phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, đề án gồm 3 chương. Phần 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý thuế đối với hộ kinh doanh Phần 2: Đặc điểm địa bàn và phương pháp nghiên cứu Phần 3: Thực trạng vấn đề nghiên cứu Phần 4: Định hướng và giải pháp hoàn thiện đề án 4 Phần 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI HỘ KINH DOANH 1. Cơ sở lý luận về quản lý thuế đối với các hộ kinh doanh 1. Các khái niệm cơ bản (1) Thuế Thuế là hình thức phân phối lại bộ phận nguồn tài chính của xã hội, không mang tính hoàn trả trực tiếp cho người nộp (Nguyễn Thị Liên, 2015).
Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc cho nhà nước do luật pháp quy định đối với các pháp nhân và thể nhân thuộc đối tượng chịu thuế nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước (Lê Kim Anh, 2010). Theo Luật quản lý thuế 2019 của Việt Nam thì “Thuế là một khoản nộp Ngân sách Nhà nước bắt buộc của tổ chức, hộ gia đình, hộ kinh doanh, cá nhân theo quy định của các luật thuế” (Khoản 1, Điều 3 Luật quản lý thuế số 38/2019/QH14). Thuế phản ánh các quá trình phân phối lại thu nhập trong xã hội, thể hiện các mối quan hệ tài chính giữa nhà nước và các chủ thể khác trong xã hội. Hiểu một cách chung nhất “Thuế là hình thức động viên bắt buộc của Nhà nước theo luật định nhằm tập trung một bộ phận thu nhập của các cá nhân và pháp nhân vào Ngân sách nhà nước để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cơ bản của nhà nước và phục vụ lợi ích cộng đồng” (Đỗ Đức Minh &cs, 2015).
Do đó, tại thời điểm nộp thuế, người nộp thuế không được hưởng bất kỳ một lợi ích nào mà xem như đó là trách nhiệm và nghĩa vụ đối với nhà nước. Thuế mang tính cưỡng chế và được thiết lập theo nguyên tắc luật định. Bằng quyền lực chính trị của mình, nhà nước đã ban hành các loại thuế để tạo lập nguồn thu cho Ngân sách nhà nước, các khoản thu này được bố trí sử dụng theo dự toán NSNN đã được phê duyệt cho tiêu dùng công cộng và đầu tư phát triển nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của nhà nước (Lê Kim Anh, 2010). Hộ kinh doanh 1.
Khái niệm hộ kinh doanh Kinh doanh cá thể hay còn được gọi là kinh doanh sở hữu độc quyền là một loại thực thể kinh doanh được sở hữu và điều hành bởi một người duy nhất, trong đó có sự phân biệt pháp lý rõ ràng giữa chủ sở hữu và đơn vị kinh doanh. Chủ sở hữu chịu trách nhiệm kiểm soát trực tiếp của tất cả các hoạt động của đơn vị kinh doanh và chịu trách nhiệm trước pháp luật về tài chính của đơn vị, trong đó bao gồm cả các khoản nợ, các khoản vay, … Chủ sở hữu của hình thức kinh doanh cá thể sẽ nhận được tất cả lợi nhuận kiếm được và có trách nhiệm không giới hạn đối với tất cả các khoản lỗ và nợ phát sinh trong quá trình hoạt động. Có nghĩa là, chủ đơn vị kinh doanh cá thể chịu trách nhiệm hoàn toàn với các khoản nợ, lỗ trong quá trình hoạt động và được hưởng toàn bộ lợi nhuận thu được từ công việc kinh doanh. Theo Nghị Định 01/2021/NĐ-CP của Chính phủ về đăng kí kinh doanh, khái niệm pháp lý về hộ kinh doanh (HKD) được sử dụng thống nhất hiện nay là: “HKD do một cá nhân là công dân Việt Nam hoặc một nhóm người hoặc một hộ gia đình làm chủ, chỉ được kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng không quá mười lao động, không có con dấu và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh” 1.
Đặc điểm hộ kinh doanh - Hộ kinh doanh là hình thức quy mô nhỏ, lẻ nhưng lại có phạm vi phân bố rộng khắp, hộ kinh doanh có thể hoạt động tại các địa bàn, khu vực vùng sâu, vùng xa, nơi điều kiện kinh tế, xã hội còn khó khăn và ngành nghề của hộ kinh doanh phụ 6 trách đôi khi là các lĩnh vực ngành nghề, chế biến và dịch vụ nhỏ, thô sơ; Chính nhờ tính chất hoạt động kinh doanh này mà hộ kinh doanh có lợi thế về linh hoạt, nhờ cấu trúc quy mô nhỏ nên hộ kinh doanh dễ dàng trong khả năng thay đổi mặt hàng kinh doanh, chuyển hướng kinh doanh và cả địa điểm kinh doanh để phù hợp với hoạt động sản xuất kinh doanh khi cần thiết. - Hộ kinh doanh chỉ được đăng ký kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng ít lao động (không quá 10 lao động). Quy mô kinh doanh và lợi nhuận thu được của hộ kinh doanh thường được giới hạn ở quy mô nhỏ, vừa và chủ yếu nhằm trang trải cho các nhu cầu tiêu dùng của hộ. - Hộ kinh doanh không có con dấu và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh.
