Tổng quan luận án

Công trình nghiên cứu "Bình đẳng giới trong gia đình cán bộ công chức tại Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay - Thực trạng và giải pháp" do nghiên cứu sinh Thân Thị Ngọc Phúc thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Văn Thủ, bảo vệ năm 2016 tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam. Luận án thuộc chuyên ngành Xã hội học, mã số 62.01, tiếp cận vấn đề bình đẳng giới dưới góc độ xã hội học thực nghiệm kết hợp lý luận.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Về mặt chính sách và thực tiễn xã hội, vấn đề bình đẳng giới được Đảng và Nhà nước Việt Nam xác định là mục tiêu và động lực phát triển quốc gia, thể hiện qua Quyết định số 2351/QĐ-TTg ngày 24/12/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược Quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011 - 2020. Dù Việt Nam đạt nhiều chỉ số tích cực như xếp thứ 48/147 quốc gia về chỉ số bất bình đẳng giới (UNDP, 2013), tỷ lệ tham gia thị trường lao động của nữ đạt 83% so với 85% của nam ở độ tuổi 15 - 60 (Ngân hàng Thế giới, 2013), thực tế xã hội vẫn tồn tại bất bình đẳng giới do ảnh hưởng của hệ tư tưởng Nho giáo và định kiến giới (Võ Thị Mai, 2003). Đời sống gia đình thường bị coi là phạm trù riêng tư (Mai Huy Bích, 2006), trong khi tỷ lệ nam giới chia sẻ công việc nội trợ tăng chậm, tạo ra gánh nặng kép cho phụ nữ, kèm theo các hiện tượng bạo hành gia đình còn diễn ra ở nhiều mức độ (UNDP, 2010).

Về mặt lý luận, luận điểm "Cuộc hành quân của sự tiến bộ" (The March of Progress) của Young và Willmott (1973) cho rằng công nghiệp hóa thúc đẩy mô hình "gia đình đối xứng" với quan hệ hôn nhân bình đẳng, khởi nguồn từ các cặp vợ chồng nghề nghiệp đôi thuộc tầng lớp trung lưu (Tony Bilton, 1993). Bối cảnh Thành phố Hồ Chí Minh là một đô thị có tốc độ công nghiệp hóa - hiện đại hóa cao. Đội ngũ cán bộ, công chức (CBCC) tại đây được xem là nhóm xã hội có trình độ học vấn, am hiểu pháp luật và giữ vai trò nòng cốt trong tuyên truyền chính sách (theo tinh thần Chỉ thị 49/CT-TW của Ban Bí thư). Luận án xác định khoảng trống nghiên cứu: chưa có công trình phân tích chuyên sâu về thực trạng bình đẳng giới ngay trong gia đình của nhóm CBCC đô thị để kiểm chứng các giả định của lý thuyết hiện đại hóa, đồng thời làm rõ mối quan hệ giữa bình đẳng giới trong gia đình với sự phát triển nghề nghiệp của CBCC.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở tiếp cận các lý thuyết xã hội học liên quan, hệ thống hóa cơ sở lý luận và pháp lý về bình đẳng giới trong gia đình, luận án làm rõ thực trạng thực hiện bình đẳng giới trong gia đình cán bộ, công chức tại Thành phố Hồ Chí Minh; từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao nhận thức và tạo chuyển biến trong thực hiện bình đẳng giới ở nhóm gia đình này.

Nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản xác định cụ thể theo 5 nội dung:

  1. Sưu tầm tài liệu, hệ thống hóa các lý thuyết liên quan đến vấn đề nghiên cứu để làm rõ cơ sở lý luận và các khái niệm cần dùng trong đề tài.
  2. Tiến hành điều tra xã hội học và khảo sát thực tế để thu thập các thông tin về thực trạng bình đẳng giới trong gia đình cán bộ, công chức tại Thành phố Hồ Chí Minh.
  3. Trên cơ sở các thông tin thu thập được từ các cuộc điều tra, khảo sát thực tế, tiến hành việc xử lý, phân tích, làm rõ thực trạng thực hiện bình đẳng giới trong gia đình cán bộ, công chức tại Thành phố Hồ Chí Minh; đưa ra những nhận xét, đánh giá mặt mạnh, mặt hạn chế và tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên.
  4. Phân tích thực trạng bình đẳng giới trong gia đình đã tác động như thế nào đến phát triển nghề nghiệp của cả nam và nữ cán bộ, công chức.
  5. Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao bình đẳng giới trong gia đình cán bộ, công chức tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu

Câu hỏi nghiên cứu:

  1. Cán bộ, công chức tại Thành phố Hồ Chí Minh thực hiện bình đẳng giới trong gia đình của họ như thế nào?
  2. Những nhân tố nào tác động đến thực hiện bình đẳng giới trong gia đình cán bộ, công chức?
  3. Thực trạng bình đẳng giới trong gia đình có ảnh hưởng như thế nào đến phát triển nghề nghiệp của mỗi giới?

