chương 1 1. Tổng quan nghiên cứu của Thế giới và Việt Nam về mối quan hệ giữa RPTs và hành vi QTLN 1. Tổng quan về các loại RPTs và hành vi QTLN được sử dụng trong các nghiên cứu trước 1. Tổng quan về các loại RPTs được sử dụng trong các nghiên cứu trước Trên thế giới, đo lường MQH giữa RPTs và hành vi QTLN đã được thực hiện tại nhiều quốc gia.
RPTs khá đa dạng dẫn tới những đa dạng trong việc lựa chọn loại RPTs để đo lường. Trong đó, RPTs doanh thu (RPTs bán hàng) được lựa chọn nhiều 8 nhất vì khả năng được sử dụng để QTLN cao (Nguyễn Thị Thu Hà, 2016; Nguyễn Thị Phượng Hồng & Trần Văn Lợi, 2020; Marchini và cộng sự, 2018; Lo, Wong & Firth, 2010). Doanh thu là khoản mục trọng yếu có tác động trực tiếp tới lợi nhuận, thường nhận được sự quan tâm của hầu hết các nhà đầu tư. Ngoài lợi nhuận, thị trường thường đánh giá các công ty lỗ bằng giá trị và sự tăng trưởng của doanh thu thay vì dòng tiền và lợi nhuận (Callen, Robb & Segal, 2008; Demers & Lev, 2001).
Nhà quản lý có thể dùng thái độ “thận trọng” hay “lạc quan” để ghi nhận doanh thu (conservative/aggressive) và điều chỉnh lợi nhuận theo ý muốn tùy theo bối cảnh của doanh nghiệp và hình ảnh công ty mà nhà quản lý muốn xây dựng trong mắt các bên liên quan. Bên cạnh đó, RPTs mua hàng và cho vay cũng được nhiều nhà nghiên cứu đo lường trong nghiên cứu của mình vì sự tác động trực tiếp tới lợi nhuận của giá vốn hàng bán, chi phí lãi vay và mức độ sử dụng phổ biến của chúng trên các BCTC (Rahmat và cộng sự, 2020, Gordon & Henry, 2005). Ngoài ra, một số RPTs khác cũng được sử dụng nhiều trong các nghiên cứu về RPTs như RPTs doanh thu tài chính, chi phí tài chính (Marchini và cộng sự, 2018), tổng các số dư RPTs phải thu, phải trả (Alhadab và cộng sự, 2020), mua bán tài sản, cho thuê, đầu tư… (Chen, Chen & Chen, 2009; Gordon & Henry, 2005). Để giảm bớt số lượng các loại RPTs, Rahmat và cộng sự (2020) cho rằng nhà quản lý sẽ dùng gộp các RPTs để QTLN, do đó trong nghiên cứu của mình, nhóm tác giả đã gộp các loại RPTs doanh thu, bán hàng là RPTs phức tạp, và giao dịch cho thuê, tư vấn, pháp lý là RPTs đơn giản để đo lường.
Các bài nghiên cứu cũng cho thấy vai trò của RPTs trong mô hình hồi quy cũng đa dạng, khi là biến độc lập (Alhadab và cộng sự, 2020; Chen và cộng sự, 2011; El-Helaly và cộng sự, 2018; Nguyễn Thị Thu Hà, 2016; Nguyễn Thị Phượng Hồng và Trần Văn Lợi, 2020; Marchini và cộng sự, 2018; Rahmat và cộng sự, 2020; Zimon, Appolloni, Tarighi, Shahmohammadi & Daneshpou, 2021), khi là biến phụ thuộc (Lo, Wong & Firth, 2010). Tổng quan về các loại hành vi QTLN được sử dụng trong nghiên cứu trước Trong các cuốn sách tổng hợp về hành vi QTLN của El Diri (2017) và Ronen & Yaari (2008) đã chỉ ra khá nhiều hình thức QTLN được sử dụng như AEM, REM, làm mượt thu nhập, chuyển giao thu nhập, sử dụng các công cụ tài chính như hợp đồng kỳ hạn, quyền chọn…Trong đó AEM được nhắc tới nhiều nhất vì được sử dụng phổ biến trong thực hành kế toán hàng ngày. Mô hình đo lường AEM được nhiều nhà nghiên cứu tham gia xây dựng và cải tiến qua các năm. Điểm chung của các mô hình là tính toán giá trị dồn tích bất thường (DA) là hiệu số của tổng giá trị các khoản dồn tích (TA) và khoản dồn tích bình thường (NDA).