- Hộ kinh doanh có thể chọn kinh doanh bất cứ ngành nghề, lĩnh vực nào phù hợp với điều kiện của từng hộ. - Hộ kinh doanh (bao gồm cả hộ hành nghề tư nhân) nếu có mức thu nhập dưới mức lương tối thiểu (do Chính phủ quy định) không phải đăng ký kinh doanh (trừ các ngành nghề kinh doanh có điều kiện) và chưa phải nộp thuế 1. Quản lý thuế đối với hộ kinh doanh 1. Khái niệm và nguyên tắc quản lý Quản lý thu thuế đối với hộ kinh doanh là quá trình thực thi các chức năng quản lý từ quản lý đăng ký thuế, kê khai thuế, nộp thuế, ấn định thuế, quản lý hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế, quản lý xóa nợ tiền thuế, tiền phạt, quản lý thông tin người nộp thuế, kiểm tra, thanh tra thuế, cưỡng chế thi hành các quyết định hành chính thuế, xử lý vi phạm luật thuế, và giải quyết khiếu nại tố cáo về thuế” (Nguyễn Thị Lệ Thủy, 2009).
Nguyên tắc quản lý thuế đối với hộ kinh doanh: - Việc quản lý thuế được thực hiện theo quy định của Luật quản lý thuế và các quy định khác của pháp luật có liên quan. - Việc quản lý thuế phải bảo đảm công khai, minh bạch, bình đẳng; bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người nộp thuế. Chủ thể của quản lý thuế là Nhà nước, bao gồm cơ quan lập pháp với vai trò là người nghiên cứu, xây dựng hệ thống pháp luật thuế; cơ quan hành pháp với tư 7 cách là người điều hành trực tiếp công tác thu và nộp thuế; hệ thống các cơ quan chuyên môn thu ngân sách Nhà nước (cơ quan thuế, cơ quan hải quan) giúp cho cơ quan hành pháp tổ chức thực hiện thu thuế. Đối tượng quản lý thuế là các tổ chức và cá nhân có nghĩa vụ nộp thuế vào NSNN (người nộp thuế), trong đó có các hộ kinh doanh.
Quản lý thuế được thực hiện chủ yếu bằng phương pháp hành chính, là sự thiết lập mối quan hệ giữa con người, giữa cơ quan thuế với các tổ chức, cá nhân trong xã hội; giữa cơ quan thuế các cấp với nhau và với các cơ quan Nhà nước khác, trong các quan hệ đó thì cơ quan Nhà nước cấp dưới phải phục tùng mệnh lệnh của cấp trên theo thứ bậc hành chính, đối tượng bị quản lý ( người nộp thuế) phải chấp hành mệnh lệnh của các cơ quan Nhà nước trong việc đảm bảo nguồn thu vào NSNN. Đồng thời, phương pháp hành chính trong quản lý thuế còn thuể hiện trong quy trình, thủ tục thu, nộp thuế, đó là trình tự các bước công việc phải tiến hành và các giấy tờ, tài liệu cần thiết ghi nhận việc thực hiện nghĩa vụ thuế của người nộp thuế. Do đó, hoàn thiện pháp luật về quản lý thuế có nghĩa rất quan trọng trong việc đảm bảo quy trình quản lý thuế rõ ràng, minh bạch, thủ tục thu, nộp thuế đơn giản. Các sắc thuế áp dụng đối với hộ kinh doanh 1) Lệ phí môn bài : Lệ phí môn bài là một loại thuế trực thu, được tính và thu vào đầu năm đối với các thể nhân, pháp nhân có hoạt động sản xuất kinh doanh.
Về thời gian tính và nộp phí môn bài: Tổ chức, cá nhân, nhóm cá nhân, hộ gia đình sản xuất, kinh doanh hoặc mới thành lập, được cấp đăng ký thuế và mã số thuế, mã số doanh nghiệp trong thời gian của 6 tháng đầu năm thì nộp mức lệ phí môn bài cả năm; nếu thành lập, được cấp đăng ký thuế và mã số thuế, mã số doanh nghiệp trong thời gian 6 tháng cuối năm thì nộp 50% mức lệ phí môn bài cả năm. Tổ chức, cá nhân, nhóm cá nhân, hộ gia đình sản xuất, kinh doanh nhưng không kê khai lệ phí môn bài thì phải nộp mức lệ phí môn bài cả năm, không phân biệt thời điểm phát hiện là của 6 tháng đầu năm hay 6 tháng cuối năm. Tổ chức, cá nhân, nhóm cá nhân, hộ gia đình đang sản xuất, kinh doanh và có thông báo gửi cơ quan thuế về việc tạm ngừng kinh doanh cả năm dương lịch thì không phải nộp lệ phí môn bài của năm tạm ngừng kinh doanh. Trường hợp tạm 8 ngừng kinh doanh không trọn năm dương lịch thì vẫn phải nộp mức lệ phí môn bài cả năm.
2) Thuế Giá trị gia tăng (GTGT): Thuế GTGT là loại thuế gián thu đánh vào phần giá trị tăng thêm của các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình sản xuất lưu thông đến tiêu dùng. Đối tượng nộp thuế GTGT là tất cả các HKD có hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT (Từ 30/7/2015 theo quy định tại Thông tư số 92/2015/TT-BTC ngày 15/6/2015 của Bộ Tài Chính thì HKD có doanh thu tính thuế 100 triệu đồng/năm trở xuống không phải nộp thuế giá trị gia tăng, không phải nộp thuế thu nhập cá nhân). 3) Thuế Thu nhập cá nhân: Thuế TNCN là loại thuế trực thu đánh vào thu nhập thực nhận được của các cá nhân trong một kỳ tính thuế nhất định thường một năm, từng tháng hoặc từng lần, không phân biệt nguồn gốc phát sinh thu nhập. Doanh thu tính thuế TNCN là doanh thu bao gồm thuế (trường hợp thuộc diện chịu thuế) của toàn bộ tiền bán hàng, tiền gia công, tiền hoa hồng, tiền cung ứng dịch vụ phát sinh trong kỳ tính thuế từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ.