CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ XUẤT XỨ HÀNG HOÁ VÀ TỶ LỆ TẬN DỤNG FTA 1. Khái niệm, phân loại xuất xứ hàng hoá 1. Khái niệm xuất xứ hàng hoá Theo Hiệp định 214/WTO/VB (Hiệp định về quy tắc xuất xứ): “…quy tắc xuất xứ phải thể hiện rõ nước xuất xứ của một hàng hóa là nước sản xuất ra toàn bộ hàng hóa đó hoặc nước thực hiện công đoạn chế biến cơ bản cuối cùng hàng hóa đó nếu có nhiều nước tham gia vào quá trình sản xuất hàng hóa.”9 Theo khoản 14 Điều 3 Luật thương mại 2005: “Xuất xứ hàng hoá là nước hoặc vùng lãnh thổ nơi sản xuất ra toàn bộ hàng hoá hoặc nơi thực hiện công đoạn chế biến cơ bản cuối cùng đối với hàng hoá trong trường hợp có nhiều nước hoặc vùng lãnh thổ tham gia vào quá trình sản xuất hàng hoá đó.” Theo tác giả, luật pháp nước ta hiện tại chưa nêu lên đặc trưng của XXHH, bởi vì trong các Hiệp định để xác định một hàng hoá có xuất xứ hay không phải đáp ứng các điều kiện về tiêu chuẩn nhất định theo quy định tại mỗi Hiệp định. Do đó, XXHH không phải chỉ đơn giản được định nghĩa là nơi sản xuất ra hàng hoá hay nơi thực hiện công đoạn hoàn tất cuối cùng đối với hàng hoá đó.
Để có thể xác định XXHH và nước xuất khẩu, tác giả đưa ra ví dụ dưới đây: 9 Điểm b khoản 1 Điều 9 Hiệp định về quy tắc xuất xứ. Minh hoạ ví dụ xác định Quốc gia xuất khẩu và Quốc gia có nguồn gốc xuất xứ. (Nguồn: website World Customs Organization Organisation Mondiale des Douanes, <http://www.org/en/topics/origin/overview/faq-origin.aspx#Q3>, truy cập ngày 27/02/2021). Trong ví dụ đầu tiên này, quá trình sản xuất diễn ra tại Quốc gia E nhưng nguyên liệu thành phần được nhập từ nhiều quốc gia khác nhau như Quốc gia X, Y, Z.
Tuy nhiên, để tìm được chính xác nguồn gốc XXHH sẽ phụ thuộc vào QTXX được áp dụng và tầm quan trọng của các thành phần khác nhau nên ở ví dụ này thiếu thông tin về QTXX được áp dụng nên không thể xác định được nguồn gốc XXHH. Mặt khác, nước xuất khẩu là Quốc gia E bởi vì đây là nước cuối cùng mà hàng hoá tồn tại. Minh hoạ ví dụ xác định Quốc gia xuất khẩu và Quốc gia có nguồn gốc xuất xứ. (Nguồn: website World Customs Organization Organisation Mondiale des Douanes, <http://www.org/en/topics/origin/overview/faq-origin.aspx#Q3>, truy cập ngày 27/02/2021).
Trong ví dụ thứ hai, những nguyên liệu thành phần để có thể tạo nên một hàng hoá hoàn chỉnh đều thu được từ quốc gia A và hàng hoá được sản xuất tại A. Vì vậy, hàng hoá đó có nguồn gốc xuất xứ từ quốc gia A. Còn quốc gia xuất khẩu là quốc gia E bởi vì hàng hoá được quá cảnh tại E. Qua đó, nguồn gốc phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau như nơi hàng hoá được chế tạo và nơi các thành phần nguyên liệu được sản xuất – đó là lý do tại sao cần có QTXX.