Các mô hình được sử dụng phổ biến có thể kể tới như mô hình của Jones (1991), mô hình Dechow và cộng sự (1995), Kothari (2005)… Cho tới năm 2005, REM mới nhận được sự chú ý kể từ sau bài nghiên cứu nhấn mạnh về sự quan trọng của việc nắm bản chất của những giao dịch thực tế tại doanh nghiệp để đánh giá hành vi nhà quản lý của Graham và cộng sự (2005) và Roychowdhury (2006). Mô hình đo lường REM được Roychowdhury (2006) phát triển dựa trên nghiên cứu của Dechow và cộng sự (1995) và trở thành mô hình được sử dụng phổ biến nhất, trong đó đo lường 3 khía cạnh được sử dụng để QTLN thực gồm giảm dòng tiền từ hoạt động sản xuất, kinh doanh bằng cách tác động vào doanh thu thông qua các điều kiện khuyến mãi và thời gian thu nợ thoải mái hơn, giảm chi phí nghiên cứu và phát triển, chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp, giảm giá vốn hàng bán bằng việc tăng sản lượng sản xuất. Bên cạnh các mô hình đo lường hành vi QTLN, một số nghiên cứu định tính cũng được thực hiện về hành vi QTLN, điển hình có thể kể tới như các bài nghiên cứu của Graham và cộng sự (2005), De Jong et al. (2014), Nelson et al.
Bảng khảo sát được gửi tới số lượng lớn các kế toán, kiểm toán viên, CEO,… trong các ngành nghề khác nhau phần nào cho độc giả một cái nhìn tổng quan về lựa chọn hành vi QTLN trong doanh nghiệp. Tổng quan nghiên cứu về mối quan hệ giữa RPTs và hành vi QTLN 1. Nghiên cứu của các tác giả nước ngoài Hiện nay, cấu trúc công ty ngày càng đa dạng, các hình thức sở hữu công ty ngày càng phức tạp, mô hình công ty không chỉ dừng lại ở công ty mẹ - con, mà còn công ty liên doanh, liên kết, không chỉ sở hữu trực tiếp mà còn sở hữu gián tiếp, sở hữu chéo, sở hữu lẫn nhau (mutual ownership) (Hoyle, Schaefer & Doupnik, 2011). Dù cho là hình thức sở hữu nào thì việc chuyển giao nguồn lực giữa các bên đều được xem là RPTs và cần được công bố trên thuyết minh BCTC.
Nhìn chung, có 2 luồng quan điểm đánh giá về RPTs. Quan điểm thứ nhất cho rằng chuyển giao nguồn lực giữa các bên liên quan đóng góp vào sự phát triển và bền vững tài chính của các doanh nghiệp, các lý thuyết kinh tế gọi loại RPTs này là “giả thuyết giao dịch hiệu quả” (Friedman, Johnson & Mitton, 2003; Peng, Wei, & Yang, 2011), theo đó RPTs góp phần làm giảm chi phí giao dịch, ví như giảm chi phí lãi vay do vay các công ty cùng nhóm kinh tế thay vì vay ngân hàng hay tổ chức tín dụng khác, hay nói cách khác, các công ty có thể hỗ trợ nhau về tài chính khi gặp khó khăn, đứng vững hơn trước những tác động xấu của thị trường (Gordon, Henry, & Palia, 2004; El-Helaly và cộng sự, 2018). Gordon và cộng sự (2004) cũng chỉ ra rằng các công ty có thể tìm kiếm kinh nghiệm kinh doanh cũng như các chuyên gia trong lĩnh vực hoạt động từ các công ty trong cùng tập đoàn. Các bên liên quan gồm giám đốc, thành viên hội đồng quản trị, thành viên ủy ban kiểm toán…cũng là những chuyên gia có am hiểu sâu rộng và thâm niên trong nhiều lĩnh vực gồm luật, kế toán, tài chính, thuế…, đồng thời họ cũng là những người có cái nhìn tường tận nhất về hoạt động của doanh nghiệp.
