phần mở đầu, kết luận, thì đƣợc chia làm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và pháp lý thực hiện pháp luật về thành lập mới doanh nghiệp tại Phòng Đăng ký kinh doanh thuộc Sở Kế hoạch và Đầu tƣ Thành phố Hồ Chí Minh Chƣơng 2: Thực trạng thực hiện pháp luật về đăng ký thành lập mới doanh nghiệp tại Phòng Đăng ký kinh doanh Thành phố Hồ Chí Minh thuộc Sở Kế hoạch và Đầu tƣ Thành phố Hồ Chí Minh Chƣơng 3: Giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về thành lập mới doanh nghiệp của Phòng Đăng ký kinh doanh thuộc Sở Kế hoạch và Đầu tƣ Thành phố Hồ Chí Minh 5 Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và pháp lý thực hiện pháp luật về thành lập mới doanh nghiệp tại Phòng Đăng ký kinh doanh thuộc Sở Kế hoạch và Đầu tƣ Thành phố Hồ Chí Minh 1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò thực hiện pháp luật về thành lập mới doanh nghiệp của Phòng Đăng ký kinh doanh Sở Kế hoạch và Đầu tƣ Thành phố Hồ Chí Minh 1. Khái niệm, đặc điểm về doanh nghiệp 1. Khái niệm doanh nghiệp Lịch sử hình thành và phát triển của doanh nghiệp có nguồn gốc từ thời kỳ cổ đại, khi con ngƣời bắt đầu tổ chức các hoạt động kinh doanh nhằm mục đích trao đổi hàng hóa và dịch vụ để đáp ứng nhu cầu của cộng đồng.
Ngày nay, doanh nghiệp không chỉ là các tổ chức kinh doanh mà còn là những bộ phận không thể thiếu của nền kinh tế toàn cầu. Trải qua các giai đoạn lịch sử, quan điểm pháp lý về doanh nghiệp đã chịu những sự thay đổi phù hợp với tình hình kinh doanh thực tế. Tại Việt Nam, khái niệm về doanh nghiệp nhà nƣớc đã xuất hiện từ năm 1948, khi theo Sắc lệnh số 104-SL đƣợc ký bởi Chủ tịch Hồ Chí Minh vào ngày 01/01/1948, doanh nghiệp nhà nƣớc lúc đó đƣợc gọi là doanh nghiệp quốc gia. Điều 2 của Sắc lệnh này rõ ràng ghi nhận: "Doanh nghiệp quốc gia là một doanh nghiệp thuộc quyền sở hữu của quốc gia và được quốc gia điều khiển".
Sau đó, vào năm 1991, thuật ngữ "doanh nghiệp nhà nƣớc" đƣợc chính thức sử dụng trong Nghị định số 388-HĐBT. Tuy nhiên, cho đến năm 1995, mới bắt đầu có những nỗ lực đầu tiên để "công ty hóa" đối với doanh nghiệp nhà nƣớc. Cụ thể, theo Luật Doanh nghiệp nhà nƣớc 1995, doanh nghiệp nhà nƣớc đƣợc định nghĩa là: "Tổ chức kinh tế do nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích, nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội do Nhà nước giao". 6 Luật này cũng chỉ ra các hình thức tồn tại của doanh nghiệp nhà nƣớc nhƣ doanh nghiệp độc lập, tổng công ty và doanh nghiệp thành viên của tổng công ty.
Đến năm 2003, theo Luật Doanh nghiệp nhà nƣớc, "Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, phần góp vốn chi phối được, tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn. Đến Luật doanh nghiệp 2005, mới có cách hiểu thống nhất về doanh nghiệp: “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh”. Hiện nay khái niệm về doanh nghiệp đƣợc ghi nhận tại Luật Doanh nghiệp năm 2020 thì “Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh. Nhƣ vậy có thể thấy doanh nghiệp là một tổ chức hoặc cơ sở kinh doanh với mục đích chính là tạo ra sản phẩm hoặc cung cấp dịch vụ để kiếm lời.
