CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA LÝ THUYẾT ĐẠI DIỆN, QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP VÀ THÀNH VIÊN ĐỘC LẬP HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẠI CHÚNG 1. Tổng quan về hoạt động quản trị doanh nghiệp của công ty cổ phần đại chúng gắn với lý thuyết đại diện 1. Khái quát về quản trị doanh nghiệp và các lý thuyết tác động đến sự phát triển của hoạt động quản trị doanh nghiệp Quản trị doanh nghiệp (“QTDN”) không còn là khái niệm xa vời trong hoạt động kinh doanh trên thế giới. Hoạt động “QTDN” được nghiên cứu và thu hút sự quan tâm không chỉ của các công ty, nhà quản lý, nghiên cứu mà còn cả các nhà lập pháp và hoạch định chính sách.
Khái niệm này không phổ biến ở những năm 19801, thế nhưng từ thế kỷ XX, sự phát triển bùng nổ của hoạt động QTDN không hạn chế trong phạm vi quốc gia, mà còn được tiếp cận trên phạm vi thế giới. QTDN được hiểu là “việc thực thi quyền hành thông qua pháp nhân là công ty để gia tăng giá trị của các bên liên quan”2. OECD phát triển định nghĩa về QTDN như sau: “QTCT là những biện pháp nội bộ để điều hành và kiểm soát công ty (.), liên quan tới mối quan hệ giữa Ban Giám đốc, HĐQT và các cổ đông của một công ty với các bên có quyền lợi liên quan”3. Hiện nay, chưa có khái niệm chính thức, thống nhất về QTDN “do sự khác nhau giữa nguồn gốc các thể chế pháp luật, đặc tính văn hóa, trình độ phát triển của thị trường tài chính tại mỗi quốc gia”4.
Gắn với QTDN, các học giả trong lĩnh vực này có sự nghiên cứu lý thuyết về công ty. Những lý thuyết này được áp dụng không thống nhất trên toàn thế giới mà có 1 Bob Tricker (2009), Corporate Governance—Principles, Policies, and Practices, Oxford University Press, tr. 2 Dr William Judge (Ed.) (1992), Corporate Governance: An International Review, Blackwell Publishing. 3 Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD).
(1999), OECD Principle of Corporate Governance, OECD. 4 Võ Thị Hà Linh (2015), Việc tiếp nhận các nguyên tắc quản trị công ty của OECD trong pháp luật quản trị công ty niêm yết của Việt Nam [Luận văn Thạc sĩ Luật học, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội], https://repository.vn/bitstream/VNU_123/3686/1/00050005215. 8 sự tiếp cận khác nhau dưới góc độ để bảo vệ cổ đông, các nhóm lợi ích có liên quan như người lao động, nhà cung cấp, khách hàng, cộng đồng địa phương5. Đến thời điểm hiện tại, có nhiều lý thuyết tác động đến sự phát triển của hoạt động QTDN, trong đó có thể kể đến như: lý thuyết đại diện (“agency theory”), học thuyết chi phí giao dịch (“transaction cost economics”), lý thuyết các bên liên quan (“stakeholder theory”) hay lý thuyết quản lý (“stewardship theory”).
Để có cái nhìn tổng quan về nguồn gốc của các lý thuyết này, cần hiểu được bản chất của doanh nghiệp (“the nature of the firm”). Coase cho rằng doanh nghiệp là tổng hợp các mối quan hệ “xuất hiện khi dòng chảy của các nguồn lực phụ thuộc vào chủ sở hữu”; “đặc trưng của doanh nghiệp là sự thay thế cơ chế giá cả”, “doanh nghiệp sẽ hình thành khi các hợp đồng ngắn hạn không tối ưu nữa”6. Việc phân công lao động là một trong các lý do giải thích cho sự tồn tại của doanh nghiệp. Coase đã đặt nền tảng lý luận về chi phí giao dịch trong các lĩnh vực khác nhau, trong đó có hoạt động QTDN.
