ điền Tiêng Việt chưa có định nghĩa thê nao là BPCT người, chỉ giải thích các nglifa phái sinh ân du của từ liên quan đền các bộ phận riêng biệt. Theo Bách khoa toàn thir Cơ thé người là toàn bộ cau trúc của mat con người, bao gồm một đầu, cô, thân (chia thành hai phan là ngực và bung), hai tay và hai chân Mối phan của co thé được câu thành bởi hàng loạt các loại tế bao. Chính vì vậy, khi Luật bao vệ sức khoẻ nhân dân 1989 và BLDS năm 2005, hién tại được áp dung theo BLDS năm 2015 ghi nhận về quyền được hiến, nhận BPCT của cá nhân như một quyền nhân thên mà không nêu định ngiấa đá gây ra những cách hiểu khác nhau về thuật ngữ này.
Điều này, đã ảnh hưởng lớn trong thực tiễn thực hiện pháp luật về quyền hiên, nhận BPCT người và xác. Cho dén khi Luật hiện lây, ghép mô, BPCT người và hiến lây xác được thông qua vào năm 2006, khái niém “mổ” và “bộ phẩn cơ thé người” moi được quy định tại Điêu 3 của Luật nay. Theo đó, mô là tập hợp các tế bao củng một loại hay nhiéu loại khác nhau dé thực hiên các chức năng nhật định của cơ thé người? Trên cơ thé người có rat nhiều loại mô nhưng tiêu biểu nhật gồm có 04 loại: Mô biểu bi: gém một hay nhiều lớp tế bảo ở mat ngoài hay lót bên trong xoang hoặc sinh ra các tuyên đặc (gan, thận, tuy). Những mô lót bên trong xoang cơ thể gọi là biểu mô giữa.
Các m6 đơn độc hình tru hoặc khối sắp xép chất chế với lông nhô ra trên bê mat tự do gọi là biểu mô tiêm mao. Mô liên kết: gam các tế bào liên kết, nằm rải rác trong các chat nén, có chức nang tao ra bộ khung cơ thé, neo giữ các cơ quan. Mô liên kết bao gồm: mô sợi, mô xương, mô liên kết dinh dưỡng, mô sụn. Mô cơ: là thành phân của hệ vận động có chức năng co giãn, gém ba loại mô: mô cơ vân, mô cơ trơn và mô cơ tim.
Mô thân kinh: là loại mô cảm ứng của đông vật, gồm tế bao thân kinh hay noron và tê bao thân kinh đệm. TẾ bao thân kinh có thân chứa nhân, những nhánh: ` Được quy dinh tại khoản 1 Điều3 Luật hiin, lây, ghép mô, BPC T người và hie, lay xác nim 2006. 7 bảo tương mọc từ thân ra gọi là sơi thân kinh: soi trục và đuôi gai. Té bao thân kinh dém là mô chéng đỡ của hệ thân kinh có ở xung quanh khoang của trục não, tuỷ va trên bề mặt những nhung mao của đám rồi mang mach tạo thành lớp biểu mô don? CònBPCT người: “Tà một phẩn của cơ thé được hình thành từ nhiều loại mô khác nhau để thực hiển các chức năng sinh Ìý nhất đinh”.
Chúng là sự tông hợp của nhiêu yêu tô trên cơ thể người bao gồm các phân cơ thé, hay con goi là các khoang cơ thé, các cơ quan khác trong hệ cơ quan con người. BPCT người ví du nhv nhấn câu, thận. 1a những phân không thé tách rời cơ thé người khi thực luận chức năng Nhìn chung khái niệm “bổ phận cơ thé người” không quá mới la đối với cơ quan tiên hành tổ tung và người tiên hành tô tung như khái niém “mổ”. Vê khái niệm BPCT người PGS.TS Phùng Trung Tập cho rằng “BPCT người là những thành té câu thành cơ thé sông hoàn chinh và nó thực hiện chức năng trao đổi chất giúp cơ thé tồn tại và phát triển bình thường theo quy luật tư nhiền”.
