Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý luận nghiên cứu đề tài Chương 3: Thực trạng bình đẳng giớitrong gia đình cán bộ, công chức tại Thành phố Hồ Chí Minh Chương 4: Ảnh hưởng của việc thực hiện bình đẳng giớitrong gia đình đến phát triển nghề nghiệp của cán bộ, công chức. 12 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Hơn một thập niên trở lại đây, chủ đề nghiên cứu về giới đang nổi lên mạnh mẽ ở Việt Nam. Các nghiên cứu được tiến hành trên nhiều góc độ khác nhau, đã góp phần nâng cao nhận thức của xã hội về vấn đề bình đẳng giớitrên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Những nghiên cứu này nhấn mạnh đến vai trò của người phụ nữ trong gia đình và xã hội, cũng như nhấn mạnh các quyền lợi chính đáng của phụ nữ.
Các nghiên cứu đã đóng góp quan trọng cho tiến trình lập pháp có liên quan đến bình đẳng giới, tác động đến nhận thức và các hành động cụ thể nhằm giảm thiểu tình trạng bất bình đẳng giới. Trong khuôn khổ của một luận án, tác giả xin trình bày một cách tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến chủ đề của luận án với mục đích giúp chúng ta có cái nhìn tổng thể từ lý thuyết cho đến thực tiễn về nghiên cứu bình đẳng giới trong gia đình. Việc hệ thống hóa các chủ đề, các vấn đề mà những nghiên cứu trước đề cập là cần thiết để tác giả có được những bằng chứng khoa học, trên cơ sở đó học hỏi, kế thừa những thành quả nghiên cứu đi trước của các tác giả khác. Tổng quan tài liệu của luận án gồm có 5 nhóm vấn đề sau: (i) Xây dựng khung đo lường về bình đẳng giới trong gia đình; (ii) Tình trạng bình đẳng giớitrong quyềnra quyết định giữa vợ và chồng và phân công lao động trong gia đình; (iii) Tình trạng bạo lực trong quan hệ vợ chồng; (iv) Nguyên nhân và các rào cản thực hiện bình đẳng giới trong gia đình; (v) Ảnh hưởng của tình trạng bình đẳng giớitrong gia đình đến phụ nữ trong phát triển nghề nghiệp.
Xây dựng khung đo lường về bình đẳng giới trong gia đình Việc phân chia vai trò được xem như điểm mấu chốt trong khung lý thuyết của phái nữ quyền. Họ cho rằng bất bình đẳng giới trong gia đình cần phải được giải thích dưới dạng sự phân công các vai trò giới mà đến lượt mình chỉ có thể hiểu được bằng việc chúng ta đã nuôi dạy con cái như thế nào, bằng sự phân công lao động theo giới tính, bằng các định nghĩa văn hóa 13 về cái gì là thích hợp đối với mỗi giới, và bằng các sức ép xã hội mà chúng ta đặt lên mỗi một trong hai giới [Mai Quỳnh Nam, 2004:32]. Những năm đầu 1980, Caroline Moser, đại học London, Anh đã xây dựng khung MOSER để làm công cụ phân tích giới. Trong đó vai trò giới là khái niệm công cụ quan trọng để phân tích tương quan giới trong gia đình và xã hội.
Vai trò giới vẽ lên một bức tranh về phân công lao động. Moser cho rằng trong một ngày và trong một đời, phụ nữ và nam giới có xu hướng làm những công việc khác nhau, họ thực hiện những vai trò khác nhau, được gọi là vai trò giới. Khuôn mẫu giới này khác nhau giữa các xã hội, các nền văn hóa và trình độ phát triển cho nên sẽ có những cách đánh giá khác nhau về các vai trò. Sự biến đổi của khuôn mẫu giới gắn liền với biến đổi xã hội.