Đây là một tổ chức tự quản lý và tự chủ trong các hoạt động kinh doanh của mình. Mục tiêu chính của doanh nghiệp là tạo ra lợi nhuận cho các chủ sở hữu và cổ đông thông qua việc cung cấp sản phẩm hoặc dịch vụ ra thị trƣờng. Tuy nhiên, không chỉ có mục tiêu lợi nhuận, một số doanh nghiệp cũng có thể theo đuổi các mục tiêu xã hội nhƣ bảo vệ môi trƣờng, hỗ trợ cộng đồng. Đặc điểm doanh nghiệp Doanh nghiệp với tƣ cách là tổ chức kinh tế có những đặc điểm là cơ sở để phân biệt với các tổ chức khác.
Doanh nghiệp có các đặc điểm pháp lý cơ bản nhƣ sau: Thứ nhất, doanh nghiệp phải có tên riêng, tên riêng của doanh nghiệp là dấu hiệu để phân biệt, xác định tƣ cách chủ thể độc lập của mỗi doanh nghiệp và là cơ sở để Nhà nƣớc thực hiện quản lý nhà nƣớc đối với doanh nghiệp. Tên của doanh nghiệp không chỉ là một cái tên thông thƣờng, mà nó còn là biểu tƣợng của danh 7 tiếng và uy tín của doanh nghiệp trên thị trƣờng. Trong môi trƣờng cạnh tranh gay gắt hiện nay, việc chọn một tên phù hợp và dễ nhớ là một yếu tố quan trọng để tạo ra ấn tƣợng và thu hút sự chú ý của khách hàng. Đồng thời, việc bảo vệ tên thƣơng hiệu là một phần quan trọng của chiến lƣợc kinh doanh, giúp ngăn chặn việc sao chép không đúng pháp luật và bảo vệ quyền lợi kinh doanh của doanh nghiệp.
Thứ hai, doanh nghiệp phải có tài sản mục đích thành lập của doanh nghiệp là kinh doanh, do đó tài sản là điều kiện hoạt động của doanh nghiệp. Tài sản đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra giá trị cho doanh nghiệp và là nguồn cung cấp vốn để doanh nghiệp thực hiện các hoạt động kinh doanh và đầu tƣ. Tài sản không chỉ bao gồm tài sản vật chất nhƣ nhà xƣởng, máy móc, trang thiết bị mà còn bao gồm các nguồn lực phi vật chất nhƣ thƣơng hiệu, quan hệ đối tác, và sở hữu trí tuệ. Thứ ba, doanh nghiệp phải có trụ sở chính, doanh nghiệp thành lập và hoạt động phải đăng ký một địa chỉ giao dịch trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam.
Địa chỉ trụ sở chính cũng là địa chỉ mà cơ quan nhà nƣớc và đối tác kinh doanh có thể liên hệ, nó cũng là nơi tập trung các hoạt động quản lý và điều hành của doanh nghiệp. Thứ tư, doanh nghiệp phải thực hiện thủ tục thành lập theo quy định của pháp luật. Quy trình thành lập doanh nghiệp cần tuân thủ các quy định và thủ tục pháp lý để đảm bảo doanh nghiệp đƣợc thành lập hợp pháp đúng quy định nhầm đản bảo cho hoạt động kinh doanh sau này và tránh rủi ro pháp lý. Thứ năm, mục tiêu thành lập doanh nghiệp là để thực hiện các hoạt động kinh doanh.
Mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp đƣợc thể hiện thông qua các sảc sản phẩm hoặc dịch vụ mà doanh nghiệp cung cấp cho khách hàng. Bằng việc thực hiện các hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp tạo ra giá trị và lợi ích không chỉ cho chính doanh nghiệp mà còn cho cộng đồng và xã hội. Phân loại doanh nghiệp Doanh nghiệp tồn tại trong thị trƣờng kinh tế với muôn vàn hình thức và phƣơng thức hoạt động khác nhau. Dựa theo từng tiêu chí, mục đích hay các góc nhìn khác nhau mà có các cách phân loại doanh nghiệp khác nhau.