Giả thuyết nghiên cứu:

  1. Trong nhiều gia đình cán bộ, công chức tại Thành phố Hồ Chí Minh, tình trạng phân công lao động theo giới vẫn tiếp tục được lưu giữ; quan hệ quyền lực giữa vợ và chồng trong gia đình còn chưa bình đẳng.
  2. Các nhân tố giới, nhận thức về bình đẳng giới, người đóng góp chính vào thu nhập trong gia đình của cán bộ, công chức có những ảnh hưởng ở mức độ nhất định đến việc thực hiện bình đẳng giới trong gia đình.
  3. Thực trạng thực hiện bình đẳng giới trong gia đình cán bộ, công chức hiện nay đang có những ảnh hưởng tiêu cực đến phát triển nghề nghiệp của nữ cán bộ, công chức nhiều hơn nam.

Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Bình đẳng giới trong gia đình cán bộ, công chức tại Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Khách thể nghiên cứu: Nam và nữ cán bộ, công chức đã lập gia đình; cán bộ phụ trách công tác bình đẳng giới tại Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Phạm vi không gian: Nghiên cứu khảo sát tại các cơ quan quản lý hành chính nhà nước ở 3 cấp hành chính của Thành phố Hồ Chí Minh:
    • Cấp Thành phố: 3 sở trực tiếp quản lý và thực hiện nội dung quản lý nhà nước về bình đẳng giới (Sở Nội vụ, Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội).
    • Cấp quận/huyện: 8 quận (Quận 3, 9, 10, 11, Gò Vấp, Tân Bình, Tân Phú) và 2 huyện (huyện Cần Giờ và huyện Bình Chánh), đại diện cho khu vực trung tâm, cận trung tâm và ngoại thành.
    • Cấp phường/xã: mỗi quận/huyện chọn ra 01 phường/xã trực thuộc.
  • Phạm vi thời gian: Khảo sát thực tiễn quan sát trong khoảng 10 năm kể từ thời điểm Nghị quyết số 11-NQ/TW của Bộ Chính trị về công tác phụ nữ ban hành ngày 27/4/2007. Cuộc điều tra khảo sát thực địa được triển khai từ tháng 02/2014 đến tháng 10/2014.
  • Phạm vi nội dung: Luận án tập trung vào mối quan hệ giữa vợ và chồng trong gia đình CBCC ở hai phương diện chính: phân công lao động gia đình và quan hệ quyền lực (quyền quyết định, quyền uy và bạo lực gia đình); các yếu tố tác động (giới tính, chức vụ, độ tuổi, nhận thức giới, thu nhập); ảnh hưởng của các yếu tố này đến cơ hội thăng tiến và phát triển nghề nghiệp.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tài liệu của luận án được tác giả phân chia theo 5 nhóm vấn đề chính:

Nhóm vấn đề tổng quan Tác giả và công trình tiêu biểu được trích dẫn Luận điểm chính được điểm lại
1. Khung đo lường bình đẳng giới trong gia đình Caroline Moser (thập niên 1980); Mai Quỳnh Nam (2004); Blood & Wolfe (1978); Nguyễn Hữu Minh (2013); Lê Thi; Trần Thị Cẩm Nhung (2009, 2012); Vũ Mạnh Lợi (2013). Tiếp cận khung MOSER (vai trò giới, WID, GAD); lý thuyết phân bổ nguồn lực tương đối dựa trên thu nhập, học vấn, nghề nghiệp; phân tách quyền lực hữu hình và quyền lực vô hình; xây dựng chỉ báo về phân công việc nhà, quyền quyết định và bạo lực.
2. Thực trạng phân công lao động và quyền quyết định F. Engels (1848); Karl Marx; Mary Wollstonecraft; John Stuart Mill; Huber & Spitzer (1983); Gershuny et al. (1994); Hochschild (1989); Sullivan (1997); Nguyễn Linh Khiếu (2003); Lê Ngọc Văn (2004); Vũ Huy Tuấn và cs (2004). Phân công vai trò truyền thống gắn nữ với nội trợ, nam với kinh tế; gánh nặng vai trò kép khi phụ nữ tham gia việc làm có trả lương ngoài xã hội; nam giới chia sẻ công việc nhà ở mức độ giới hạn; chồng vẫn giữ vai trò quyết định việc quan trọng.
3. Tình trạng bạo lực trong quan hệ vợ chồng Tuyên bố Bắc Kinh (United Nations, 1995); UNDP (2010); GSO/WHO/UNFPA (2010); Lê Thị Quý (1996, 1999); Lê Thị Phương Mai & Katharine Lanfdield (1998, 1999); Vũ Mạnh Lợi và cs (1999); Rydstrom (2006); Phạm Quỳnh Phương (2013). Bạo lực gia đình là biểu hiện của quan hệ quyền lực bất bình đẳng mang tính lịch sử; kết quả khảo sát quốc gia năm 2010 trên 4.838 phụ nữ chỉ ra 32% bị bạo lực thể xác, 10% bạo lực tình dục, 54% bạo lực tinh thần; bạo lực tinh thần diễn ra phổ biến nhưng bị che giấu.
4. Nguyên nhân và các rào cản bình đẳng giới Simone de Beauvoir (1996); John Stuart Mill; Juliet Mitchell; Thorne (1982); Ferguson (1989); Mai Huy Bích (1993, 2003); Hoàng Thị Khánh (1995); Trần Thị Anh Thư (2010); Rydstrom (2003, 2006); Hoàng Tú Anh và cs (2000); Trần Đình Hượu (1991); Phan Thị Thu Hiền (2008). Bất bình đẳng xuất phát từ chế độ phụ hệ, tư tưởng Nho giáo, chuẩn mực văn hóa truyền thống; bất cập trong cơ chế chính sách hòa giải (quy định tỷ lệ thương tật 11% mới truy cứu hình sự); sự duy trì định kiến giới ở các cặp vợ chồng trẻ dưới sức ép xã hội.
5. Ảnh hưởng đến phát triển nghề nghiệp Ngân hàng Thế giới (2011); Lê Ngọc Văn (2006); Vũ Tuấn Huy (2006); Nguyễn Đức Hạt (2006); Nguyễn Thu Linh (2005); Võ Thị Mai (2011); Phạm Thu Hiền (2013). Gánh nặng việc nhà cản trở cơ hội học tập, công tác; xung đột giữa hạnh phúc gia đình và công danh sự nghiệp ở cán bộ nữ; hiện tượng "bức tường kính" và các rào cản văn hóa làm suy giảm động lực vươn lên vị trí lãnh đạo, quản lý của phụ nữ.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết:

  • Đa phần các công trình trước đây tập trung vào nhóm phụ nữ nói chung, phụ nữ nông thôn hoặc khảo sát năng lực của cán bộ nữ từ góc độ tuyển dụng, bổ nhiệm ngoài cơ quan. Luận án đi sâu vào mối quan hệ giới ngay trong nội bộ gia đình của đội ngũ cán bộ, công chức đô thị.
  • Bổ sung khía cạnh bạo lực gia đình (thể xác, ngôn từ, tinh thần, tình dục) và quyền uy vô hình vào khung phân tích quyền lực vợ chồng của nhóm công chức, một phương diện ít được khai thác do tính chất nhạy cảm và khép kín của gia đình trí thức, công chức.
  • Kiểm chứng giả thuyết về sự xuất hiện của mô hình "gia đình đối xứng" và xu hướng bình đẳng của các cặp vợ chồng nghề nghiệp đôi tại Thành phố Hồ Chí Minh, nơi có điều kiện hiện đại hóa cao.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và các khái niệm công cụ

Luận án vận dụng bốn hệ thống lý thuyết xã hội học và giới:

  1. Lý thuyết cấu trúc - chức năng: Tiếp cận quan điểm của Talcott Parsons về sự phân hóa vai trò và chức năng trong gia đình nhằm duy trì sự ổn định của hệ thống xã hội; lý giải tại sao các khuôn mẫu văn hóa truyền thống về giới vẫn tồn tại dai dẳng dù cấu trúc kinh tế đã biến đổi.
  2. Lý thuyết nữ quyền và quan điểm giới: Tiếp cận khung phân tích giới của Caroline Moser, các luận điểm của Simone de Beauvoir, John Stuart Mill, Juliet Mitchell để bóc tách sự phân công lao động theo giới, bất bình đẳng trong phân bổ quyền lực và các cơ chế áp bức phụ nữ hình thành từ định chế xã hội.
  3. Lý thuyết hiện đại hóa: Tập trung vào luận điểm "Cuộc hành quân của sự tiến bộ" của Young và Willmott (1973) về sự hình thành của "gia đình đối xứng" trong xã hội công nghiệp, nơi vai trò của vợ và chồng có xu hướng bình đẳng, cân bằng và san sẻ trách nhiệm công việc gia đình cũng như công việc ngoài xã hội.
  4. Thuyết phân bổ nguồn lực tương đối: Quan điểm của Blood và Wolfe (1978) về cán cân quyền lực trong gia đình phụ thuộc vào ba nguồn lực cơ bản: thu nhập, địa vị nghề nghiệp và trình độ học vấn của mỗi bên.