Qua phân tích, chúng ta có thé hiéu: “M6 là một tập hợp các tế bào chuyên hoá có cắu tao giống nhan hoặc khác nhau nhưng cìmg phải thực hiển chức năng nhất đình đối với cơ thé người“ con “BPCT người là một thé thông nhất được hình thành từ các loại mô khác nhan tạo thành một cơ thé sống hoàn chỉnh mà mỗi BPCT thực hiện một chức năng trao đôi chất khác nhau giúp cơ thé tổn tại, phát triển”. Như vay, Theo quy định tại mục 3, chương III của Luật Hiền, lây, ghép mô, BPCT người và hiến, lây xác, chết não là một nội dung đắc biệt quan trọng được quy định thành một mục riêng trong Luật. Theo đó, việc xác định. chết não là cơ sở pháp lý đã tiên hành lay mô, tang của người có thé đăng ký hiển mô, tang sau khi chết.
Tuy nhiên, dé xác đính được chết não phải có đủ 3 chuyên gia (hồi sức cấp cứu, thân kinh hoặc phẫu thuật thân kinh và giám đính pháp y) và đáp ứng đủ các tiêu chuẩn lâm sàng tiêu chuẩn cân lâm sảng và tiêu chuẩn thời gian V ân đề nhay cảm này đặt ra khái niệm thé nào là “chết”, phân biệt giữa “chết sinh học” và “chết não” trên thực tế van có nhiêu quan điểm khác nheu về van đề nay. ` Nguyễn Quốc Trầều- Pham Song, Từ điển bách khoay học, Nxb. Y hoc ,2010,t 30 * Quy địh tại khoản 2 Điều 3 Luật hitn, lấy, ghép mỏ, BPC T người và hain, lay xác nim 2006. § Dat trong kết luận nhạy cảm này, chúng ta hiểu xác (chết là toàn bộ phân cơ thé của con người đã chết.
Trong từ điển Hán Việt còn có từ “hr tit” với ý nghĩa tương đương từ “xác chết” nhưng thường chỉ được sử dụng như một thuật ngữ trong ngành khám nghiêm và giải phẫu. V ân đề phân biệt giữa chết não và chết sinh hoc các chuyên gia nghiên cứu cho rang: Chết sinh học là tình trang ngừng tim và ngùng thở vinh viễn, điện tim và điện não đô mat hoàn toàn không thé cửu sóng được nữa, còn chết não được hiểu là tình trang não bị tên thương năng không có khả năng phục hôi và chắc chan sẽ tực sự chết Trên thực tế khi bị chết não, bệnh nhân không thé thé độc lập được và không có khả năng đáp ứng lại bat kỳ kích thích nào từ mdi trường bên ngoài. Người bệnh sẽ chết rất nhanh, chi sau vài put nều không có may móc, thiết bị hỗ trợ và sự can thiệp chuyên môn của các bác i. Thậm chí ngay cả khi co đủ các điều kiện, người bi chết não cũng có thé tử vong, Một người bị chất não sẽ không còn hoạt động than kinh ở bô nfo hoặc cuồng não Không có não, cơ thé sẽ không sản sinh những hormone cần thiết, quan.
trong để duy trì các quá trình sinh học của cơ thể, kê cả chức năng tiêu hoá, lọc máu và hệ mién dich trong thời gian không quá một tuân. Chưa kế nhiệt độ cơ thể của người bị chết não xuống thập, ho phải được đấp chăn giữ âm, duy trì nhiệt đô môi trường cao và đôi khi phải truyền finh mach am. Vì vậy, hau hết các bệnh nhân bi chết nấo đều không thé cửu chữa được” và trên thực tế thong kê ghi nhận chưa có trường hợp nào phục hội sau khi bi chân đoán là chết não. Qua đó, việc phân biệt giữa chết não và chất sinh học không có nhiêu ý nghĩa về mat pháp lý.