Phân loại XXHH Căn cứ Điều 6 NĐ 31/2018/NĐ-CP thì: “Hàng hoá được coi là có xuất xứ khi thuộc một trong các trường hợp sau: 1. Hàng hóa có xuất xứ thuần túy hoặc được sản xuất toàn bộ tại một nước, nhóm nước, hoặc vùng lãnh thổ theo quy định tại Điều 7 Nghị định này; hoặc 2. Hàng hóa có xuất xứ không thuần túy hoặc không được sản xuất toàn bộ tại một nước, nhóm nước, hoặc vùng lãnh thổ, nhưng đáp ứng các quy định tại Điều 8 Nghị định này.” Hàng hoá có xuất xứ thuộc loại WO được liệt kê tại Điều 7 NĐ 31/2018/NĐ-CP gồm 10 loại. Nhìn chung, các hàng hoá có xuất xứ WO như động, thực vật, khoán sản, … thu được tại lãnh thổ của một nước, nhóm nước, hoặc vùng lãnh thổ.
Một số ví dụ như than đá thu được tại vùng mỏ Quảng Ninh có xuất xứ WO tại Việt Nam; vải thiều được trồng tại Việt Nam nên có xuất xứ thuần tuý tại Việt Nam; … Như vậy, hầu như hàng hoá được sản xuất qua nhiều công đoạn và cần kết hợp nhiều nguyên liệu khác nhau sẽ có khả năng không có xuất xứ WO. Do đó, hàng hoá này không thuộc loại xuất xứ WO. Trong đó, “Hàng hoá có xuất xứ không thuần tuý là hàng hoá không được sản xuất toàn bộ tại lãnh thổ của một nước, nhóm nước, hoặc vùng lãnh thổ nếu hàng hóa đó đáp ứng tiêu chí xuất xứ thuộc Danh Mục Quy tắc cụ thể mặt hàng do Bộ Công Thương quy định”.10 Như vậy, XXHH được quy định tại nước ta gồm hai loại là hàng hoá có xuất xứ WO và hàng hoá không có xuất xứ WO. Dựa trên sự phân chia loại này, pháp luật nội địa và các HĐTM song phương, đa phương xây dựng QTXX.
Vai trò của việc xác định xuất xứ hàng hoá 1. Vai trò đối với người tham gia quan hệ giao dịch thương mại quốc tế Thứ nhất, là căn cứ giúp các bên hưởng ưu đãi thuế quan đối với hàng hoá tại các nước nhập khẩu thông qua chế độ ưu đãi FTA, GSP11. Để được hưởng ưu đãi từ các FTAs, GSP thì hàng hoá xuất nhập khẩu phải đáp ứng những điều kiện, tiêu chuẩn về thủ tục cũng như các chứng từ liên quan. Tuy nhiên, các quốc gia ký kết HĐTM song phương và đa phương nhằm mục đích dành cho nhau những ưu đãi, vì vậy xác định XXHH theo các QTXX nhằm biết được quốc gia xuất xứ có là thành viên được hưởng ưu đãi tại các hiệp định hay không.
Thứ hai, tạo dựng uy tín về chất lượng và nguồn gốc xuất xứ đối với doanh nghiệp khác và người sử dụng sản phẩm không chỉ trong nước mà còn trên thị trường quốc tế và những chủ thể tham gia hoạt động thương mại này. Những người tham gia giao dịch cũng như người tiêu dùng quan tâm đến uy tín chất lượng của hàng hoá, nó gắn liền với nguồn gốc xuất xứ của hàng hoá đó. Những thương hiệu có bề dày lịch sử và được người tiêu dùng tin tưởng lựa chọn có XXHH gắn liền với tên quốc gia đó. Có thể nhắc đến nhóm hàng điện – điện từ có XXHH Nhật Bản như Panasonic, Honda… Thứ ba, là một trong những chứng từ cần có trong bộ chứng từ thanh toán theo thoả thuận khi ký kết hợp đồng.
Thông thường ngân hàng sẽ phát hành thư tín dụng (Letter of credit) theo yêu cầu của bên nhập khẩu và cam kết sẽ thanh toán theo quy định trong LC nếu bên bán xuất trình được bộ chứng từ hợp lệ. Như vậy, C/O có giá trị lớn trong bộ chứng từ. 11 Là Hệ thống Ưu đãi Thuế quan Phổ cập (Generalized System of Preferences), GSP được thành lập năm 1971 dưới sự bảo trợ của UNCTAD (United Nations Conference on Trade and Development) đã tạo môi trường thuận lợi cho thương mại các nước đang phát triển. 13 quốc gia sau đây cấp ưu đãi này gồm Úc, Belarus, Canada, EU, Iceland, Nhật, Kazakhstan, New Zealand, Norway, Nga, Switzerland, Turkey và Hoa Kỳ.
