Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam đã tích cực tham gia Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và từng bước ký kết nhiều hiệp định thương mại tự do (FTA). Tính đến thời điểm nghiên cứu (năm 2021), Việt Nam đã tham gia 13 hiệp định thương mại song phương và đa phương đã có hiệu lực, bao gồm: AFTA/ATIGA, ACFTA, AKFTA, AJCEP, VJEPA, AIFTA, AANZFTA, VCFTA, VKFTA, VN-EAEU FTA, CPTPP, AHKFTA và EVFTA; đồng thời có 02 hiệp định chưa phê chuẩn chuẩn bị có hiệu lực (RCEP, UKVFTA) và 02 hiệp định đang trong quá trình đàm phán (Việt Nam - EFTA, Việt Nam - Israel). Việc tham gia mạng lưới FTA sâu rộng mở ra cơ hội tiếp cận thị trường ưu đãi thuế quan rất lớn cho hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam.

Tuy nhiên, để hàng hóa được hưởng thuế suất ưu đãi theo cam kết trong các FTA hoặc các chương trình ưu đãi đơn phương như Chế độ ưu đãi phổ cập (GSP), doanh nghiệp bắt buộc phải đáp ứng các quy định về Quy tắc xuất xứ (Rules of Origin - QTXX). Quy tắc xuất xứ giữ vai trò xác lập "quốc tịch kinh tế" (economic nationality) của hàng hóa, bảo đảm các nhượng bộ thuế quan chỉ dành riêng cho các quốc gia thành viên tham gia hiệp định, ngăn chặn hiện tượng lẩn tránh thuế hoặc chuyển tải bất hợp pháp từ các nước thứ ba.

Mặc dù hệ thống FTA của Việt Nam ngày càng mở rộng với mức độ cam kết sâu sắc hơn, thực tiễn áp dụng cho thấy tỷ lệ tận dụng các ưu đãi thuế quan thông qua việc xin cấp Giấy chứng nhận xuất xứ (C/O) ưu đãi của doanh nghiệp Việt Nam nhìn chung vẫn còn thấp. Đa số các hiệp định có tỷ lệ tận dụng dưới 40%. Cụ thể trong năm 2019, tỷ lệ tận dụng đối với C/O mẫu S (Việt Nam - Lào), C/O mẫu X (Việt Nam - Campuchia) và C/O mẫu CPTPP đều dưới mức 10%; trong khi các mẫu C/O quan trọng khác như C/O mẫu D (ATIGA), mẫu E (ACFTA), mẫu AK (AKFTA), mẫu VK (VKFTA), mẫu AJ (AJCEP), mẫu VJ (VJEPA), mẫu EAV (VN-EAEU) đều ghi nhận tỷ lệ dưới 40%. Thực trạng này đặt ra yêu cầu phải làm rõ nguyên nhân cản trở doanh nghiệp tận dụng các cam kết xuất xứ, từ đó đề xuất các định hướng chính sách phù hợp.

Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể qua ba nội dung:

  1. Tìm hiểu pháp luật xuất xứ hàng hóa cũng như tỷ lệ sử dụng FTA; vai trò, sự ảnh hưởng của quy định xuất xứ trong công cuộc tự do hoá thương mại.
  2. Phân tích, tổng hợp, so sánh các số liệu thực tế để đưa ra nhận định về các FTA có tỷ lệ sử dụng cao và các FTA có tỷ lệ sử dụng thấp, cùng lý do dẫn đến thực tế này.
  3. Đưa các cơ sở pháp lý của các lý luận đã nghiên cứu vào thực tiễn nhằm đưa ra nhận định về tính hiệu quả của việc áp dụng pháp luật xuất xứ hàng hóa tại Việt Nam.

Đối tượng nghiên cứu của đề tài bao gồm: tổng quan về pháp luật xuất xứ hàng hóa xuất nhập khẩu và các quy định pháp luật thực định; thực tiễn tỷ lệ tận dụng các FTA dựa trên dữ liệu thống kê của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI); việc thực thi các quy định về xuất xứ hàng hóa tại Việt Nam cùng các khó khăn, vướng mắc mà cộng đồng doanh nghiệp gặp phải khi thực thi các cam kết hiệp định.

Phạm vi nghiên cứu được giới hạn đối với hàng hóa xuất nhập khẩu có thể phân loại theo Hệ thống hài hòa mô tả và mã hóa hàng hóa (HS) do Tổ chức Hải quan Thế giới (WCO) ban hành. Về mặt pháp lý, đề tài tập trung vào các quy định tiêu biểu trong khuôn khổ pháp luật quốc gia và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Về mặt thời gian, đề tài khảo cứu các chuỗi số liệu thống kê giai đoạn 2005 - 2020, trong đó tập trung đánh giá sâu giai đoạn 2010 - 2019 đối với số liệu nhập khẩu nguyên liệu và giai đoạn 2019 - 2020 đối với tỷ lệ tận dụng C/O ưu đãi.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận được xây dựng dựa trên sự kết hợp giữa hệ thống văn bản quy phạm pháp luật thực định (quốc tế và quốc gia) cùng các mô hình lý thuyết định lượng về tỷ lệ tận dụng ưu đãi thương mại:

Về cơ sở pháp lý quốc tế và nội địa, tác giả căn cứ vào:

  • Hiệp định về Quy tắc xuất xứ của Tổ chức Thương mại Thế giới (Hiệp định 214/WTO/VB); các điều khoản liên quan trong GATT 1994 (Điều I, II, III, VI, IX, XI, XIII, XIX); Công ước Kyoto sửa đổi (Phụ lục K).
  • Luật Thương mại năm 2005 (khoản 14 Điều 3 về khái niệm xuất xứ hàng hóa); Nghị định số 31/2018/NĐ-CP ngày 08/03/2018 của Chính phủ quy định chi tiết Luật Quản lý ngoại thương về xuất xứ hàng hóa (các Điều 3, 6, 7, 8, 15); các Thông tư của Bộ Công Thương ban hành quy chế cấp các mẫu C/O ưu đãi và không ưu đãi (Thông tư 05/2018/TT-BCT, Thông tư 19/2020/TT-BCT, Thông tư 12/2019/TT-BCT, Thông tư 21/2016/TT-BCT, Thông tư 20/2014/TT-BCT, Thông tư 40/2015/TT-BCT, Thông tư 10/2009/TT-BCT, Thông tư 15/2010/TT-BCT, Thông tư 05/2015/TT-BCT, Thông tư 04/2010/TT-BCT, Thông tư 17/2011/TT-BCT, Thông tư 31/2015/TT-BCT, Quyết định 44/2008/QĐ-BCT).
  • Các chương quy định về quy tắc xuất xứ trong các FTA thế hệ mới và song phương: Chương 3, Chương 4 và Phụ lục 3-D Hiệp định CPTPP; Nghị định thư 1 Hiệp định EVFTA; Chương 4 Hiệp định VCFTA; Chương 3 Hiệp định RCEP.

Về khung lý thuyết đo lường tỷ lệ tận dụng, nghiên cứu viện dẫn công thức chuẩn của WTO: $$u(k, x) = \frac{pref(k, x)}{elig(k, x)}$$ Trong đó $pref(k, x)$ là giá trị hàng hóa thực tế nhận ưu đãi, $elig(k, x)$ là tổng giá trị hàng hóa đủ điều kiện nhận ưu đãi của mặt hàng $k$ xuất khẩu từ quốc gia $x$.

Đồng thời, khóa luận vận dụng mô hình kinh tế lượng của Kazunobu Hayakawa, Hansung Kim và Hyun-hoon Lee (2013) nhằm giải thích các yếu tố tác động đến tỷ lệ tận dụng FTA: $$\text{Utilization}{ipt} = \beta_1 \text{Tariff Margin}{ipt} + \beta_2 \ln \text{Average Trade}{ipt} + \beta_3 \text{Restrictiveness Index}{ip} + u_i + u_t + u_s + \varepsilon_{ipt}$$ Mô hình chỉ ra 03 nhóm yếu tố quyết định: Lợi nhuận ưu đãi (Tariff Margin - mức chênh lệch giữa thuế MFN và thuế FTA), Quy mô thương mại bình quân (Average Trade) và Chỉ số hạn chế của quy tắc xuất xứ (Restrictiveness Index - đo lường theo thang điểm từ 1 đến 7 xây dựng từ phân tích QTXX của NAFTA).

Phương pháp nghiên cứu thực tế được tác giả sử dụng là phương pháp nghiên cứu tài liệu (desk research), phân tích - tổng hợp quy phạm pháp luật, phương pháp so sánh luật học (so sánh luật nội địa và các cam kết quốc tế, so sánh cơ chế C/O truyền thống với cơ chế tự chứng nhận xuất xứ của NAFTA, PAN-EURO-MED), phương pháp đối chiếu và thống kê mô tả số liệu.