Các chuyên gia phân biệt như vậy, một mặt căn cử vào cơ sở y học để đưa ra két luận về sự sông, cái chết và các giai đoạn của cái chết; mat khác việc chia như vay tạo điêu kiện cho việc lây, sử đụng xác, BPCT người hiệu quả hơn, ho cho rằng nêu một người bị chết não chắc chan sé dẫn tới chết thực tê. Do đó, thời điểm vàng có thé tiên hành lây BPCT khi tinh trang người đó chết não thi sẽ đem lại hiéu quả cao hơn thời điểm họ chết thực su mới tiền hành lây các BPCT. Š Quỳnh Trang, “Chết não có chữa được khổng? Tiéu clude chân đoán chết não ~ https /nbathmoclongchau.com wnbai-viet/chet-nao-co-chaus-duuoc-Khong. từng: chman-chan-doan-chet-n20- 64071 kamal (ruy cập ngày 10/10/2023) 9 1.
Khái niệm và đặc điểm quyền hiến mô, BPCT người và hiến xác 1. Khái niệm Quyên hiến là từ ghép giữa danh từ “Quyên” dé chỉ những điều ma pháp luật, xã hội công nhận và dam bảo thực hiện đôi với cá nhân, tô chức dé theo đó cá nhân được hưởng được lam, được đòi hỏi ma không ai được ngăn can, han chế. “Hiện” là một đông từ để chỉ “sự cho, đảng thứ gig’ giá của mình một cách tự nguyên cho một chủ thé khác °”Š Day là hành vi mang tính chủ động chuyển quyền sở hữu của minh sang quyên sở hữu của người khác một cách tư nguyện, trang trọng. Như vậy, có thé rút ra định nghĩa “Quyển hiến” là một quyên cơ ban của công đâm được pháp luật công nhận và bảo đâm thực hiện theo đó công déin có thé hiến cho, tặng giá tri vật chất, tinh thần của minh cho cá nhân, tổ chức khác ma không bị ai ngăn can, han chế.
Theo khoản6 Điều 3 Luật hiền, lấy, ghép mô, BPCT người và hiến, lay xác quy định: “hiến mô. BPCT là việc cá nhân tự nguyện hiến mô, BPCT của minh khi còn sống hoặc sau lẻi chết”. Quan điểm này đã chỉ ra nguồn goc của đối tương hién phải xuất phát từ chinh cơ thé của chủ thé thực hiện hành vi hay hành vi hiện phải là hành vi trực tiệp tự mình thực hiện, không qua đại diện của cá nhân Ngoài ra, còn nhân manh tính tự nguyên của chủ thể khí thực hiện hành vĩ qua đó thể hién tinh nlhên văn sâu sắc. Vi vậy, có thé hiểu hiên mô, BPCT người có nghiia là tặng, cho một phân cơ thé của một chủ thê xác định Theo tác gia Hoàng Thị Minh Du: “Hiến mé, BPCT người là hành vi trực hép, tư nguyện của cá nhân theo guy đình của pháp luật nhằm tăng/cho một phan cơ thể của chỉnh mình vì mu đích nhân đạo, chữa bênh, giảng dạy hoặc nghiên cứu khoa học và hoàn toàn vô điều kién “7 Có thê thay, cách định nghia nay đã cụ thé và rõ rang hơn về hiên mô, BPCT nhung định nghĩa nay mắc đính hành động hién luôn phải di kèm với mục đích nhân đạo, chữa bệnh, giảng day hoặc nghiên cứu khoa học.
Quyền hiên mô, BPCT và hiến xác được quy định tại Điều 35 BLDS năm 2015. Theo đó việc hiển luôn đi kèm với mục đích chứa bệnh cho người khác hoặc nghiên cửu y hoc, được học va các nghiên cứu khoa học khác. Không tổn tại việc * Hoàng Vin Hành (chủ bền) (2003), Từ điện Tiếng Việt, NXB Từ đền Bích khoa ,tr 15. ˆHoàng Thi Minh Du, 2008, Luận vin thạc sĩ Mật học: '2Mổt sổ Đứa cạnh pháp tý liên quan đến vấn để liển BPCT người”, Trường Đại học Luật Ha Nội, tr.