Doanh nghiệp có thể đƣợc phân loại theo những tiêu chí khác nhau nhƣ sau: 8 Phân loại căn cứ vào tƣ cách pháp lý của doanh nghiệp, doanh nghiệp đƣợc phân chia thành doanh nghiệp có tƣ cách pháp nhân và doanh nghiệp không có tƣ cách pháp nhân. - Doanh nghiệp có tƣ cách pháp nhân đƣợc xem là một thực thể pháp lý riêng biệt, có khả năng pháp lý độc lập và chịu trách nhiệm về nghĩa vụ pháp lý và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật - Doanh nghiệp không có tƣ cách pháp nhân là các doanh nghiệp cá nhân không đƣợc công nhận là thực thể pháp lý riêng biệt. Phân loại theo phạm vi trách nhiệm tài sản mức độ chịu trách nhiệm tài sản trong hoạt động kinh doanh của chủ sở hữu doanh nghiệp, doanh nghiệp đƣợc chia thành, doanh nghiệp chịu trách nhiệm hữu hạn và doanh nghiệp chịu trách nhiệm vô hạn trong kinh doanh. - Doanh nghiệp chịu trách nhiệm hữu hạn, chủ sở hữu chỉ chịu trách nhiệm đối với nghĩa vụ tài chính của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp.
Đây là hình thức phổ biến của nhiều công ty cổ phần và công ty trách nhiệm hữu hạn. - Doanh nghiệp chịu trách nhiệm vô hạn, chủ sở hữu chịu trách nhiệm vô hạn đối với nghĩa vụ tài chính của doanh nghiệp, có nghĩa là tài sản cá nhân của chủ doanh nghiệp cũng có thể bị dùng để thanh toán nghĩa vụ về tài chính của doanh nghiệp. Đây thƣờng là trƣờng hợp trong doanh nghiệp tƣ nhân hoặc công ty hợp danh. Phân loại theo cơ cấu chủ sở hữu và phƣơng thức góp vốn vào doanh nghiệp, doanh nghiệp đƣợc chia thành: Doanh nghiệp một chủ sở hữu (doanh nghiệp tƣ nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên) và doanh nghiệp nhiều chủ sở hữu (công ty cổ phần, công ty TNHH 2 thành viên trở lên, công ty hợp danh).
Phân loại theo hình thức pháp lý của doanh nghiệp, theo Luật Doanh nghiệp năm 2020, có các loại hình doanh nghiệp sau đây: 9 - Công ty cổ phần; Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên; Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên; Công ty hợp danh; Doanh nghiệp tƣ nhân. Khái niệm, đặc điểm của thực hiện pháp luật thành lập mới doanh nghiệp 1. Khái niệm thành lập mới doanh nghiệp Khái niệm thành lập mới doanh nghiệp dƣới các góc độ khác nhau, đăng ký thành lập doanh nghiệp mang theo các ý nghĩa và khái niệm khác nhau: Dƣới góc độ kinh tế - xã hội, đăng ký thành lập doanh nghiệp ở góc độ này là một biện pháp thúc đẩy phát triển kinh tế bằng cách tạo điều kiện cho việc hình thành và hoạt động của các doanh nghiệp. Đây cũng có thể đƣợc xem là một cơ hội để tạo ra việc làm, đóng góp vào sự phát triển kinh tế thông qua việc tạo ra sản phẩm và dịch vụ mới.
Dƣới góc độ pháp lý, đăng ký thành lập doanh nghiệp là quá trình pháp lý cần thiết để công nhận sự tồn tại và hoạt động hợp pháp của một doanh nghiệp. Việc đăng ký doanh nghiệp liên quan đến việc tuân thủ các quy trình, quy định pháp luật về doanh nghiệp. Dƣới góc độ quản lý nhà nƣớc, đăng ký thành lập doanh nghiệp ở góc độ này liên quan đến việc quản lý và giám sát của nhà nƣớc, nhằm đảm bảo rằng các doanh nghiệp hoạt động theo đúng quy định pháp luật.