CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Lý thuyết giới - sự phức hợp các lý thuyết Khái niệm “giới” (gender) bắt đầu được sử dụng phổ biến vào đầu thập niên 70 của thế kỉ XX. Khái niệm “giới” ra đời chủ yếu nhằm làm rõ sự khác biệt giữa giới và giới tính, tức gender và sex.
“Sex” được hiểu là giới tính theo định nghĩa sinh học, thuộc phạm trù sinh vật học. Về cơ bản, giới tính con người được chia thành nam giới, nữ giới và liên giới tính1. Từ đó, khi thuật ngữ “gender” ra đời, nó được dùng như một phạm trù phân tích để vẽ ra đường phân giới giữa sự khác biệt thuộc về giới tính sinh học với cách người ta dùng các khác biệt này để định hướng hành vi và năng lực; các hành vi, năng lực ấy, đến lượt, lại bị gán cho các thuộc tính hoặc “nam tính” hoặc “nữ tính” [6; tr. Đầu tiên, cần có sự phân biệt rõ ràng giữa tính nam (masculinity) – tính nữ (femininity) và nam tính (masculine) - nữ tính (feminine).
Trong nghiên cứu Đọc lại tính nữ (femininity) trong thơ Xuân Quỳnh: ai khiến Quỳnh nữ tính? của TS. Hồ Khánh Vân đã có lý giải về các thuật ngữ này như sau: “Tính nam và tính nữ thuộc danh từ, bao hàm một tập hợp đặc tính được xem là đặc trưng cho giới nam và giới nữ. Trong khi đó, nam tính và nữ tính thuộc tính từ, chứa đựng những đặc tính cụ thể vốn gắn liền, hoặc được/bị quy vào, gắn ghép cho người nam và người nữ” [13; tr. Có thể hiểu, nam tính và nữ tính là cách mà người ta hình dung, miêu tả và phân biệt tính nam và tính nữ của mỗi cá thể giới.
Chính vì mục đích như vậy mà tính nam và tính nữ thường luôn được gắn liền với một tổ hợp các đặc tính đặc trưng khác nhau. Tất nhiên, hai phạm trù vẫn có tính giao thoa và liên quan mật thiết đến nhau như không phân biệt rạch ròi, cả về phương diện sinh học lẫn phương diện văn hoá. Về phương diện sinh học, ngoài những đặc điểm sinh học riêng của hai giới như sự cấu tạo của các bộ phận và đặc tín sinh học thì trong cơ thể nam giới và nữ giới cũng có những đặc điểm mang nét tương đồng riêng. Ví dụ như hormones testosterone, đây là loại hormone có cả ở nam giới và nữ giới, tuy nhiên, hàm lượng sẽ chiếm phần nhiều hơn ở nam giới.
Hay hormones 1 Liên giới tính (intersex) là thuật ngữ chỉ những người không có những đặc điểm giới tính phù hợp với định nghĩa điển hình của nam giới và nữ giới, là một dạng dị tật bẩm sinh của hệ thống cơ quan sinh dục và giới tính. 11 estrogen lại là một loại hormone có cả ở nam giới và nữ giới nhưng hàm lượng sẽ chiếm nhiều hơn ở nữ giới. Như vậy, ngay cả ở mặt đặc điểm sinh học, nam giới và nữ giới vốn đã có những đặc điểm khác và giống nhau riêng, điều này cũng sẽ góp phần ảnh hưởng đến sự nam tính và nữ tính ở mỗi giới. Bởi hormones thì có nhiệm vụ biểu hiện đặc tính riêng ở nam và ở nữ.
Ví dụ, phái mạnh thường sẽ có giọng trầm, mọc râu và rậm lông,.; còn phái nữ sẽ có chu kỳ kinh nguyệt, tuyến vú phát triển,. Tức là một cách tương đối, hai giới sẽ có sự giao thoa về các đặc điểm sinh học, và đi liền kề đó là những đặc tính mang tính văn hoá. Tuy nhiên, trong suốt chiều dài lịch sử, tính nam và tính nữ lại thường được phân biệt dựa vào vai trò giới trong xã hội, quy cách ứng xử hay cách biểu đạt văn hoá, từ đó tạo nên những định kiến và khuôn mẫu giới riêng. Sự phân định tuyệt đối này tạo nên tính nam bá quyền (hegemonic masculinity) và tính nữ bá quyền (hegemonic femininity) [17, tr.
Mỗi tính thường được gắn liền với đặc trưng tương ứng như tính nam thường có các đặc điểm nam tính (mạnh mẽ, quyết liệt, chủ động, trí tuệ, lý tính, độc lập, hướng ngoại, gắn với vai trò xã hội) và tính nữ thì có các đặc điểm nữ tính (yếu đuối, dịu dàng, thụ động, xúc cảm, cảm tính, phụ thuộc, hướng nội, gắn với vai trò gia đình) [13, tr. Vấn đề ở đây là, như xét về đặc tính sinh học, luôn có sự tương đỗi giữa hai giới chứ không hoàn toàn tuyệt đối. Một chủ thể có thể có sự thiên lệch về tính nam nếu họ chứa đựng hàm lượng nam tính vượt trội và ngược lại. Trong quan niệm về sinh học, Richard Boyd cũng đưa ra định nghĩa và sự phân biệt, xếp loại giới nam, giới nữ dựa vào bó đặc điểm sinh học/ hệ thống đặc điểm sinh học (cluters/ set of clustered properties) chứ không chỉ dựa vào một hoặc một vài đặc tính [16, tr.
Vì vậy, việc xác định tính nam, tính nữ cũng phải dựa vào bó nam tính và nữ tính, đồng thời, dựa vào sự tự ý thức và xác định bản dạng giới của chủ thể, chứ không chỉ từ cái nhìn mang tính đánh giá bên ngoài của xã hội [13, tr. Như vậy, có thể hiểu rằng, một người có giới tính sinh học là nam, hoàn toàn có thể mang trong mình những thuộc tính khác nhau, hoặc nam tính (masculine), hoặc nữ tính (femininity) và ngược lại. Việc chấp nhận những bản dạng khác nhau, đa dạng của giới sẽ giúp chúng ta có một góc nhìn cởi mở và phóng khoáng hơn khi nhìn nhận các chủ thể, 12 một cách khách quan, toàn diện ở cả phương diện giới và giới tính. Vì vậy, việc xoá nhoà ranh giới của hai giới, xoá bỏ cấu trúc nhị nguyên, đồng thời thừa nhận sự đa nguyên của trình hiện giới tính (gender representation) và biểu hành giới (gender performative), tạo thành đa tính nữ (multiple femininity) và đa tính nam (multiple masculinity) là rất cần thiết để có sự cân bằng và khách quan khi xem xét hai giới trong mọi khía cạnh xã hội.
Việc trình hiện giới từ trước đến này đều bị gắn liền với yếu tố văn hoá xã hội một cách tuyệt đối. Simone de Beauvoir trong cuốn Le Deuxième Sexe (tiếng Việt: Giới nữ 2) cũng đã đề cập “Người ta không sinh ra là phụ nữ, mà trở thành phụ nữ [8; tr. Điều này nói lên rằng, khi một người mới sinh ra, họ không hề mang trong mình một giới nhất định, đặc trưng ngay từ ban đầu, mà là được hình thành nên. Tức là, ngay từ ban đầu, nữ giới hoàn toàn có thể có những đặc trưng nam tính và ngược lại, không hề có một quy chuẩn cố định nào.
Tuy nhiên, chính môi trường văn hoá xã hội đã ảnh hưởng ngược lại và đóng khuôn họ với những đặc trưng về tính nhất định. Để làm rõ hơn điều này, các nhà nghiên cứu cũng đã chỉ ra rằng, giới và văn hoá là hai khái niệm không thể tách rời. Qua quá trình văn hoá hoá, con người sẽ hình thành nên giới cho riêng bản thân mình và những biểu tượng của văn hoá thì mang tính định giới cao. Bản thân giới là văn hoá, và văn hoá thì cũng mang tính định giới cao.
