Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam kéo theo nhu cầu chăm sóc sức khỏe của nhân dân ngày càng gia tăng. Cùng với việc mở rộng mạng lưới cơ sở y tế và nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, xu hướng sử dụng vật tư y tế tiêu hao dùng một lần đã làm khối lượng chất thải rắn y tế (CTRYT) phát sinh tăng trưởng nhanh chóng. Chất thải rắn y tế chứa nhiều thành phần nguy hại, đặc biệt là các mầm bệnh truyền nhiễm có nguy cơ lây lan cao, đe dọa trực tiếp đến môi trường đất, nước, không khí và sức khỏe cộng đồng nếu không được phân loại, thu gom, vận chuyển và xử lý đúng quy trình kỹ thuật.

Tại tỉnh Thái Nguyên, Bệnh viện Lao và Bệnh Phổi Thái Nguyên là cơ sở y tế chuyên khoa hạng II tiếp nhận điều trị các bệnh truyền nhiễm đường hô hấp có tính chất lây nhiễm phức tạp. Việc kiểm soát chất thải y tế tại nguồn và thiết lập quy trình quản lý an toàn sinh học đóng vai trò then chốt nhằm ngăn chặn sự phát tán vi khuẩn lao và các mầm bệnh nguy hiểm ra môi trường bên ngoài. Từ yêu cầu thực tiễn đó, đề tài "Đánh giá thực trạng công tác quản lý chất thải rắn y tế tại Bệnh viện Lao và Bệnh Phổi Thái Nguyên, đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý" được thực hiện.

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài được xác định cụ thể như sau:

  1. Mục tiêu chung: Đánh giá hiện trạng công tác quản lý chất thải rắn y tế tại Bệnh viện Lao và Bệnh Phổi Thái Nguyên; trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp khả thi nhằm nâng cao hiệu quả quản lý chất thải y tế và bảo vệ môi trường.
  2. Mục tiêu cụ thể:
    • Đánh giá thực trạng công tác quản lý và xử lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện.
    • Phân tích các nguyên nhân và hạn chế còn tồn tại trong quy trình thu gom, phân loại, lưu trữ, vận chuyển và xử lý rác thải.
    • Đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý chất thải rắn y tế phù hợp với điều kiện của bệnh viện.
    • Đánh giá mức độ nhận thức, hiểu biết của cán bộ nhân viên y tế, bệnh nhân và người nhà bệnh nhân về công tác quản lý chất thải y tế.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Toàn bộ chất thải rắn y tế phát sinh từ các hoạt động chuyên môn y tế và sinh hoạt thường nhật tại Bệnh viện Lao và Bệnh Phổi Thái Nguyên.
  • Phạm vi không gian: Khuôn viên Bệnh viện Lao và Bệnh Phổi Thái Nguyên (Tổ 16, Phường Tân Thịnh, Thành phố Thái Nguyên, Tỉnh Thái Nguyên; tổng diện tích 32.049 m²).
  • Phạm vi thời gian: Đề tài tiến hành thu thập số liệu và khảo sát thực địa từ tháng 01/2018 đến tháng 05/2018.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung pháp lý và cơ sở lý luận của khóa luận được xây dựng dựa trên hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và tiêu chuẩn môi trường hiện hành của Việt Nam:

  • Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 (được Quốc hội thông qua ngày 23/6/2014), quy định về bảo vệ môi trường trong các cơ sở y tế và bệnh viện.
  • Thông tư liên tịch số 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT ngày 31/12/2015 của Bộ Y tế và Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về quản lý chất thải y tế.
  • Quyết định số 43/2007/QĐ-BYT ngày 30/11/2007 của Bộ Y tế về việc ban hành Quy chế quản lý chất thải y tế.
  • Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT ngày 30/06/2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về quản lý chất thải nguy hại.
  • Quyết định số 2038/QĐ-TTg ngày 15/11/2011 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án tổng thể xử lý chất thải y tế giai đoạn 2011–2015 và định hướng đến năm 2020.
  • QCVN 02:2008/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khí thải lò đốt chất thải rắn y tế.
  • TC 3773/2002/QĐ-BYT – Tiêu chuẩn vệ sinh môi trường lao động.

Về mặt lý luận, tác giả hệ thống hóa các khái niệm chuyên ngành: Chất thải y tế (CTYT), Chất thải y tế nguy hại (CTYTNH), Rác y tế (RYT), Rác sinh hoạt y tế (RSHYT), cùng nguyên tắc mã hóa màu sắc bao bì phân loại (vàng cho rác lây nhiễm; đen cho rác nguy hại không lây nhiễm và phóng xạ; xanh cho rác sinh hoạt thông thường; trắng cho rác tái chế). Khóa luận cũng tổng quan các công nghệ xử lý CTRYT bao gồm: khử trùng (khử trùng hóa chất, nhiệt ướt áp suất cao, vi sóng/siêu cao tần), thiêu đốt nhiệt độ cao và chôn lấp hợp vệ sinh.