Nguồn dữ liệu của nghiên cứu được trích xuất từ:

  • Thống kê tỷ lệ cấp C/O của Ban Pháp chế - Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI).
  • Dữ liệu kim ngạch xuất nhập khẩu của Hệ thống cơ sở dữ liệu ngành Công Thương (thongke.vn) và Tổng cục Hải quan.
  • Báo cáo và tài liệu nghiên cứu chuyên đề của WCO, WTO, Trung tâm WTO và Hội nhập, Viện Nghiên cứu Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp Nhật Bản (RIETI - nghiên cứu của Takahashi Katsuhide và Shujiro Urata năm 2009).

Nội dung chính theo từng chương

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ XUẤT XỨ HÀNG HOÁ VÀ TỶ LỆ TẬN DỤNG FTA

Chương 1 hệ thống hóa các vấn đề lý luận căn bản về xuất xứ hàng hóa, cơ chế chứng minh xuất xứ và phương pháp đo lường việc thực thi cam kết FTA:

  • Khái niệm và phân loại xuất xứ hàng hóa: Đối chiếu giữa quy định tại điểm b khoản 1 Điều 9 Hiệp định về Quy tắc xuất xứ của WTO, khoản 14 Điều 3 Luật Thương mại 2005 và Điều 6, 7, 8 Nghị định 31/2018/NĐ-CP. Tác giả nhận định định nghĩa trong luật thực định Việt Nam chưa làm nổi bật đầy đủ đặc trưng kinh tế của xuất xứ, bởi xuất xứ đòi hỏi phải đáp ứng các tiêu chí kỹ thuật cụ thể trong từng hiệp định chứ không đơn thuần là nơi sản xuất hay công đoạn cuối cùng. Hàng hóa được phân chia thành hai nhóm: hàng hóa có xuất xứ thuần túy (Wholly Obtained - WO) bao gồm 10 trường hợp sản phẩm tự nhiên, khoáng sản, nông lâm thủy sản thu được trọn vẹn tại lãnh thổ; và hàng hóa có xuất xứ không thuần túy (Non-WO) phải đáp ứng quy tắc cụ thể mặt hàng (PSR).
  • Vai trò của việc xác định xuất xứ: Đối với thương nhân, đây là căn cứ pháp lý để hưởng thuế suất ưu đãi theo FTA hoặc GSP, tạo dựng uy tín chất lượng hàng hóa gắn liền với thương hiệu quốc gia và là chứng từ thanh toán trọng yếu trong phương thức tín dụng chứng từ (L/C). Đối với cơ quan quản lý nhà nước, xuất xứ là công cụ thống kê ngoại thương, thực hiện các biện pháp phòng vệ thương mại (chống bán phá giá, chống trợ cấp, tự vệ), chống chuyển tải bất hợp pháp và ấn định mức thuế suất nhập khẩu chính xác.
  • Hệ thống quy tắc và cơ chế chứng minh: Làm rõ sự khác biệt giữa QTXX ưu đãi (trong các FTA song phương, đa phương) và QTXX không ưu đãi (áp dụng cho MFN, hạn ngạch, mua sắm chính phủ); hệ thống 06 quy tắc tổng quát và các tiêu chí chuyển đổi cơ bản (chuyển đổi mã số hàng hóa - CTC, hàm lượng giá trị khu vực - RVC, công đoạn gia công chế biến - SP). Khảo sát 13 mẫu C/O ưu đãi và không ưu đãi phổ biến tại Việt Nam (mẫu A, B, D, E, EAV, AK, VK, AJ, VJ, AI, VC, S, X, AANZ). So sánh cơ chế cấp C/O truyền thống qua cơ quan có thẩm quyền (Bộ Công Thương, VCCI) với cơ chế Tự chứng nhận xuất xứ (gồm 4 hệ thống: nhà xuất khẩu được chấp thuận, nhà xuất khẩu đăng ký REX, hệ thống dựa hoàn toàn trên nhà xuất khẩu và hệ thống dựa trên nhà nhập khẩu). Chỉ ra ưu thế giảm chi phí giao dịch nhưng cũng nêu lên các nguy cơ gian lận và sự thiếu vắng chế tài tương thích trong hệ thống pháp luật Việt Nam.
  • Lý thuyết tỷ lệ tận dụng: Phân tích cơ chế tác động của ba yếu tố (biên độ ưu đãi thuế, độ hạn chế của QTXX và quy mô lô hàng). Dẫn chứng trường hợp xuất khẩu xe đạp của Campuchia sang EU, Canada và Thụy Sĩ năm 2017: độ hạn chế QTXX cao của EU khiến tỷ lệ không tận dụng ưu đãi lên tới 16%, trong khi tại Canada chỉ là 2%.