Do đó, tận dụng những MQH với bên liên quan, doanh nghiệp có thể giảm thiểu được tác động tiêu cực của thông tin bất cân xứng và chi phí hoạt động, sự cam kết và chất lượng dịch vụ được đảm bảo hơn, đồng thời được làm việc với những người quen, có niềm tin ở nhau sẽ giúp công việc diễn ra hiệu quả hơn. Với quan điểm này, RPTs sẽ không được xem là một hành vi dùng để QTLN, theo đó, thị trường cũng phản ứng tích cực hơn đối với các công ty công bố nhiều giao dịch với các bên liên quan và các 11 cổ đông kiểm soát (Chen và cộng sự, 2009; Friedman và cộng sự, 2003; Peng và cộng sự, 2011; Kohlbeck & Mayhew, 2017). Tuy nhiên, quan điểm thứ hai lại cho rằng RPTs là một trong những nguyên nhân gây ra những vụ bê bối tài chính trong khoảng 2 thập kỉ gần đây (Gordon & Henry, 2005; Peng và cộng sự, 2011; Marchini và cộng sự, 2018; Wong & Jian, 2003). Họ cho rằng RPTs là một công cụ để các cổ đông kiểm soát hoặc giám đốc điều hành điều chỉnh lợi nhuận theo ý muốn nhằm thu lợi cho bản thân, người ta xem loại RPTs này là “giả thuyết giao dịch xung đột lợi ích” (Friedman và cộng sự, 2003; Lee, Kang, Lee & Park, 2016; Wong & Jian, 2003).
Các hình thức có thể thấy là chuyển giá, bán tài sản với giá cao, phát hành chứng khoán giá thấp cho các bên liên quan hoặc trả lương cao bất thường cho giám đốc hoặc các cổ đông chủ chốt. Điều này xảy ra thường xuyên hơn ở các quốc gia đang phát triển vì các vấn đề yếu kém trong hệ thống kiểm soát nội bộ, quản trị công ty và những lỗ hổng trong hệ thống pháp lý và chuẩn mực do Chính phủ ban hành (Alhadab và cộng sự, 2020; Rahmat, Muniandy & Ahmed, 2020; Zimon và cộng sự, 2021). Với những quan điểm khác nhau, nhiều nghiên cứu đã được thực hiện tại nhiều quốc gia trên thế giới nhằm xác định MQH giữa RPTs và hành vi QTLN. Ở Mỹ, Gordon & Henry (2005) đã thực hiện nghiên cứu ở Mỹ với số liệu BCTC của 331 công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán 2 năm 2000 và 2001.
Mục tiêu nghiên cứu là xem xét MQH giữa RPTs và hành vi quản trị lợi nhuận. Mô hình hồi quy với biến phụ thuộc là hành vi QTLN dồn tích điều chỉnh được đo lường theo mô hình của Klein (2022), biến độc lập là RPTs, được tính bằng log của giá trị USD của giao dịch đó, gồm các giao dịch cho vay, bán hàng, mua hàng, đầu tư,…Các biến kiểm soát gồm có lợi nhuận thuần, tỷ số giá trị thị trường chia cho giá trị sổ sách của cổ phiếu, dòng tiền hoạt động sản xuất kinh doanh (OCF), tỷ số nợ dài hạn chia tổng tài sản đầu kỳ, quy mô công ty, logarit của tài sản. Kết quả nghiên cứu cho thấy QTLN và giao dịch tài trợ vốn với lãi suất cố định có tương quan mạnh nhất, với MQH đồng hướng với nhau, tức là công ty có xu hướng điều chỉnh lợi nhuận, tạo ra 12 kết quả kinh doanh tích cực để nhận được nguồn tài trợ vốn từ các bên liên quan dễ dàng hơn.