Xem tại <https://unctad.org/topic/trade-agreements/generalized-system-of-preferences>, truy cập ngày 17/03/2021. Vai trò đối với cơ quan quản lý nhà nước Thứ nhất, XXHH là căn cứ để các bộ phận quản lý và thống kê ngoại thương. Để bảo vệ thị trường nội địa, các quốc gia áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại đối với hàng hoá xuất nhập khẩu như chống bán phá giá, chống trợ cấp, biện pháp tự vệ và cấp hạn ngạch xuất khẩu, nhập khẩu nhằm kiểm soát lượng hàng hoá nhập khẩu. Vì vậy cần phải có XXHH để xác định hàng hoá có nguồn gốc từ quốc gia nào nhằm kiểm soát hàng nhập khẩu từ quốc gia đó.
Ngoài ra, xác định XXHH còn áp dụng để chống chuyển tải trái phép, hay là chống việc một nước xuất khẩu và bán phá giá tại một nước khác.12 Căn cứ vào việc sử dụng XXHH để thống kê ngoại thương, các Chính Phủ có thể dự báo và đưa ra kế hoạch cho sự tăng trưởng kinh tế, thương mại đáp ứng với các điều kiện mà Việt Nam hiện có. Ở nước ta, ngành Hải quan dựa vào tờ khai Hải quan để thống kê số liệu và XXHH là một tiêu chí được liệt kê trong đó. Những số liệu này giúp cho cơ quan có liên quan đưa ra những biện pháp phù hợp trong việc bảo vệ hàng trong nước và nhập khẩu hàng hoá một cách phù hợp.13 Thứ hai, đưa ra mức thuế suất dựa trên việc kết hợp XXHH với mã số thuế. Khi các quốc gia ký kết FTA sẽ đưa ra chính sách ưu đãi thuế quan khác nhau.
Vì vậy, việc xác định XXHH sẽ là căn cứ để các bộ phận có liên quan phân biệt đất nước trực tiếp sản xuất sản phẩm đó. Cùng với đó giúp cho các cơ quan áp dụng mức thuế suất ưu đãi hay không ưu đãi một cách hợp lý. Ví dụ như nếu một hộp cá ngừ có nguồn gốc từ nước kém phát triển như quốc gia A – nằm trong vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) mà cá ngừ được đánh bắt, cách áp dụng thuế quan có thể rất khác đối với sản phẩm có nguồn gốc từ nước phát triển như quốc gia B, nơi có ngành công nghiệp sản xuất hộp.14 Vì vậy, việc xác định XXHH giúp cho các quốc gia nhập khẩu hàng hoá xác định thuế xuất phù 12 Võ Bích Ngọc (2014), “Xuất xứ của hàng hoá nhập khẩu – thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng” (khoá luận thạc sĩ, trường Đại học Kinh tế - Luật), trang 13,14. 13 Võ Bích Ngọc (2014), “Xuất xứ của hàng hoá nhập khẩu – thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng” (khoá luận thạc sĩ, trường Đại học Kinh tế - Luật), trang 14.
14 Mitsuo Matsushita và các tác giả (2015), THE WORLD TRADE ORGANIZATION Law, Practice, and Policy, Name of publisher: The Oxford International Law Library, UK, page 237. 7 hợp cho các quốc gia xuất khẩu khác nhau như quốc gia phát triển, quốc gia đang phát triển và quốc gia kém phát triển. Công tác áp dụng mức thuế suất của cơ quan Hải quan dựa trên nhiều căn cứ như lượng, XXHH, mức thuế suất, … Công tác ấn định thuế nhằm mục đích chỉ ra các yếu tố tính thuế, căn cứ tính thuế và thông tin đến người nộp thuế thực hiện nghĩa vụ nộp thuế theo quy định. Do đó, XXHH kết hợp với mã số thuế sẽ là căn cứ nhằm xác định được số tiền thuế mà người nhập khẩu hàng hoá phải nộp.
Quy tắc xác định xuất xứ hàng hoá 1. Khái niệm về QTXX Thông qua QTXX xác định nước XXHH.