CHƯƠNG 2: TỶ LỆ TẬN DỤNG QUY ĐỊNH VỀ XUẤT XỨ HÀNG HOÁ TRONG CÁC HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO MÀ VIỆT NAM LÀ THÀNH VIÊN

Chương 2 tập trung phân tích thực trạng thực thi quy tắc xuất xứ qua các số liệu thống kê cụ thể:

  • Thực trạng phân hóa tỷ lệ tận dụng FTA: Dữ liệu thống kê cho thấy đa số FTA có tỷ lệ sử dụng dưới 50%. Tỷ lệ sử dụng C/O mẫu S (Lào) và mẫu X (Campuchia) đạt mức rất thấp (khoảng 11% vào năm 2020) do các doanh nghiệp có xu hướng chuyển sang sử dụng C/O mẫu D của ATIGA (vốn tăng trưởng từ 6.1% năm 2005 lên 38% năm 2020).
  • Thực trạng tại CPTPP: Tỷ lệ tận dụng ưu đãi CPTPP ghi nhận ở mức rất thấp, chỉ đạt 1.67% vào năm 2019 và xấp xỉ 4% vào năm 2020. Tác giả chỉ ra nguyên nhân từ các yêu cầu xuất xứ khắt khe tại Chương 3 và Chương 4:
    • Yêu cầu xuất xứ nội khối chặt chẽ với 03 trường hợp (WO, sản xuất hoàn toàn từ nguyên liệu nội khối, hoặc đáp ứng quy tắc cụ thể mặt hàng tại Phụ lục 3-D).
    • Quy tắc CTC đòi hỏi chuyển đổi sâu và tỷ lệ De Minimis nguyên phụ liệu ngoài khối khống chế nghiêm ngặt không quá 10% trị giá hàng hóa.
    • Các công thức tính RVC phức tạp bao gồm 03 phương pháp tính chung (Phương pháp tính giá trị tập trung dựa trên FVNM, Phương pháp gián tiếp Build-down, Phương pháp trực tiếp Build-up) và phương pháp tính theo chi phí tịnh (Net Cost - NC) áp dụng riêng cho ngành ô tô và phụ tùng ô tô.
    • Riêng mặt hàng dệt may (Điều 4.2 Chương 4), quy tắc "từ sợi trở đi" (yarn-forward) và ngưỡng De Minimis 10% theo trọng lượng trở thành rào cản kỹ thuật vượt quá năng lực đáp ứng của doanh nghiệp trong nước khi Việt Nam phải nhập khẩu trên 60% nguyên phụ liệu dệt may từ các quốc gia ngoài khối CPTPP.
  • Các FTA có tỷ lệ tận dụng cao: Nổi bật là VCFTA (Việt Nam - Chile) và AIFTA (ASEAN - Ấn Độ). Năm 2020, tỷ lệ tận dụng của hai hiệp định này đạt tới 65.5%. Dù kim ngạch xuất khẩu không lớn (năm 2020, xuất khẩu sang Chile đạt 1.018 tỷ USD, sang Ấn Độ đạt 5.235 tỷ USD, thấp hơn nhiều so với kim ngạch sang Trung Quốc theo ACFTA là 48.905 tỷ USD), nhưng hiệu quả khai thác C/O ưu đãi lại vượt trội. Lý do là tiêu chí xuất xứ trong VCFTA (Điều 4.2, 4.3, 4.5 Chương 4) rất thông thoáng: chỉ áp dụng công thức RVC duy nhất dựa trên giá FOB/CIF với ngưỡng từ 40% trở lên hoặc tiêu chí chuyển đổi mã số hàng hóa CTC ở cấp 4 số (CTH).
  • Dự báo rào cản tại EVFTA qua cơ cấu nguồn nguyên liệu: Phân tích chuỗi số liệu nhập khẩu giai đoạn 2010 - 2019 cho thấy sự bất đối xứng nghiêm trọng trong nguồn cung ứng đầu vào của Việt Nam:
Năm Nhập khẩu từ Trung Quốc (USD) Nhập khẩu từ ASEAN (USD) Nhập khẩu từ EU (USD)
2010 Khoảng 20.000.000.000 Hơn 15.000.000.000 Hơn 9.000.000.000
2019 Hơn 75.000.000.000 Hơn 32.000.000.000 Dưới 18.000.000.000

