Chương 1: CÁC VAN DE CƠ BAN VE HIỆU QUA SỬ DỤNG TÀI SAN NGAN HAN CUA DOANH NGHIEP 1.1 Khái quát về doanh nghiệp 1.1 Khái niệm và phân loại doanh nghiệp 1.1 Khái niệm Theo định nghĩa của Luật doanh nghiệp Việt Nam hiện hành, doanh nghiệp là tô chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ồn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh. Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi. Doanh nghiệp là một chủ thể kinh tế tiến hành các hoạt động kinh tế theo một kế hoạch nhất định nhằm mục đích kiếm lợi nhuận. Trên thực tế, doanh nghiệp được gọi nhiều bằng thuật ngữ khác nhau: doanh nghiệp, cửa hang, nhà máy, xí nghiệp, hãng, tô chức kinh doanh,.TS Vũ Duy Hào và ThS Tran Minh Tuần, giáo trình Tài chính doanh nghiệp, NXB Đại học kinh rễ quốc dân) 1.2 Phân loại doanh nghiệp “ Phân loại theo nguồn gốc tài sản dau tư vào doanh nghiệp Thông thường trong tài chính, tổ chức kinh doanh được chia ra làm ba dạng căn bản: doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp hợp danh, doanh nghiệp cô phần.
Ngoài 3 dang cơ bản, t6 chức kinh doanh trên thực tế cũng có những dạng cụ thé. Vi dụ như ở Việt Nam: chúng ta còn có các loại hình như doanh nghiệp trách nhiệm hữu hạn một thành viên thuộc sở hữu nhà nước, doanh nghiệp trách nhiệm hữu hạn một thành viên ngoài nhà nước, doanh nghiệp trách nhiệm hữu hạng hai thành viên trở lên,. Trên thực tế, doanh nghiệp tư nhân là loại hình kinh doanh chiếm số lượng lớn nhất. Tuy nhiên, các doanh nghiệp cô phan lại chiếm ưu thế về tỷ trọng hóa đơn kinh doanh cũng như tỷ trọng về lợi nhuận trong các loại hình doanh nghiệp.
Doanh nghiệp tư nhân: là một tô chức kinh doanh được sở hữu bởi một cá nhân hoặc một hộ gia đình hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận của chính bản thân người chủ 8 doanh nghiệp. Có khoảng 75% các tổ chức kinh doanh là các doanh nghiệp tư nhân, loại doanh nghiệp tư nhân phố biến nhất là các hộ kinh doanh nhỏ lẻ như một cửa hàng bán xe đạp, máy tinh, văn phòng pham,. Phan lớn các doanh nghiệp tư nhân được thành lập và hoạt động trong các ngành bán buôn, bán lẻ, dịch vụ và xây dụng. Đối với doanh nghiệp tư nhân, chủ doanh nghiệp tư nhân, chủ doanh nghiệp tư nhân và một số ít những nhân viên điều hành tổ chức kinh doanh.
Người chủ này thường sẽ tăng vốn bằng những nguồn cá nhân hoặc di vay cũng như chịu toàn bộ trách nhiệm quyết định kinh doanh. doanh nghiệp tư nhân có trách nhiệm vô hạn, toàn bộ tài sản của chủ doanh nghiệp có thể sử dụng để làm hài lòng các chủ nợ chứ không chỉ đơn thuần là khoản tiền đầu tư ban đầu. Doanh nghiệp hợp danh:Một doanh nghiệp hợp danh thường bao gồm hai hoặc nhiều hơn hai chủ sở hữu, cùng vận hành kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận. Doanh nghiệp hợp danh tren thế giới chiếm khoảng 10% các tổ chức kinh doanh và tất nhiên, các doanh nghiệp loại này cũng thường lớn hơn doanh nghiệp tư nhân.