Các khái niệm cơ bản được định nghĩa và thao tác hóa:

  • Bình đẳng giới: Căn cứ Luật Bình đẳng giới (2006), là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực cho sự phát triển của cộng đồng, gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả phát triển.
  • Gia đình: Khái niệm được tổng hợp từ Nguyễn Hữu Minh (2012), Lê Ngọc Văn (2012), Đặng Cảnh Khanh (2003), xác định là nhóm xã hội đặc thù hình thành trên quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng, ràng buộc bởi các chuẩn mực đạo lý và pháp lý.
  • Cán bộ, công chức: Căn cứ theo Luật Cán bộ, công chức (2008), phân định rõ cán bộ (được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm theo nhiệm kỳ) và công chức (được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh thường xuyên trong biên chế và hưởng lương ngân sách nhà nước).
  • Gia đình cán bộ, công chức: Được luận án định nghĩa là gia đình mà cả hai vợ chồng hoặc một trong hai người là cán bộ, công chức đang công tác trong cơ quan của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở ba cấp tại Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Quyền lực và quyền uy trong gia đình: Tiếp cận định nghĩa của Max Weber về quyền lực (thực hiện ý chí bất chấp sự chống đối) và quyền uy (mệnh lệnh được chấp nhận dựa trên sự đồng thuận hợp thức hóa), phân chia thành quyền lực hữu hình (quyết định chi tiêu, kinh tế, mua sắm tài sản lớn) và quyền lực vô hình (chi phối tư tưởng, gây áp lực thái độ, hạn chế cơ hội của người khác).
  • Bạo lực gia đình: Căn cứ Luật phòng, chống bạo lực gia đình (2007), khảo sát các dạng hành vi thể xác, tinh thần, ngôn từ và tình dục giữa vợ và chồng.

Khung phân tích của luận án

Luận án thiết lập mối quan hệ tác động đa biến giữa các nhóm yếu tố:

  • Nhóm yếu tố tác động: Điều kiện kinh tế - xã hội, chính sách pháp luật; đặc điểm văn hóa, phong tục, định kiến giới; đặc điểm nhân khẩu - xã hội của CBCC (giới tính, chức vụ, độ tuổi, địa bàn cư trú, mức đóng góp thu nhập, nhận thức về bình đẳng giới).
  • Nhóm biến số thực trạng (trung tâm): Bình đẳng giới trong gia đình CBCC, đo lường qua hai trục: (1) Phân công lao động trong gia đình (việc nội trợ, việc chăm sóc, thời gian làm việc nhà); (2) Quan hệ quyền lực giữa vợ và chồng (quyền ra quyết định kinh tế, đối nội, đối ngoại; mức độ uy quyền; các hành vi bạo lực gia đình).
  • Nhóm biến số kết quả: Mức độ phát triển nghề nghiệp của nam và nữ cán bộ, công chức (nắm giữ chức vụ, thay đổi vị trí công tác, mức độ hài lòng nghề nghiệp, khả năng thực thi công vụ).

Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu

Luận án phối hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng:

  • Phương pháp phân tích tài liệu có sẵn: Rà soát các văn bản pháp luật (Luật Bình đẳng giới 2006, Luật phòng, chống bạo lực gia đình 2007, Luật Cán bộ, công chức 2008), các số liệu thống kê quốc gia (GSO) và các báo cáo ngành tại Thành phố Hồ Chí Minh năm 2014.
  • Phương pháp định lượng: Điều tra bằng bảng hỏi cấu trúc đối với mẫu khảo sát là cán bộ, công chức đã lập gia đình tại các đơn vị nghiên cứu thuộc 3 sở, 8 quận và 2 huyện của Thành phố Hồ Chí Minh. Dữ liệu khảo sát được xử lý và phân tích bằng phần mềm SPSS 20.0, sử dụng các kỹ thuật thống kê mô tả (tần số, tỷ lệ phần trăm), phân tích bảng chéo, mô hình hồi quy tuyến tính (phân tích các nhân tố tác động đến chia sẻ việc nhà, quyền quyết định việc quan trọng, tạo điều kiện phát triển nghề nghiệp) và hồi quy logistic.
  • Phương pháp định tính: Tiến hành các cuộc phỏng vấn sâu (in-depth interview) và thảo luận nhóm (focus group discussion) với cán bộ, công chức nam và nữ, cán bộ quản lý và cán bộ phụ trách công tác bình đẳng giới để tìm hiểu sâu về quan niệm vai trò giới, áp lực tâm lý và các trải nghiệm bạo lực gia đình.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chương 1 hệ thống hóa các tài liệu khoa học trong nước và quốc tế liên quan đến bình đẳng giới trong gia đình theo năm nhóm chủ đề: khung đo lường bình đẳng giới, thực trạng phân công lao động và quyền quyết định, vấn đề bạo lực vợ chồng, các rào cản - nguyên nhân của bất bình đẳng giới, và tác động của bất bình đẳng gia đình đến sự nghiệp của phụ nữ. Tác giả chỉ ra rằng phần lớn các nghiên cứu đã mô tả hiện tượng phân công lao động bất bình đẳng và gánh nặng kép của phụ nữ, nhưng chưa đi sâu phân tích mối quan hệ nhân quả giữa quan hệ quyền lực gia đình với mức độ tiến thân trong công vụ của công chức đô thị. Chương này xác định rõ khoảng trống khoa học mà luận án tập trung giải quyết: phân tích thực nghiệm mô hình gia đình CBCC tại Thành phố Hồ Chí Minh như một trường hợp điển hình về sự biến đổi của cấu trúc giới dưới tác động của hiện đại hóa.

Chương 2: Cơ sở lý luận nghiên cứu đề tài

Chương 2 xác lập nền tảng lý luận của luận án thông qua việc làm rõ hệ thống khái niệm công cụ: gia đình, bình đẳng giới, cán bộ, công chức, gia đình cán bộ công chức, quyền lực, quyền uy và bạo lực gia đình. Luận án tích hợp lý thuyết cấu trúc - chức năng của Parsons, lý thuyết nữ quyền xã hội học, khung phân tích giới MOSER, thuyết phân bổ nguồn lực tương đối của Blood & Wolfe, và lý thuyết hiện đại hóa của Young & Willmott. Từ đó, tác giả xây dựng khung phân tích đo lường bình đẳng giới qua hai chiều kích chính: phân công lao động gia đình và quan hệ quyền lực giữa vợ chồng (bao gồm quyền ra quyết định, quan hệ uy quyền vô hình và bạo lực gia đình). Chương này đồng thời trình bày quy trình thao tác hóa biến số, phương pháp điều tra bảng hỏi, xử lý thống kê bằng phần mềm SPSS 20.0 kết hợp kỹ thuật phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm.

Chương 3: Thực trạng bình đẳng giới trong gia đình cán bộ, công chức tại Thành phố Hồ Chí Minh

Chương 3 trình bày các dữ liệu thực nghiệm về thực trạng bình đẳng giới trong gia đình CBCC khảo sát tại Thành phố Hồ Chí Minh, tập trung vào hai nội dung cốt lõi:

Lĩnh vực khảo sát Các chỉ báo và bảng số liệu trong văn bản Phát hiện thực nghiệm của luận án
1. Phân công lao động gia đình Bảng 3.1: Người phụ trách chính việc chăm sóc; Bảng 3.2: Mức độ đồng ý về phân công việc nhà; Bảng 3.3: Người phụ trách nội trợ; Bảng 3.4: Thời gian làm việc nhà; Bảng 3.5: Mô hình hồi quy tuyến tính chia sẻ việc nhà; Bảng 3.6: Người đóng góp thu nhập; Bảng 3.7: Thời gian làm thêm; Bảng 3.8: Ý kiến về chia sẻ việc nhà; Bảng 3.9: Quan niệm vai trò phụ nữ. Phụ nữ vẫn là người phụ trách chính các công việc chăm sóc con cái, người già và nội trợ bếp núc. Thời gian dành cho việc nhà của nữ CBCC cao hơn đáng kể so với nam CBCC. Nam giới tham gia việc nhà mang tính hỗ trợ, không thường xuyên. Định kiến coi nội trợ là "thiên chức của phụ nữ" vẫn tồn tại trong nhận thức của một bộ phận CBCC cả nam lẫn nữ.
2. Quan hệ quyền lực giữa vợ và chồng Bảng 3.10: Người thực hiện chính các quyết định; Bảng 3.11: Mô hình hồi quy quyền quyết định việc quan trọng; Bảng 3.12: Vai trò nam giới; Bảng 3.13: Sự chia sẻ giữa vợ chồng; Bảng 3.14: Thái độ khi vợ/chồng thăng tiến; Bảng 3.15: Hình thức hỗ trợ công việc; Bảng 3.16: Hồi quy tạo điều kiện nghề nghiệp; Bảng 3.17: Quyền lực của chồng; Bảng 3.18: Áp lực vợ chồng; Bảng 3.19: Các dạng hành vi bạo hành; Bảng 3.20: Bạo lực ngôn từ; Bảng 3.21: Bạo lực thể xác và tình dục. Quyền quyết định các vấn đề lớn (kinh tế, mua sắm tài sản giá trị, nhà cửa) vẫn nghiêng về người chồng hoặc do chồng chủ trì. Tồn tại quyền lực vô hình dưới dạng áp lực tâm lý đối với phụ nữ thành đạt hơn chồng. Tình trạng bạo lực gia đình vẫn hiện diện trong gia đình CBCC, trong đó bạo lực ngôn từ và áp lực tinh thần chiếm tỷ lệ cao hơn so với bạo lực thể xác; nạn nhân chủ yếu chịu đựng trong im lặng.