Do nhập khẩu nguyên liệu chủ yếu từ Trung Quốc và ASEAN, hàng hóa xuất khẩu sang EU gặp trở ngại rất lớn khi đối chiếu với tiêu chí RVC của EVFTA (yêu cầu 40% giá FOB hoặc 70% giá xuất xưởng). Tác giả nhận định doanh nghiệp bắt buộc phải khai thác cơ chế "Quy tắc cộng gộp" theo khoản 7-10 Điều 3 Nghị định thư 1 EVFTA (ví dụ: cộng gộp vải có xuất xứ từ Hàn Quốc khi may mặc tại Việt Nam để xuất sang EU).

  • Phân tích nguyên nhân tỷ lệ tận dụng thấp: (1) Quy tắc xuất xứ hạn chế (xếp từ 1 đến 7 trên thang đo Hayakawa); (2) Quy mô giao dịch xuất khẩu còn nhỏ lẻ; (3) Doanh nghiệp thiếu hiểu biết kỹ thuật về FTA; (4) Chi phí và thủ tục hành chính cấp C/O phức tạp. Viện dẫn nghiên cứu của Takahashi & Urata (2009) chứng minh quy mô doanh nghiệp (lao động, vốn, doanh thu) quyết định khả năng sử dụng FTA, khiến các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs) bị bất lợi lớn trước chi phí tuân thủ.

CHƯƠNG 3: KHUYẾN NGHỊ CẢI THIỆN TỶ LỆ TẬN DỤNG QUY TẮC XUẤT XỨ TRONG FTA

Chương 3 đề xuất hệ thống giải pháp phân kỳ nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp:

  • Khuyến nghị dài hạn:
    • Giảm chi phí áp dụng FTA thông qua đơn giản hóa quy trình xin cấp C/O gồm 06 bước của người xuất khẩu (Bước 1: xem xét hàng hóa; Bước 2: xem xét thị trường và mẫu C/O; Bước 3: kiểm tra điều kiện vận tải trực tiếp/chuyển tải; Bước 4: đối chiếu tiêu chuẩn nguyên liệu; Bước 5: xác định cơ quan có thẩm quyền; Bước 6: lập và nộp bộ hồ sơ chứng từ). Cắt giảm sự phức tạp của bộ hồ sơ cấp C/O theo Điều 15 Nghị định 31/2018/NĐ-CP (vốn yêu cầu trên 07 loại văn bản: đơn đề nghị, mẫu C/O, tờ khai hải quan xuất khẩu, hóa đơn thương mại, vận tải đơn, bảng kê khai chi tiết xuất xứ, bản khai báo xuất xứ của nhà sản xuất nguyên liệu nội địa, quy trình sản xuất, cùng hồ sơ thương nhân). Tác giả dẫn chứng nghiên cứu quốc tế của Francois et al. (2006), Hayakawa (2011), Cadot & de Melo (2007) cho thấy chi phí tuân thủ thủ tục C/O tạo ra một khoản chi phí cố định tương đương 3% đến 5% giá trị hàng hóa.
    • Thiết lập chính sách hỗ trợ trọng tâm cho doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs) về nguồn lực nhân sự, kinh phí và nghiệp vụ chứng minh xuất xứ.
    • Hoàn thiện cơ chế pháp lý phòng chống gian lận xuất xứ và chuyển tải bất hợp pháp; bổ sung các chế tài xử phạt nghiêm khắc vào Luật Thương mại, Luật Hải quan, Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu; tăng cường kiểm tra, xác minh xuất xứ sau thông quan đối với hình thức tự chứng nhận xuất xứ.
  • Khuyến nghị ngắn hạn:
    • Hoàn thiện hệ thống thống kê số liệu chuyên biệt về tỷ lệ tận dụng ưu đãi C/O chi tiết theo từng dòng thuế, mã HS và thị trường; đẩy mạnh công tác nghiên cứu chuyên sâu về rào cản xuất xứ.
    • Đẩy mạnh tập huấn, tuyên truyền nâng cao năng lực cho cộng đồng doanh nghiệp trong việc hiểu và vận dụng các cam kết xuất xứ kỹ thuật cao tại các FTA thế hệ mới như CPTPP và EVFTA.

Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu đạt được các kết quả cụ thể gắn liền với số liệu thực chứng và có đóng góp rõ nét cho việc nghiên cứu pháp luật xuất xứ hàng hóa:

Thứ nhất, khóa luận cung cấp bức tranh số liệu định lượng toàn diện về sự phân hóa tỷ lệ sử dụng C/O ưu đãi giữa các hiệp định thương mại của Việt Nam:

Hiệp định thương mại Mẫu C/O Tỷ lệ tận dụng (Năm 2019 - 2020) Đặc điểm quy tắc xuất xứ chính
VCFTA (Việt Nam - Chile) Mẫu VC 65.5% (năm 2020) Đơn giản: WO, hoặc RVC $\ge$ 40% (FOB/CIF), hoặc CTC cấp 4 số (CTH).
AIFTA (ASEAN - Ấn Độ) Mẫu AI 65.5% (năm 2020) Quy tắc xuất xứ linh hoạt, tiêu chí kỹ thuật dễ đáp ứng.
ATIGA (ASEAN) Mẫu D 38.0% (năm 2020) Tăng trưởng đều đặn từ 6.1% (2005) lên 38% (2020).
Việt Nam - Lào Mẫu S 11.0% (năm 2020) Rất thấp; doanh nghiệp chuyển hướng sử dụng mẫu D thay thế.
Việt Nam - Campuchia Mẫu X 11.0% (năm 2020) Rất thấp; chịu sự thay thế bởi mẫu D trong khối ASEAN.
CPTPP Mẫu CPTPP 1.67% (2019) / ~4% (2020) Rất nghiêm ngặt: dệt may "từ sợi trở đi", 4 phương pháp RVC, De Minimis $\le$ 10%.

Thứ hai, tác giả phân tích và chỉ rõ "điểm nghẽn" cấu trúc chuỗi cung ứng dẫn đến việc tỷ lệ tận dụng các FTA thế hệ mới đạt thấp. Minh chứng qua số liệu thống kê kim ngạch nguyên liệu nhập khẩu: năm 2019, Việt Nam nhập khẩu hơn 75 tỷ USD từ Trung Quốc và hơn 32 tỷ USD từ ASEAN, trong khi nhập khẩu từ EU chỉ dưới 18 tỷ USD. Tình trạng này lý giải vì sao hàng xuất khẩu Việt Nam khó thỏa mãn tiêu chí xuất xứ nội khối của EVFTA và CPTPP, đồng thời khẳng định việc khai thác quy tắc cộng gộp (như dệt may từ vải Hàn Quốc) là giải pháp pháp lý mang tính sống còn.

Thứ ba, nghiên cứu hệ thống hóa chi tiết các phương pháp tính RVC kỹ thuật cao trong CPTPP (Phương pháp giá trị tập trung, Gián tiếp, Trực tiếp, Chi phí tịnh cho ô tô) và EVFTA, phân biệt rõ nét với công thức RVC truyền thống của VCFTA.

Thứ tư, về mặt đóng góp học thuật, khóa luận chỉ rõ khoảng trống pháp lý của Việt Nam khi Luật Thương mại 2005 chưa định nghĩa đầy đủ bản chất kỹ thuật của xuất xứ hàng hóa; chỉ ra chi phí tuân thủ thủ tục hành chính xin cấp C/O (với hơn 7 loại hồ sơ theo Nghị định 31/2018/NĐ-CP) tương đương gánh nặng thuế quan từ 3% đến 5% giá trị lô hàng; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp cải cách thủ tục hành chính, hoàn thiện chế tài ngăn ngừa gian lận C/O và kiến nghị cơ chế thống kê chuyên sâu.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận thẳng thắn ghi nhận một số giới hạn nghiên cứu:

  • Phạm vi nghiên cứu chủ yếu tập trung vào các mặt hàng phân loại theo danh mục mã HS của WCO; không thể bao quát toàn bộ lịch sử lập pháp và thực tiễn áp dụng quy tắc xuất xứ của tất cả các quốc gia trên thế giới.
  • Dữ liệu thống kê về tỷ lệ tận dụng thực tế của một số FTA thế hệ mới quan trọng, điển hình là EVFTA, chưa được thể hiện đầy đủ trong các báo cáo chính thức của VCCI tại thời điểm khóa luận hoàn thành (tháng 05/2021). Các đánh giá về EVFTA chủ yếu dựa trên phân tích cấu trúc quy phạm và dự báo từ số liệu nhập khẩu nguyên liệu giai đoạn 2010 - 2019.