Khung Moser dựa trên ba khái niệm chính: tam giác vai trò của phụ nữ; nhu cầu giới chiến lược và thực tế; và các tiếp cận chính sách phụ nữ trong phát triển (WID) và phụ nữ và phát triển (GAD) [Caroline O. Trong các nghiên cứu về gia đình người ta thường xét trên các phương diện phân công lao động trong gia đình, quyền quyết định trong gia đình, các vấn đề về phân công lao động theo giới trong gia đình, vai trò của vợ và chồng trong chăm sóc gia đình đã trở thành một trong những chủ đề được nghiên cứu kỹ lưỡng hơn [N. Tại Việt Nam, nghiên cứu về bình đẳng giớivà sử dụng các lý thuyết về giới trong nghiên cứu gia đình là tương đối phổ biến. Nghiên cứu mối quan hệ giới trong gia đình cần phải có khung đo lường để biểu thị tình trạng bấtbình đẳng giớitrong gia đình.
Khung đo lường có 3 chỉ báo thường được dùng để biểu thị: (i) Mối quan hệ kinh tế, thu nhập, sở hữu tài sản; (ii) Thực hiện chức năng tái sản xuất: quyết định về số con, chia sẻ công việc nội trợ gia đình, quan tâm đến nhau về sức khỏe, công việc, cùng chăm lo cuộc sống gia đình; (iii) Quan niệm, nhận thức về bình đẳng giới, xử lý mâu thuẫn gia đình, chia sẻ trách nhiệm về nuôi dạy con cái; bạo lực giữa vợ và chồng [Nguyễn Hữu Minh, 2013]. 14 Bình đẳng giớitrong gia đình được GS. Lê Thi xây dựng khung phân tích bao gồm các chỉ báo đo lường: (i) Quyền quyết định công việc trọng đại của gia đình: tỷ lệ nam, nữ làm chủ hộ gia đình, quyền sở hữu tài sản của gia đình; Ngoài ra tác giả đề cập đến quyền sinh con, quyết định số con, lựa chọn và sử dụng các biện pháp tránh thai cũng được đưa vào trong khung phân tích bình đẳng giới trong gia đình. (ii) Thực hiện công việc lao động trong gia đình: các công việc nội trợ, chăm sóc con cái; giáo dục con cái.
(iii) Tình trạng bạo lực gia đình từ chửi mắng, đe dọa, đánh đập,. Khung phân tích của Trần Thị Cẩm Nhung về Quyền lực của vợ và chồng trong việc quyết định các công việc của gia đình. Quyền quyết định trong gia đình thể hiện quyền lực của vợ và chồng trong gia đình được định nghĩa là khả năng người vợ/chồng gây ảnh hưởng đến hành vi/hành động của người kia và được thể hiện bằng việc đưa ra các quyết định liên quan đến đời sống gia đình [Trần Thị Cẩm Nhung, 2012]. Tác giả dựa trên 03 khung lý thuyết chính: thuyết phân bổ nguồn lực tương đối, lý thuyết về vai trò giới và thuyết văn hóa vào trong phân tích mối quan hệ quyền lực của vợ và chồng trong gia đình: như hoạt động sản xuất kinh doanh, chi tiêu, mua sắm tài sản, học hành của con cái, công việc đối ngoại, đối nội.
Với mô hình phân tích như vậy, tác giả đã chỉ ra được đặc trưng của quyền lực giữa vợ và chồng vẫn tuân theo vai trò truyền thống. Nhưng có sự khác nhau giữa các nhóm xã hội khác nhau về trình độ học vấn, về mức đóng góp trong thu nhập gia đình, về khu vực nơi họ sinh sống là nông thôn hay đô thị,. trên cơ sở đó tác giả chỉ ra những biến đổi trong cơ cấu quyền lực giữa vợ và chồng trong gia đình. Vũ Mạnh Lợi, nghiên cứu về phân công lao động và quyền ra quyết định giữa vợ và chồng.