Dữ liệu định tính qua các Hộp 3.1 đến Hộp 3.6 phản ánh tâm tư của nữ công chức về mong muốn được chồng san sẻ việc nhà, các tổn thương tâm lý sau bạo hành và thực trạng phân vai truyền thống vẫn chi phối mạnh mẽ đời sống gia đình.

Chương 4: Ảnh hưởng của thực trạng bình đẳng giới trong gia đình đến phát triển nghề nghiệp của nam và nữ cán bộ, công chức Thành phố Hồ Chí Minh

Chương 4 phân tích mối liên hệ tương quan giữa mức độ bình đẳng giới trong gia đình với sự phát triển sự nghiệp của CBCC:

  • Sự khác biệt trong phát triển nghề nghiệp giữa hai giới: Thống kê số lượng lãnh đạo chủ chốt trong bộ máy hành chính nhà nước tại Thành phố Hồ Chí Minh năm 2014 (Bảng 4.1) cho thấy tỷ lệ cán bộ nữ giữ các cương vị chủ chốt còn thấp hơn nam giới. Phân tích về thay đổi công việc trong 5 năm (Bảng 4.2), tỷ lệ nắm giữ chức vụ và mức độ hài lòng công việc (Bảng 4.3, Bảng 4.4) phản ánh nam giới có nhiều cơ hội thăng tiến và tiếp cận các vị trí lãnh đạo hơn.
  • Nhận định về rào cản phát triển: Kết quả khảo sát tại Bảng 4.5, 4.6 và 4.7 xác nhận đa số CBCC đồng tình với nhận định "nữ CBCC hiện nay còn bị hạn chế nhiều trong công việc bởi gánh nặng gia đình". Việc thiếu sự chia sẻ công việc nhà từ người chồng khiến phụ nữ giảm quỹ thời gian học tập nâng cao trình độ, tham gia các hoạt động xã hội hoặc nhận các nhiệm vụ đòi hỏi đi công tác, làm thêm ngoài giờ.
  • Quan niệm vai trò giới và sự ủng hộ của bạn đời: Khảo sát tại Bảng 4.8, 4.9 và 4.10 chỉ ra rằng quan hệ giới trong gia đình tác động trực tiếp đến động lực làm việc. Nữ CBCC nhận được sự ủng hộ, chia sẻ của chồng sẽ hoàn thành tốt hơn nhiệm vụ cơ quan. Ngược lại, những định kiến xã hội đối với người phụ nữ thành đạt hơn chồng (phản ánh trong các Hộp 4.1 đến Hộp 4.8) tạo ra áp lực tâm lý nặng nề, buộc nhiều cán bộ nữ phải nhượng bộ cơ hội tiến thân để bảo toàn hòa khí gia đình.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt lý luận và khoa học

  1. Hoàn thiện khái niệm khoa học: Luận án góp phần cụ thể hóa và hoàn thiện khái niệm "Bình đẳng giới trong gia đình cán bộ, công chức" trong điều kiện đô thị hóa và hiện đại hóa, làm rõ tính đặc thù của nhóm gia đình có cả hai hoặc một trong hai vợ chồng tham gia bộ máy công quyền.
  2. Xây dựng khung đo lường tích hợp: Xây dựng hệ thống tiêu chí và khung đo lường bình đẳng giới trong quan hệ vợ chồng đối với nhóm CBCC, kết hợp giữa quyền quyết định kinh tế - đối ngoại với phân công việc nhà, bổ sung thành tố quyền uy vô hình và các biểu hiện bạo lực gia đình (ngôn từ, tinh thần, tình dục, thể xác).
  3. Kiểm chứng các lý thuyết xã hội học trong thực tiễn:
    • Khẳng định tính phù hợp của lý thuyết cấu trúc - chức năng: Lý giải rõ ràng nguyên nhân khuôn mẫu phân công lao động giới chậm biến đổi là do các yếu tố văn hóa truyền thống, tư tưởng Nho giáo vẫn bám sâu trong cấu trúc gia đình, dù điều kiện kinh tế - xã hội của đô thị đã chuyển biến.
    • Thách thức giả định của lý thuyết hiện đại hóa: Kết quả thực nghiệm cho thấy niềm tin của Young và Willmott về xu hướng xuất hiện "gia đình đối xứng" và hôn nhân bình đẳng ở các cặp "vợ chồng nghề nghiệp đôi" còn mờ nhạt tại Thành phố Hồ Chí Minh. Hiện đại hóa kinh tế chưa đồng nghĩa với sự suy giảm tự động của định kiến giới trong gia đình công chức.

Đóng góp mới về mặt thực tiễn

  1. Cung cấp cơ sở dữ liệu thực nghiệm: Cung cấp bức tranh thực trạng về phân công việc nhà, cán cân quyền lực và ảnh hưởng của quan hệ gia đình đến công vụ của đội ngũ CBCC tại Thành phố Hồ Chí Minh năm 2014, tạo tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu so sánh giữa các nhóm xã hội khác.
  2. Nhận diện tác động của bất bình đẳng gia đình đến khu vực công: Chỉ ra rằng sự thiếu hụt cán bộ nữ trong cơ cấu lãnh đạo chủ chốt không chỉ bắt nguồn từ quy trình công tác cán bộ mà có nguồn gốc sâu xa từ sự bất bình đẳng ngay trong phân công lao động gia đình và các áp lực quyền lực gia đình.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất

  • Đổi mới công tác truyền thông: Nâng cao nhận thức về bình đẳng giới trong gia đình cho chính đội ngũ cán bộ, công chức; xóa bỏ quan niệm coi việc nhà là "thiên chức" của phụ nữ; đề cao trách nhiệm làm gương của cán bộ, đảng viên theo Chỉ thị 49/CT-TW.
  • Hoàn thiện chính sách và công tác cán bộ: Rà soát các quy định về quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bổ nhiệm cán bộ nữ có tính đến các rào cản đặc thù về tuổi đời và gánh nặng gia đình; triển khai các mục tiêu của Chiến lược Quốc gia về bình đẳng giới 2011 - 2020 trong khu vực công.
  • Phát triển dịch vụ hỗ trợ xã hội: Khuyến khích mở rộng các dịch vụ xã hội phục vụ gia đình (chăm sóc trẻ em, người cao tuổi, dịch vụ gia đình tiện ích) nhằm hỗ trợ CBCC, đặc biệt là phụ nữ, giảm tải thời gian làm việc nhà để tập trung phát triển nghề nghiệp.
  • Thực thi nghiêm túc Luật phòng, chống bạo lực gia đình: Tăng cường các biện pháp phát hiện, can thiệp và hỗ trợ tâm lý đối với các trường hợp bị bạo lực tinh thần, bạo lực ngôn từ trong gia đình trí thức, công chức.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu:

  • Phạm vi địa bàn nghiên cứu tập trung tại Thành phố Hồ Chí Minh, giới hạn ở cơ quan hành chính nhà nước cấp thành phố (3 sở), 8 quận và 2 huyện cùng các phường/xã đại diện, chưa mở rộng ra các đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp nhà nước hoặc lực lượng vũ trang.
  • Thời gian khảo sát thực tế diễn ra trong giai đoạn từ tháng 02 đến tháng 10 năm 2014, các số liệu phản ánh thực trạng tại thời điểm quan sát, chưa theo dõi được các biến động dài hạn mang tính dọc (longitudinal).

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Mở rộng khảo sát so sánh mức độ bình đẳng giới trong gia đình giữa nhóm cán bộ, công chức với các nhóm xã hội khác như doanh nhân, lao động khu vực tư nhân hoặc nông dân.
  • Tiếp tục theo dõi, đánh giá sự chuyển dịch của mô hình gia đình theo hướng "đối xứng" tại các đô thị lớn ở các giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội tiếp theo.
  • Nghiên cứu sâu về các mô hình can thiệp chính sách hỗ trợ gia đình nhằm giải quyết mâu thuẫn giữa công việc và đời sống gia đình cho lao động nữ khu vực công.

Giá trị tham khảo

Luận án mang lại giá trị tham khảo cho nhiều nhóm đối tượng và lĩnh vực chuyên môn:

  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên: Hữu ích cho việc giảng dạy và nghiên cứu các chuyên ngành Xã hội học (Xã hội học gia đình, Xã hội học giới, Xã hội học quản lý), Công tác xã hội, và Giới và Phát triển.
  • Nhà quản lý và hoạch định chính sách: Cung cấp cơ sở thực tiễn cho Ban Vì sự tiến bộ của phụ nữ, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Sở Nội vụ tại Thành phố Hồ Chí Minh và các địa phương khác trong việc xây dựng đề án quy hoạch cán bộ nữ và triển khai Chiến lược Quốc gia về bình đẳng giới.
  • Phần đáng tham khảo nhất: Khung đo lường tích hợp các biến số phân công lao động, quyền quyết định và bạo lực gia đình; quy trình phối hợp phương pháp định lượng (SPSS 20.0 với các mô hình hồi quy tuyến tính) và định tính (phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm) trong nghiên cứu xã hội học.

Câu hỏi thường gặp

  1. Luận án sử dụng lý thuyết nào để giải thích sự chậm biến đổi trong phân công lao động gia đình của CBCC? Tác giả sử dụng lý thuyết cấu trúc - chức năng để lý giải rằng các yếu tố văn hóa, phong tục, định kiến giới truyền thống và ảnh hưởng của hệ tư tưởng Nho giáo bám rễ sâu trong cấu trúc xã hội. Các chuẩn mực này tiếp tục được tái sản xuất trong gia đình, khiến khuôn mẫu phân công lao động theo giới chậm thay đổi mặc dù các điều kiện kinh tế - xã hội đã hiện đại hóa.

  2. Luận án đánh giá như thế nào về luận điểm "gia đình đối xứng" của Young và Willmott tại Thành phố Hồ Chí Minh? Luận án chỉ ra rằng luận điểm "Cuộc hành quân của sự tiến bộ" và mô hình "gia đình đối xứng" của Young và Willmott chưa thể hiện rõ nét trên thực tế khảo sát. Mặc dù các gia đình CBCC tại Thành phố Hồ Chí Minh thuộc nhóm "vợ chồng nghề nghiệp đôi" và sống trong môi trường công nghiệp hóa cao, sự bình đẳng thực chất trong chia sẻ việc nhà và quyền lực giữa vợ chồng vẫn chưa đạt được như kỳ vọng lý thuyết.

  3. Tại sao luận án đưa thành tố bạo lực gia đình vào khung phân tích quyền lực giữa vợ và chồng? Tác giả xem bạo lực gia đình là trạng thái biểu hiện cao nhất của sự bất bình đẳng giới về quyền lực, thể hiện sự áp đặt, chi phối của người này đối với người khác. Việc đưa bạo lực gia đình (đặc biệt là bạo lực ngôn từ và tinh thần) vào khảo sát giúp bộc lộ những góc khuất quyền lực vô hình trong các gia đình công chức đô thị, vốn thường bị che giấu dưới vỏ bọc nề nếp gia đình.

  4. Địa bàn và đối tượng khảo sát thực địa của luận án được phân bổ như thế nào? Khảo sát thực hiện từ tháng 02 đến tháng 10 năm 2014 trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, gồm 3 cấp: cấp thành phố (Sở Nội vụ, Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội); cấp quận/huyện (8 quận: 3, 9, 10, 11, Gò Vấp, Tân Bình, Tân Phú và 2 huyện: Cần Giờ, Bình Chánh); và cấp phường/xã (mỗi quận/huyện chọn 01 phường/xã). Khách thể là nam và nữ CBCC đã kết hôn và cán bộ phụ trách công tác bình đẳng giới.

  5. Gánh nặng gia đình tác động cụ thể ra sao đến sự thăng tiến của nữ cán bộ, công chức theo kết quả nghiên cứu? Kết quả khảo sát xác nhận nữ CBCC bị hạn chế nhiều trong phát triển nghề nghiệp do phải gánh vác phần lớn công việc nội trợ và chăm sóc con cái. Điều này làm giảm quỹ thời gian học tập, bồi dưỡng chuyên môn, hạn chế khả năng làm việc ngoài giờ và đi công tác xa, đồng thời tạo ra áp lực tâm lý từ định kiến xã hội khi phụ nữ có vị trí công tác hoặc thu nhập cao hơn chồng.

Kết luận

Luận án của Thân Thị Ngọc Phúc đã phân tích thực trạng bình đẳng giới trong gia đình cán bộ, công chức tại Thành phố Hồ Chí Minh trên hai phương diện phân công lao động và quan hệ quyền lực. Nghiên cứu xác nhận sự tồn tại dai dẳng của khuôn mẫu giới truyền thống và chỉ ra những rào cản gia đình trực tiếp ảnh hưởng đến cơ hội phát triển nghề nghiệp của nữ công chức. Công trình đóng góp cơ sở dữ liệu thực nghiệm và hệ thống giải pháp chính sách nhằm thúc đẩy bình đẳng giới thực chất trong khu vực công và đời sống gia đình đô thị.