Hướng mở nghiên cứu tiếp theo được gợi mở từ phạm vi đề tài:

  • Mở rộng nghiên cứu thực chứng tỷ lệ tận dụng khi các FTA thế hệ mới như EVFTA, RCEP và UKVFTA đi vào thực thi ổn định và có đầy đủ dữ liệu thống kê hải quan chi tiết.
  • Đi sâu khảo sát định lượng vi mô tác động của quy tắc xuất xứ đối với từng nhóm ngành hàng xuất khẩu chủ lực cụ thể (như dệt may, da giày, thủy sản, linh kiện điện tử).
  • Đánh giá thực tiễn vận hành và các rủi ro pháp lý phát sinh từ cơ chế tự chứng nhận xuất xứ (như hệ thống REX hoặc tự chứng nhận của nhà xuất khẩu đủ điều kiện) tại Việt Nam sau khi các quy định hướng dẫn được ban hành đồng bộ.

Giá trị tham khảo

Nội dung khóa luận mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho các nhóm đối tượng:

  • Sinh viên, học viên và nhà nghiên cứu: Là tài liệu hữu ích cho sinh viên chuyên ngành Luật Kinh tế, Luật Thương mại Quốc tế, Kinh tế Đối ngoại, Thương mại Quốc tế và Logistics. Phần đáng tham khảo nhất là Chương 1 và Chương 2, nơi tác giả hệ thống hóa các khái niệm, cơ chế tự chứng nhận xuất xứ, và đặc biệt là bảng so sánh các công thức tính RVC (giá trị tập trung, gián tiếp, trực tiếp, chi phí tịnh) cùng quy tắc chuyển đổi mã số hàng hóa (CTC, De Minimis).
  • Doanh nghiệp xuất nhập khẩu và cán bộ pháp chế: Doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực ngoại thương có thể tham khảo quy trình 6 bước rà soát xuất xứ hàng hóa và danh mục các loại chứng từ hồ sơ cần chuẩn bị theo Điều 15 Nghị định 31/2018/NĐ-CP tại Chương 3; đồng thời nắm bắt được các lưu ý kỹ thuật khi xử lý nguyên phụ liệu dệt may nhập khẩu và việc vận dụng quy tắc cộng gộp trong EVFTA.
  • Cơ quan quản lý và hoạch định chính sách: Cung cấp cơ sở thực tiễn và các luận cứ khoa học để Bộ Công Thương, Tổng cục Hải quan rà soát, cắt giảm thủ tục hành chính trong quy trình cấp C/O, xây dựng hệ thống dữ liệu thống kê chuyên sâu về tỷ lệ tận dụng FTA và hoàn thiện khung pháp lý về quản lý rủi ro gian lận xuất xứ.

Câu hỏi thường gặp

1. Tại sao tỷ lệ tận dụng ưu đãi theo hiệp định CPTPP của Việt Nam trong các năm 2019 - 2020 chỉ đạt dưới 5%? Tỷ lệ tận dụng CPTPP của Việt Nam rất thấp (1.67% năm 2019 và khoảng 4% năm 2020) xuất phát từ các quy tắc xuất xứ nội khối rất khắt khe. Điển hình đối với ngành dệt may, CPTPP áp dụng quy tắc "từ sợi trở đi" (yêu cầu từ kéo sợi, dệt nhuộm đến may mặc phải thực hiện trong nội khối) và ngưỡng De Minimis chỉ cho phép tối đa 10% trọng lượng nguyên liệu ngoài khối. Trong khi đó, doanh nghiệp may mặc Việt Nam phải nhập khẩu hơn 60% nguyên phụ liệu từ các nước ngoài CPTPP (như Trung Quốc, Hàn Quốc), dẫn đến việc đa số sản phẩm không thỏa mãn tiêu chí xuất xứ để được cấp C/O ưu đãi.

2. Quy tắc xuất xứ của Hiệp định VCFTA có đặc điểm gì giúp tỷ lệ sử dụng C/O đạt mức cao (65.5%)? Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - Chile (VCFTA) đạt tỷ lệ tận dụng rất cao nhờ quy định xuất xứ tại Chương 4 rất đơn giản và linh hoạt. Đối với hàng hóa không có xuất xứ thuần túy, hiệp định chỉ áp dụng một công thức RVC duy nhất tính theo giá FOB/CIF với điều kiện hàm lượng giá trị khu vực từ 40% trở lên, hoặc hàng hóa chỉ cần trải qua quá trình chuyển đổi mã số HS ở cấp 4 số (CTH). Thủ tục và cách tính toán không bị phân nhánh phức tạp như các FTA thế hệ mới, giúp doanh nghiệp dễ dàng đáp ứng và xin cấp C/O mẫu VC.