Ông đã xây dựng khung đo khác biệt hơn so với các nghiên cứu đi trước. Thay vì liệt kê các công việc trong gia đình thì tác giả có sự phân chia các công việc này theo thế mạnh của từng giới để nhìn nhận một cách khách quan về mô hình phân công lao động trong gia đình giữa vợ và chồng [Vũ Mạnh Lợi, 2013]. 15 Quyền quyết định trong gia đình thường được xem xét dưới góc độ tương quan giữa vợ và chồng trong quyết định một số công việc như: sản xuất, kinh doanh, mua bán tài sản lớn, hoặc xây nhà cửa. Các nghiên cứu phân tích cơ cấu quyền lực trong gia đình thường sử dụng khung lý thuyết phân bổ nguồn lực tương đối, theo đó, người nào có nguồn lực nhiều hơn sẽ có vị trí cao hơn trong quyết định các công việc gia đình.
Theo Blood và Wolfe (1978), ba nguồn lực quan trọng quyết định cán cân quyền lực của vợ và chồng trong gia đình là thu nhập, ưu thế nghề nghiệp, trình độ học vấn. Như vậy, các chỉ báo đo lường về bình đẳng giới trong mối quan hệ giữa vợ và chồng trong gia đình từ các nghiên cứu trên cho thấy tương đối đa dạng, xây dựng khung đo phụ thuộc nhiều vào mục tiêu nghiên cứu. Nhưng phổ biến là các khung đotrong những nghiên cứu trên vẫn được phân tích từ quyền quyết định trong gia đình và sự phân công lao động giữa vợ và chồng trong gia đình. Trên cơ sở đó việc xem xét ai có quyền quyết định những vấn đề quan trọng trong gia đình và việc lượng hóa phân công lao động theo giới trong gia đình cho phép nhà nghiên cứu chỉ ra những bất hợp lý từ góc độ giới trong công việc, lợi ích và địa vị xã hội của phụ nữ và nam giới.
Các nghiên cứu về thực trạng bình đẳng giới trong gia đình Các nghiên cứu về bình đẳng giới dựa trên công cụ phân tích là quyền ra quyết định và phân công lao động trong gia đình đã mang lại những nhận diện khá rõ nét về bình đẳng giới trong gia đình. Cách đây gần hai thế kỷ, Friedrich Engels (1848) và Karl Marx đã mô tả gia đình như thể là cội nguồn của bất bình đẳng xã hội do vai trò của nó trong sự chuyển giao quyền lực, của cải và đặc quyền, đặc lợi. Gia đình đã góp phần vào sự bất công xã hội; phủ nhận các cơ hội của phụ nữ, những cơ hội vốn mở rộng cho nam giới. Các lý thuyết gia duy nữ quyền và duy xung đột ghi nhận rằng gia đình xưa nay đã hợp thức hóa và duy trì mãi sự thống trị của nam giới.
Suốt phần lớn lịch sử của con người – và trong rất nhiều xã hội – người chồng thực thi quyền lực và thẩm quyền áp đảo bên trong gia đình. 16 Đặc trưng của phân công vai trò giới truyền thống trong gia đình là người chồng giữ vai trò trụ cột về kinh tế còn người vợ làm nội trợ. Mô hình này được cả hai giới chấp nhận như là sự phân công lao động tự nhiên, phù hợp với thiên chức của mỗi giới. Trong những thập kỷ 60 - 70 của thế kỷ XX về trước, chủ đề này cũng ít được nghiên cứu ngay cả ở các nước phương Tây.
Theo nhận xét của Huber và Spitzer (1983) Khoảng 20 năm trước đây, hầu như không có nghiên cứu của khoa học xã hội về công việc nội trợ. Nhưng từ khi có sự phát triển của công nghệ và sản xuất đòi hỏi phụ nữ tham gia ngày càng tăng vào lực lượng lao động xã hội,… ngày càng có nhiều nghiên cứu về chủ đề này để hiểu được bản chất của sự biến đổi phân công vai trò giới trong gia đình.