Các doanh nghiệp hợp danh thường hoạt động trên lĩnh vực lĩnh vực tài chính, bảo hiểm và bất động sản. Những doanh nghiệp hợp danh có số chủ sở hữu lớn thường là các loại hình như doanh nghiệp kiểm toán, kế toán công hoặc các doanh nghiệp chứng khoán. Hầu hết các doanh nghiệp hợp danh đều được thành lập bằng một hợp đồng viết tay và được biết đến như là điều khoản cho việc hợp danh. Và trong điều khoản chung, các thành viên hợp danh phải có trách nhiệm vô hạn, tức là mỗi thành viên đều phải có trách nhiệm về mặt pháp lý cho tất cả các khoản nợ của doanh nghiệp.
Doanh nghiệp cổ phan: là một pháp nhân được tạo ra bởi luật pháp và thường được gọi là một thực thé pháp lý. Một doanh nghiệp cổ phan có những sức mạnh của mot cá nhân. Nó có thê kiện và bị kiện, tạo lập hoặc là một bên của hợp đồng và có thé có tài sản đứng tên của bản thân nó. Mặc dù chỉ khoảng 15% các hãng kinh doanh tổ chức dưới dạng doanh nghiệp cô phần, nhưng phần trăm về lợi nhuận và hóa đơn kinh doanh thì lại chiếm đa số, khoảng 90% số hóa đơn và 80% số lợi nhuận ròng.
Mặc dù các doanh nghiệp cô phan có liên quan đến tat cả các loại hình kinh doanh, nhưng thông thường các doanh nghiệp cổ phần sản xuất thường chiếm ty trọng lớn nhất về hóa đơn chứng từ và lợi nhuận. Chủ sở hữu của các doanh nghiệp cô phần chính là các cổ đông, người nắm giữ một phan vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp hay sở hữu những cô phiếu thường hoặc cô phiếu ưu tiên trong một số trường hợp. Thông thường, nắm giữ cô phiếu thường là dang cơ bản nhất của việc sở hữu doanh nghiệp. Và những cổ đông thường mong đợi lợi tức bằng việc nhận được cô tức ( phần chia lợi nhuận định kỳ) và bằng việc nhận được lãi khi giá cô phiếu tăng lên.
Trong một số trường hợp, những doanh nghiệp không có cổ đông nhưng lại có những thành viên nắm giữ cổ phiếu ưu tiên là những thành viên có thể có quyền bỏ phiếu và nhận cô tức giống như cô phiếu thường nhưng không sở hữu vốn chủ sở hữu doanh nghiệp. Hình thức phô biến của loại hình này là các loại quỹ hoặc ngân hàng tương hỗ đầu tư, các tô chức từ thiện,. Một số loại hình doanh nghiệp khác: Có rất nhiều loại hình doanh nghiệp khác tạo cho các chủ sở hữu những trách nhiệm giới hạn. Các loại hình doanh nghiệp này thường là các loại hình được pha trộn từ các loại hình doanh nghiệp mà chúng ta đã nghiên cứu và thường có quy mô không quá 100 chủ sở hữu.
Một số loại hình phổ biến là : doanh nghiệp trách nhiệm hữu hạn một hoặc hai thành viên trở lên, doanh nghiệp liên doanh,.TS Vũ Duy Hào và ThS Trần Minh Tuân, giáo trình Tài chính doanh nghiệp, NXB Đại học kinh rễ quốc dân) s* Phân loại theo lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp trong nên kinh tế Doanh nghiệp nông nghiệp: hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, sản xuất kinh doanh phụ thuộc nhiều vào điều kiện thời tiết tự nhiên Doanh nghiệp công nghiệp: tạo ra sản pham bang cach su dung may moc dé khai thác hoặc chế biến nguyên vật liệu thành thành phẩm. Trong công nghiệp chia ra: công nghiệp xây dựng, chế tạo, điện tử,. Doanh nghiệp thương mại: hướng vào việc khai thác dịch vụ trong khâu phân phối hàng cho người tiêu dùng, thực hiện dịch vụ mua vào bán ra, được tổ chức dưới hình thức bán sỉ, bán buôn, bán lẻ, hướng vào xuât nhập khâu. 10 Doanh nghiệp hoạt động dịch vụ: số lượng doanh nghiệp không ngừng phát triển nhanh chóng về mặt số lượng và doanh thu còn có tính đa dạng và phong phú của lĩnh vực này như ngân hang, tài chính, bảo hiểm, .2 Cac hoạt động cơ bản của doanh nghiệp Đề đạt được mức doanh lợi mong muốn, doanh nghiệp cần phải có những quyết định về tô chức hoạt động sản xuất và vận hành quá trình trao đổi.
Mọi quyết định đều phải gắn kết với môi trường xung quanh. Bao quanh doanh nghiệp là một môi trường kinh tế - xã hội phức tạp và luôn biến động.1 Hoạt động huy động vốn Vốn có vai trò quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp, bởi vốn là tiên đề của quá trình sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp. Vốn là toàn bộ số tiền ứng trước mà doanh nghiệp phải bỏ ra để đầu tư hình thành nên các tài sản cần thiết cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Trong doanh nghiệp vốn đều bao gồm 2 bộ phận: vốn chủ sở hữu và nợ, mỗi bộ phận này lại được cấu thành bởi nhiều khoản mục khác nhau với tính chất, kết cấu và quy mô thay đổi theo từng doanh nghiệp.
Nói cách khác việc lựa chọn nguồn huy động vốn trong các doanh nghiệp khác nhau sẽ không giống nhau, quyết định này phụ thuộc một trong các yếu tố sau: - Trang thái nền kinh tế. - Ngành kinh doanh hay lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp. - Quy mô và cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp. - Trinh độ khoa học — kỹ thuật và trình độ quan lý.
- _ Chiến lược phát triển và chiến lược đầu tư của doanh nghiệp. - Thai độ của chủ doanh nghiệp. - _ Chính sách thuế. Tùy theo loại hình doanh nghiệp và các đặc điểm cụ thể, mỗi doanh nghiệp có các cách thức huy động.
Xu hướng theo hiện nay, các công ty đều chuyển đổi mô hình sang công ty cô phần nên thường huy động vốn theo hình thức bán cô phần ra công chúng hoặc thông qua thi trường chứng khoán huy động vốn. Hình thức huy động vốn này chủ yếu hiện nay. Tuy nhiên không phải lúc nào huy động vốn từ thị trường chứng khoán cũng là 11 có lợi nhất cho doanh nghiệp, ngoài ra các kênh huy động vốn khác như vay từ ngân hàng, công ty đối tác hay liên kết kinh doanh các công ty có tiềm lực tài chính.2 Hoạt động sản xuất kinh doanh Họat động kinh doanh là hoạt động chủ yếu và xuyên suốt của các doanh nghiệp. Đây là hoạt động tạo ra sản phẩm, dịch vụ, của cải vật chất cho doanh nghiệp và xã hội.
(Nguôn > Phòng Kinh te kể hoạch ) Bước 1: Tìm kiếm các dự án đấu thầu. Đấu thầu là một quá tình chủ đầu tue lựa chọn được một nhà thầu đáp ứng các yêu cầu của mình theo quy định của luật pháp. Trong nền kinh tế thị trường mở như hiện nay, sự cạnh tranh càng trở nên gay gắt, việc tìm kiếm những dự án đấu thầu mang lại lợi nhuận cao không dễ dàng cho các chủ thầu. Mục tiêu của người mua là có được hàng háo va dịch vụ thoả mãn các yêu cầu của mình về kỹ thuật, chất lượng và chi phí thấp.
Mục đích của nhà thầu là giành được quyền cung cấp hàng hoá dịch vụ với giá bù đắp các chi phí đầu vào và đảm bảo lợi nhuận cao nhất. Tìm kiếm dự án đầu thầu là quan trọng hàng đầu của công ty và được thực hiện bởi phòng kinh tế kế hoạch.