Một đứa trẻ chào đời, đồng nghĩa với việc một nền văn hoá mới được sinh ra. Đó là lí do khi mới chào đời, chúng sẽ chưa thể xác định được giới của mình, bởi chúng chưa có sự học hỏi để hình thành, tích góp một nền văn hoá cho riêng mình qua việc học hỏi, chịu sự ảnh hưởng từ gia đình, bạn bè, thầy cô, các mối quan hệ xã hội khác về ngôn ngữ, lễ nghi hay những tập tục,… Từ khía cạnh hình thành văn hoá này, khi soi chiếu và nhìn từ góc nhìn giới, mọi người dường như cũng phải học để trở thành đàn ông hay phụ nữ. Quá trình học này chính là quá trình mà mọi người vừa bị động cũng vừa chủ động trong việc quan sát, đánh giá và chịu ảnh hưởng, chi phối ngược lại từ mọi thứ diễn ra xung quanh đời sống. Quay lại ví dụ về đứa trẻ, một đứa trẻ khi mới chào 2 Le Deuxième Sexe là một tác phẩm của Simone de Beauvoir, bản dịch ở Việt Nam của Nguyễn Trọng Định và Đoàn Ngọc Thanh do NXB Phụ nữ xuất bản lấy tựa đề là Giới nữ.
Ở Việt Nam, mọi người thường gọi tên tác phẩm theo bản dịch từ tiếng Anh The Second Sex là Giới tính hạng hai hay Giới tính thứ hai. 13 đời, chúng sẽ được người lớn dạy dỗ và truyền đạt những quy cách mà một cách vô thức, chúng sẽ coi đó là điều hiển nhiên, chấp nhận và đồng thuận với cái “giới” được hình thành bên trong mình. Đó là con gái thì phải đi nhẹ nói khẽ, phải khép nép, dịu dàng, còn con trai thì ăn to nói lớn, mạnh mẽ và bạo dạn. Điều này vô hình trung đã tạo nên những tiêu chuẩn riêng cho hai giới, hình thành nên khuôn mẫu giới (gender stereotype).
Khái niệm khuôn mẫu (stereotype) bắt đầu được du nhập và sử dụng trong lĩnh vực khoa học xã hội từ năm 1922, đó là khi Lippman3 sử dụng từ này để mô tả “bức tranh điển hình” hiện ra trong tinh thần khi ta nghĩ về một nhóm xã hội cụ thể [6; tr. Mà “bức tranh điển hình” thì hoàn toàn có thể là tiêu cực hoặc tích cực, chính xác hoặc không chính xác, hợp lý hoặc phi lý. Vậy nên, khuôn mẫu thì nên là những cái nằm trong tinh thần của cả một tập thể chứ không phải trong mỗi tinh thần một người. Khuôn mẫu khi nhìn thì góc nhìn giới, ta có thể dễ dàng thấy những đặc điểm được gán ghép cho hai giới tính như phụ nữ là những người tình cảm, dễ xúc động, yếu mềm, khó đoán, nhẹ nhàng và thích những điều ngọt ngào, còn đàn ông là những người lý trí, mạnh mẽ, bạo dạn, chủ động, không giỏi việc nội trợ và ưa thích thể thao, mạo hiểm.
Khuôn mẫu giới ra đời như một cách miêu tả, gọi tên hai giới với những đặc điểm được tiêu chuẩn hoá, vì vậy mà thường nó là những điều khá tiêu cực và mang tính áp đặt dành cho hai giới. Những tiêu chuẩn này được tạo ra dựa trên những tiêu chí, yêu cầu mà xã hội cho là cần thiết để đảm bảo vai trò giới trong đời sống gia đình, xã hội. Ví dụ như người phụ nữ thường được gắn liền với hình ảnh sinh sản, với nỗi đau trong mỗi kỳ kinh nguyệt, vậy nên họ luôn được hiện diện như một phái “yếu”, cần được nâng niu, nhẹ nhàng. Bản thân họ cũng được cho là phải nhẹ nhàng, phải giỏi việc chăm sóc chồng con, gia đình.
Gia đình (family) luôn là phạm trù được “đính kèm” khi nhắc đến phụ nữ, đặc biệt là không gian phòng bếp.