3. Cơ cấu nhập khẩu nguyên liệu giai đoạn 2010 - 2019 tạo ra thách thức gì cho doanh nghiệp khi thực thi EVFTA? Thống kê từ năm 2010 đến 2019 cho thấy kim ngạch nhập khẩu nguyên liệu chủ yếu của Việt Nam từ Trung Quốc tăng mạnh từ 20 tỷ USD lên hơn 75 tỷ USD, từ ASEAN tăng từ 15 tỷ USD lên hơn 32 tỷ USD; trong khi nhập khẩu từ EU chỉ đạt dưới 18 tỷ USD. EVFTA yêu cầu tỷ lệ RVC nội khối là 40% giá FOB hoặc 70% giá xuất xưởng. Việc phụ thuộc nguồn nguyên liệu khổng lồ ngoài khối khiến hàng hóa Việt Nam khó đáp ứng tỷ lệ nội khối của EVFTA, buộc doanh nghiệp phải chuyển đổi chuỗi cung ứng hoặc dựa vào quy tắc cộng gộp nguyên liệu (như vải nhập khẩu từ Hàn Quốc).

4. Người xuất khẩu tại Việt Nam phải thực hiện những bước nào và chuẩn bị hồ sơ gì để xin cấp C/O? Doanh nghiệp phải thực hiện quy trình 6 bước: (1) Kiểm tra hàng hóa và phân loại mã HS; (2) Xem xét thị trường và mẫu C/O yêu cầu; (3) Kiểm tra điều kiện vận tải trực tiếp/chuyển tải; (4) Đối chiếu tiêu chuẩn nguyên liệu sản xuất; (5) Xác định cơ quan cấp có thẩm quyền; (6) Lập hồ sơ C/O. Hồ sơ theo Điều 15 Nghị định 31/2018/NĐ-CP gồm hơn 7 loại chứng từ: đơn đề nghị cấp C/O, mẫu C/O đã khai, tờ khai hải quan xuất khẩu, hóa đơn thương mại, vận đơn, bảng kê khai chi tiết xuất xứ, bản khai báo xuất xứ của nhà sản xuất nguyên liệu trong nước và bản sao quy trình sản xuất.

5. Cơ chế Tự chứng nhận xuất xứ có những hình thức phổ biến nào và đặt ra rủi ro gì? Cơ chế tự chứng nhận xuất xứ gồm 04 hệ thống: (1) Nhà xuất khẩu được chấp thuận; (2) Nhà xuất khẩu đã đăng ký (REX); (3) Hệ thống dựa hoàn toàn trên nhà xuất khẩu; (4) Hệ thống dựa trên nhà nhập khẩu. Dù giúp giảm thời gian và chi phí giao dịch, cơ chế này đặt ra rủi ro lớn về gian lận thương mại do doanh nghiệp chưa nắm vững quy tắc xuất xứ phức tạp, hệ thống lưu trữ hồ sơ chưa chuẩn hóa và pháp luật Việt Nam thời điểm đó còn thiếu các quy định chi tiết, thiếu chế tài xử phạt tương thích trong Luật Hải quan, Luật Thương mại và Luật Quản lý ngoại thương.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Minh Nghĩa đã phân tích toàn diện cơ sở pháp lý và thực tiễn tỷ lệ tận dụng quy tắc xuất xứ hàng hóa trong các hiệp định thương mại tự do mà Việt Nam tham gia. Thông qua việc phân tích số liệu thống kê thực chứng giai đoạn 2005 - 2020, nghiên cứu làm sáng tỏ sự phân hóa sâu sắc giữa các hiệp định có quy tắc xuất xứ đơn giản (như VCFTA, AIFTA đạt 65.5%) và các hiệp định thế hệ mới có tiêu chí kỹ thuật phức tạp (như CPTPP chỉ đạt dưới 5%). Các phân tích về cấu trúc nguồn nguyên liệu và chi phí thủ tục C/O đã cung cấp cơ sở khoa học xác đáng cho hệ thống khuyến nghị về cải cách hành chính, hoàn thiện thể chế chống gian lận và hỗ trợ doanh nghiệp tối ưu hóa lợi ích thuế quan trong thương mại quốc tế.