Đồng thời, tác giả này cũng đề cập đến khái niệm doanh nghiệp (“firm”) được phát triển phù hợp trong bối cảnh ở thời điểm đó (năm 1937). Ông tiếp cận doanh nghiệp trong mối quan hệ pháp lý thực tiễn, thường được gọi bằng mối quan hệ giữa “chủ - tớ” (“master - servant”), hay “nhà tuyển dụng – nhân viên” (“employer – employee”). Có thể nhận thấy, khi tìm hiểu bản chất của doanh nghiệp như cách thức Ronald H. Coase thực hiện giúp làm sáng tỏ vai trò của chi phí giao dịch và mối quan hệ giữa người chủ và người đại diện.
Điều này được kế thừa và phát triển bởi các học giả khác nhau trong nghiên cứu các lý thuyết về công ty như lý thuyết chi phí giao dịch và lý thuyết đại diện. Mối quan hệ giữa hai học thuyết này bổ trợ nhau trong việc hiểu rõ bản chất và cơ chế hoạt động trong QTDN. Đối với lý thuyết chi phí giao dịch, Williamson (1975, 1984) xem công ty như một cấu trúc quản trị và cho rằng công ty như là một nhóm các quan hệ hình thành nên các giao kết với nhau vì không thể có một giao kết chung hài hoà hóa các lợi ích của 5 Christine A. Mallin (2007), Corporate Governance (second), Oxford University Press, tr.
6 Ronald Coase (1937), The Nature of the Firm, Economica, 4(16), tr. 9 người chủ với người thừa hành trong ngữ cảnh quản lý doanh nghiệp. Việc lựa chọn một cấu trúc quản trị phù hợp có thể giúp đảm bảo lợi ích của nhà quản lý cũng như các cổ đông. Thêm vào đó, Hart (1995) cũng chỉ ra rằng có nhiều chi phí để thiết lập một bản hợp đồng giữa người thừa hành và người chủ.
Việc giao kết hợp đồng này phát sinh chi phí không chỉ trong quá trình giao kết mà còn cả trước và sau khi thực hiện hợp đồng. Theo Hart: “khi tồn tại những hợp đồng không hoàn hảo giữa [người thừa hành và người chủ], cấu trúc quản trị luôn có chỗ đứng. Cấu trúc quản trị có thể được nhìn nhận như là một cơ chế để đưa ra các quyết định mà chưa được quy định cụ thể trong giao kết ban đầu”. Do đó, lý thuyết về chi phí giao dịch xem xét bản chất công ty là một cấu trúc quản trị, vận hành tốt dựa vào quyết định sáng suốt trong việc lựa chọn cấu trúc quản trị hợp lý, giúp hài hòa các lợi ích của cả người thừa hành và người chủ.
Đối với lý thuyết đại diện định nghĩa mối quan hệ một bên là chủ sở hữu (“the principal”) và người đại diện (“the agent”). Lý thuyết đại diện được xem là nền tảng của luật công ty. Lý thuyết này được khởi nguồn từ việc tối đa hóa lợi ích và giảm thiểu chi phí cho các các chủ sở hữu. Với mục đích này, lý thuyết đại diện được nhiều học giả quan tâm nghiên cứu, trong đó có thể kể đến là Stephen Ross và Barry Mitnick.
Mitnick có sự vận dụng mô hình hệ thống đãi ngộ (“incentive system model”) của Clark và Wilson (1961) từ đó sửa đổi mô hình này có tính hệ thống hơn để áp dụng trong các quan hệ đại diện7. Đại diện “là quan hệ ủy thác (“fiduciary relation”) bắt nguồn từ sự tồn tại việc đồng ý của một người đối với một bên khác mà người đó phải hành động trên danh nghĩa, chịu sự kiểm soát và chấp thuận của bên kia để thực hiện công việc”8. Theo khái niệm về đại diện này, quan hệ giữa cổ đông với HĐQT xác lập quan hệ đại diện9. Cổ đông chính là chủ sở hữu công ty còn HĐQT chính là người đại 7 Barry M.
(2013), Origin of the Theory of Agency: An Account by One of the Theory’s Originators. SSRN Electronic Journal, tr. 8 Melvin Aron Eisenberg (Ed. (1998), Corporate Governance: Monitoring the Board of Directors in American Corporations, American Journal of Comparative Law Supplement, 46.
Lý do của việc tồn tại HĐQT (“board of directors”) theo quy định pháp luật công ty ở các quốc gia có thể được giải thích bởi có “sự tách biệt quyền sở hữu với quyền quản lý”10 bởi số lượng cổ đông tại doanh nghiệp, đặc biệt các CTĐC rất lớn, việc thành lập tổ chức để nhân danh các cổ đông thực hiện hoạt động quản trị là điều cần thiết với mục đích giảm thiểu chi phí đại diện. Do đó, các cổ đông cần tìm ra người phù hợp tiêu chuẩn để bầu và nắm giữ vị trí có ý nghĩa chiến lược để hoạch định đường lối, chính sách của doanh nghiệp và tác động lớn đến quyền lợi của chính cổ đông. Nhìn ở khía cạnh khác, trong quan hệ đại diện này, chính HĐQT cũng hưởng lợi từ hành vi đại diện, cụ thể khi các quyết định, kế hoạch kinh doanh, hành động của HĐQT vì lợi ích công ty, mang lại lợi nhuận lớn cho công ty thì chính HĐQT cũng sẽ được hưởng lợi từ việc này và nhận lại sự tín nhiệm của cổ đông đối với HĐQT (cả lợi ích vật chất và tinh thần). Do vậy, khi xây dựng mô-tuýp tách biệt quyền sở hữu và quyền quản lý, pháp luật công ty đã có ý tưởng cho việc tối đa hóa lợi ích mang lại cho công ty và giảm thiểu chi phí đại diện.
Theo quan điểm của Stiles và và Taylor (2001): “cả hai lý thuyết (lý thuyết chi phí giao dịch và lý thuyết đại diện) đều quan tâm đến hành vi quản lý tùy nghi và cả hai lý thuyết này đều giả định rằng nhà quản lý là những người có thể phát sinh chủ nghĩa cơ hội, có thể phát sinh các vấn đề về đạo đức và các nhà quản lý hoạt động theo tính hợp lý có giới hạn (“bounded rationality”) …[và] cả hai lý thuyết này liên hệ đến HĐQT như là một công cụ để kiểm soát quyền lực” vì nhà quản lý có khuynh hướng tối đa hóa lợi ích cá nhân hơn là gia tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp (điều này dĩ nhiên không là lợi ích tốt nhất cho các cổ đông – người chủ sở hữu). Ngoài các lý thuyết trên về công ty, lý thuyết quản lý (“stewardship theory”) còn giải thích sự tác động của thành viên HĐQT - được xem là người quản lý các tài sản của công ty và có khuynh hướng xử sự nhằm tối đa hóa lợi ích của các cổ đông11. (2007), Corporate Governance (second), Oxford University Press, tr. 11 Thêm vào đó, lợi ích của cổ đông cũng chính là lợi ích mà các nhà quản lý kỳ vọng.
Đó là lý do vì sao họ không nhất thiết phải thực hiện các hành động cho mục tiêu cá nhân12. Lý thuyết quản lý hàm ý việc quản lý, điều hành đạt sự tối ưu khi HĐQT được trao quyền để thực hiện các công việc mà không cần sự giám sát từ các cổ đông (hay còn gọi là quyền lực quản lý tự trị). Có thể thấy sự đối lập về nội hàm giữa lý thuyết quản lý với lý thuyết đại diện (và lý thuyết chi phí giao dịch) về vai trò của HĐQT trong công ty. Mâu thuẫn giữa cổ đông và Hội đồng quản trị theo lý thuyết đại diện Lý thuyết đại diện được xem là nền tảng của luật công ty.
Khi nghiên cứu lý thuyết đại diện được áp dụng vào QTDN, cần nhắc đến Mỹ13, bởi lẽ đây là nơi tập trung các CTĐC lớn, đồng thời là nơi khởi nguồn của các học thuyết về công ty.