Chương 1: Tông quan đề lài nghiên cứu. Chương này trình bày lý do chọn đẻ tài, mục tiêu, đôi tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa nghiên cứu và cấu trúc cua báo cáo. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu. Chương này trình bày cơ sở lý thuyết và các nghiên cửu trước đây có liên quan, từ đó đê xuât mô hình nghiên cứu và thang đo khái niệm.
Chương 3: Phương pháp nghiên cửu. Chương này trinh bày quy trinh nghiên cứu, phương pháp chọn mâu, quá trinh thu thập thông tin, công cụ xử lý dừ liệu và các kỳ thuật phân lích sẽ được sử dụng trong nghiên cửu. Chương 4: Kcl quá nghiôn cứu. Chương này trinh bày và diễn giái kết quá xư lý, phân tích dừ liệu nghiên cứu và thảo luận kết quà nghiên cứu.
Chương 5: Kết luận và hàm ỷ quản trị. Chương này trình bày tống hợp kết quả nghiên cứu, từ đó rút ra kết luận và hàm ý cho nhà quàn trị cũng như nhừng hạn chế cúa nghiên cứu đẻ định hướng cho các nghiên cứu tiếp theo. 5 CHƯƠNG 2: cơ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN cứu 2. Các khái niệm trong nghiên cứu 2.
Ý định học chứng chỉ ACCA Y định là khả năng mà một người có thê thực hiện một hành vi trong một hoàn cành nhất định. Dựa vào nghiên cứu cua Ajzen (1991), ỷ định còn mang tinh thúc đây và thế hiện được sự sằn sàng thực hiện cùa cá nhân cho hành động đó. Ngoài ra, Ajzen và Fishbein (1975) còn xem ỷ định là tiền đề trực liếp dần đen hành vi. Ý định thường xuất hiện dựa vào các yếu tổ: Thái độ dẫn đến hành vi, chuấn chủ quan.
Ajzen (1985) còn bô sung thêm về yếu tổ nhận thức kiếm soát hành vi sẽ thể hiện được rằng việc thực hiện hành vi cùa cá nhân này đà có kế hoạch từ trước. Việc bô sung này sẽ giúp diền tả thang đo cho yếu tổ nhận thức kiếm soát hành vi, Nghiên cứu của Ajzen (1991) chỉ ra rang ý định hành vi là một dấu hiệu nhận biết rằng một cá nhân có thê đưa ra quyết định thực hiện một hành vi đặc biệt và ý định sẽ là liền đề của hành vi. Mặc dù có thô mối quan hệ giừa ý định và hành vi thực tế không hoàn toàn hợp lỷ và thuận lợi cho nhau nhưng ý định cỏ thế được sử dụng như là nhân tổ tổt nhât đô dự đoán hành vi (Ajzen, 1991). Đa phần các nghiên cứu đều chỉ ra được rằng các yếu tố ánh hướng đến ý định chọn trường học gồm: môi trường gia đỉnh, môi trường bạn bè của cá nhân đỏ, học phí, địa điểm học,.
(Ali & Tinggi, 2013; Odia & Ogiedu, 2013; Rababah, 2016; Wally-Dima, 2013) Nghiên cứu cua Odia & Ogiedu (2013) có đề cập đen các yếu tổ chọn ngành kế toán của sinh viên Đại học Benin thuộc Nigeria như: đặc diem cá nhân, ánh hường từ gia đinh, tricn vọng nghề nghiệp và tính chuyên môn của ngành kế toán. Kết quả nghiên cứu của Trân Thị Hồng Vân (2022) có nội dung về công tác đào tạo ngành Ke toán - Kiếm toán cho thấy rằng số lượng sinh viên có bằng đại học của ngành Ke toán - Kiêm toán ngày càng nhiêu. Tuy nhiên, số lượng kế toán, kiêm toán viên cỏ các chứng chí liên quan tới ngành hoặc các chứng chí của các hiệp hội quốc tế nếu đem đi so với số lượng cử nhân tốt nghiệp trong mồi năm thì rất ít (chỉ 5.Từ các vấn đề trên, sinh viên kế toán - kiểm toán đang dần dần có ý định vào việc học chứng chi ACCA đô bô sung vào trinh độ chuyên môn cua bàn thân cũng như là giúp có cơ hội về nghề nghiệp cao hơn. Niềm tin Niềm tin theo định nghĩa là những gi một cá nhân cảm thấy và tin tướng một cái gì đó.
Thử mà cá nhân đó tin tường có thê xấu hoặc tốt, đúng hoặc sai, nhung cá nhân đó vần sẽ tin rằng điều đó sẽ xảy ra theo ý nghĩ của họ. Nhừng nghiên cửu đều chi ra rằng vẫn chưa có một định nghĩa chinh xác về niềm tin. Có tận 16 định nghĩa cho niềm tin (Kramer và Tyler, 1996). Ngoài ra nghiên cứu cua Morrow và cộng sự (2014) rút ra được rang niềm tin chung là phạm vi một cá nhân tin ràng những người xung quanh cá nhân đó sẽ không tấn công vào điểm yêu của bàn thân.
Niềm tin còn được nhận diện theo một hình thức cần thiết đê xóa bỏ đi sự không chắc chan và khiến cá nhân đó yên tâm hoặc như là một cách dùng đê đơn giản hóa quyết định (Bokcer và Hanf, 2000). Như vậy thỉ theo Castelfranchi & Falcone (2010) niềm tin được dùng đê xóa bỏ sự không chắc chắn, nếu không có sự không chắc chắn và rúi ro thi sẽ không thê nào xuất hiện niềm tin. Có 2 loại niềm tin được Chen chỉ ra trong bài nghiên cứu của mình (2013) là niềm tin chung và niềm tin cụ thê, nghiên của cùa ông chi ra niềm tin chung chỉnh là niềm tin cơ bán, loại niềm tin này được hình thành trên mồi cá nhân dựa trôn quy chuân đạo đức của xà hội hiện hành và ôn định theo thời gian. Niêm tin cụ thê được định nghĩa là niềm tin dành cho một đổi lượng cụ thể, cỏ thể đối tượng đỏ đúng hoặc sai.
Niềm tin cũng mang một phần ảnh hường tới thái độ. Niềm tin cùa cá nhân càng lớn thi thái độ của họ tích cực hơn (Donthu, 2001; Elliott và Speck, 2005). Từ nghiên cứu của Limbu và cộng sự (2012), ta thấy rõ được rằng mối quan hệ tích cực của niềm tin và thái độ. Niềm tin không chi có những ánh hường lích cực đen thái độ mà theo như Chow và Chan (2008), niêm tin còn có ảnh hường đến chuân chủ quan một cách tích cực.
Niềm tin dành cho triển vọng của nghề nghiệp Triển vọng công việc tốt về cơ bản là đề cập đến những lợi ích dự kiến sẽ nhận được khi theo đuôi một công việc cụ thể, chăng hạn như lợi ích cua việc có thị trường, lương cao, đảm bảo công việc tốt và ôn định công việc, cũng như cơ hội thăng tiến nghề nghiệp. Một sổ nghiên cứu đã định nghía về động lực để đạt được nhừng điều tích cực triển vọng công việc là “lợi ích bôn ngoài" (Felton, Buhr & Northey, 1994; Ahmed, Alam & Alam, 1997; Jackling & Calero, 2006; Ahmad và cộng sự, 2015) vì về cơ bàn chúng là thù lao tài chính. Niềm tin hoặc nhận thức về thù lao tài chỉnh dự kiến và các ưu đài liên quan đã được nghiên cứu rộng rãi trong các tài liệu liên quan đen nghề nghiệp đế xác định 7 ảnh hương cùa triên vọng nghề nghiệp đôi với các quyết định nghê nghiệp cùa cá nhân. Đặc biột, nhận thức về tiền lương gần như luôn được coi là yen tố quan trọng quyết định sự lựa chọn nghề nghiệp của một cá nhân.
Nhiều tài liệu cũ đà nhận thấy tiền lương là một thuộc tính quan trọng mà cá nhân tính đen khi quyết định con đường sự nghiệp (ví dụ: Trump và Hendrickson, 1970; Carpenter & Strawser, 1970). Tuy nhiên, tầm quan trọng của tiền lương với tư cách là yeu tổ quyết định chính có thê đã thay đối theo thời gian. Điều này đà được chứng minh bằng các kết quả trái ngược nhau cùa các nghiên cửu gan đây hơn (Ahmad và cộng sự, 2015; Law, 2010) Nhiêu nghiên cứu khác cũng đà chi ra rằng các giải thường hoặc chửng chi có liên quan đen công việc có sức ánh hưởng vô cùng lớn đen với quyết định chọn nghề nghiệp cua các sinh viên ngành Kê toán - Kiêm toán. Nghiên cứu cua Muhamad, Salleh and Nordin (2016) ờ Malaysia cho thấy rang các sinh viên nhận thức được triên vọng cúa nghề nghiệp mà bản thân theo đuôi thì sè tạo ra một nguôn động lực thúc đây các sinh viên theo đuôi các chứng chí liên quan đến ngành.
Ớ mặt khác thì khi kháo sát các sinh viên, nghiên cửu cho thấy rằng các sinh viên cũng có nhận thức vê tính ôn định cùa công việc, địa vị, trinh độ chuyên môn mà các chứng chi SC giúp cho công việc tương lai theo Mustapha and Hassan (2012). Niềm tin xã hội Niêm tin xà hội được định nghía như là niêm tin cùa một cá nhân được tạo ra từ các tương tác trong xà hội của cá nhân đó. Một nhà lâm lý học đã đưa ra khắng định rằng hành vi của một cá nhân là sản phâm từ các tương tác xà hội của cá nhân đó. Vậy nên ta có thê đưa ra kết luận ràng việc nghiên cứu và phân lích các thuộc tính xã hội xung quanh cá nhân đỏ sè giúp chúng ta hiêu và dự đoán được hành vi của cá nhân đó (Bandura, 1986), điển hình như viộc phân tích quyết định chọn nghè nghiệp cua một cá nhân.
Sau đây là nghiên cứu thực tế đế hiểu rõ hơn về niềm tin xà hội. Theo Bauder (2006), người Nam Ả rất coi trọng địa vị xà hội, do đỏ các nghề nghiệp thê hiện địa vị cao thường được người dân xem xét lựa chọn. Ngoài ra theo Auyeung và Sands (1997) đà kiêm tra 12 yếu tố lựa chọn nghê nghiệp, trong đỏ gôm các yếu tơ như kiêm tra tác động của cha mẹ, ảnh hướng cùa giáo viên, của đồng nghiệp và mổi liên kết với những người trong lĩnh vực này. Nghiên cứu này đà thu thập được phản hồi của các sinh viên từ đại học cua các nước úc, Hồng Kông và Đài Loan, các phát hiện cho thấy rằng sức ánh 8 hường của các nhân vật xà hội quan trọng là vô cùng lớn, đối tượng bị ánh hường nhiêu nhất là các sinh viên châu Á (tức là Hồng Kong và Đài Loan).
Điều này đà làm nối bật kết quả rằng các nền văn hóa và môi trường xà hội khác nhau có thê ánh hường đến việc các cá nhân cân nhắc hành động cua bán thân dựa vào ý kiến cua mọi người xung quanh. Niềm tin năng lực Niêm tin vê năng lực hay còn thường được định nghĩa như là năng lực bản thân, là niêm tin vào khả năng của chính mình đố thực hiộn một sổ hành vi nhất định và đạt được kết quả mong muôn, cho phép cá nhân đỏ đạt được mục tiêu cùa mình (Bandura, 1986). Niềm tin của bản thân sè xoay quanh về nhận thửc cùa bán thân cá nhân đó, vậy nên nó sè không giống với mục tiêu hoặc không thể thay thế được đo lường khả năng của người đó (Schoenfeld, Segal & Borgia, 2015).