Phương pháp nghiên cứu thực tế được triển khai bao gồm:

  1. Phương pháp thu thập tài liệu, số liệu thứ cấp: Thu thập dữ liệu về tổ chức bộ máy, quy mô giường bệnh, cơ cấu nhân lực (206 cán bộ nhân viên năm 2018), mặt bằng tổng thể, các báo cáo môi trường và hợp đồng xử lý chất thải của bệnh viện qua các năm.
  2. Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa bằng bảng hỏi: Thiết kế phiếu điều tra xã hội học với dung lượng mẫu $n = 40$ phiếu. Mẫu được chọn ngẫu nhiên từ các nhóm đối tượng: cán bộ y tế, nhân viên vệ sinh, nhân viên thu gom - xử lý chất thải, bệnh nhân và người nhà bệnh nhân tại các khoa phòng. Nội dung tập trung vào nhận thức quy chế, thực trạng phân loại tại nguồn và hành vi xả rác.
  3. Phương pháp cân định lượng thực tế: Sử dụng cân đồng hồ định lượng 30 kg để đo khối lượng CTRYT phát sinh hàng ngày tại tất cả các khoa, phòng, bộ phận. Việc cân đo được thực hiện định kỳ 2 lần/ngày vào các khung giờ cố định (10:00 sáng và 15:00 chiều).
  4. Phương pháp xử lý và phân tích số liệu: Toàn bộ dữ liệu thứ cấp và số liệu đo đạc thực nghiệm được tổng hợp, phân loại, tính toán tỷ lệ phần trăm và lập bảng phân tích bằng phần mềm Microsoft Excel.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Trình bày tính cấp thiết của công tác quản lý CTRYT trong bối cảnh phát triển y tế hiện đại và đặc thù điều trị bệnh truyền nhiễm tại Bệnh viện Lao và Bệnh Phổi Thái Nguyên. Xác định rõ mục tiêu chung, 4 mục tiêu cụ thể, đối tượng, phạm vi cùng ý nghĩa lý luận và thực tiễn của công trình nghiên cứu.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

  • Cơ sở khoa học: Phân tích các khái niệm CTYT, CTYTNH; nguyên tắc phân loại theo Thông tư liên tịch 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT; nguồn gốc phát sinh, thành phần vật lý và hóa học của chất thải; tổng hợp các kỹ thuật xử lý (khử trùng, chôn lấp, thiêu đốt) và hệ thống văn bản pháp lý.
  • Tác động môi trường và sức khỏe: Đánh giá tác động tiêu cực của CTRYT đến môi trường đất, nước mặt, nước ngầm và không khí; phân tích nguy cơ lây truyền mầm bệnh (HIV, viêm gan B, C, vi khuẩn kháng thuốc) đối với nhân viên y tế, bệnh nhân, nhân viên thu gom và cộng đồng.
  • Thực trạng trong nước và quốc tế: Tổng hợp số liệu phát sinh CTRYT tại một số quốc gia châu Á (Bangladesh, Bhutan, Trung Quốc, Malaysia, Nepal, Pakistan, Sri Lanka) và các tuyến bệnh viện trên thế giới. Trình bày hiện trạng phát sinh toàn quốc giai đoạn 2009–2010 (100–140 tấn/ngày, CTYTNH chiếm 16–30 tấn/ngày, lượng trung bình 0,86 kg/giường/ngày) và tổng quan áp lực quản lý chất thải y tế tại tỉnh Thái Nguyên.

Phần 3: Đối tượng, phạm vi, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Xác lập chi tiết đối tượng nghiên cứu (CTRYT), phạm vi không gian (khuôn viên bệnh viện) và thời gian thực hiện (01/2018 – 05/2018). Quy định các nội dung nghiên cứu trọng tâm và trình bày chi tiết quy trình áp dụng các phương pháp: thu thập dữ liệu thứ cấp, điều tra xã hội học ($n = 40$), cân định lượng CTRYT theo ca (10:00 và 15:00) và kỹ thuật phân tích số liệu trên Excel.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

  • Tổng quan cơ sở nghiên cứu: Bệnh viện Lao và Bệnh Phổi Thái Nguyên có diện tích 32.049 m², quy mô 170 giường bệnh, gồm 4 phòng chức năng, 5 khoa lâm sàng, 6 khoa cận lâm sàng và 1 Trạm chống lao. Tổng số nhân lực năm 2018 là 206 cán bộ (4 BSCKII, 1 Thạc sĩ, 21 BSCKI, 16 Bác sĩ, 3 Dược sĩ ĐH, 11 ĐH khác, 18 Y tá/ĐD ĐH, 6 Y sĩ, 10 Kỹ thuật viên, 7 Dược sĩ TH, 59 Y tá/ĐD TH, 2 TH khác, 11 Cán bộ khác và 15 Hợp đồng).
  • Thực trạng phát sinh và thành phần:
    • Nguồn phát sinh phân bố tại phòng khám, phòng bệnh nhân, phòng mổ, phòng xét nghiệm, khoa dược và khu hành chính.
    • Tổng hợp thành phần năm 2017: Chất thải thông thường chiếm 74,10% (18.100 kg), chất thải lây nhiễm chiếm 17,78% (4.780 kg), chất thải nguy hại không lây nhiễm chiếm 2,96% (730 kg) và chất thải tái chế chiếm 5,16% (1.160 kg).
    • Khối lượng phát sinh trung bình ngày tại các khoa phòng: Khoa Dược - Kiểm soát nhiễm khuẩn phát sinh chất thải lây nhiễm cao nhất (6,1 kg/ngày; 16,67%), Khoa Nội 4 (4,6 kg/ngày; 12,57%), Khoa Nội 3 (3,7 kg/ngày; 10,11%), Khoa Nội 1 (3,5 kg/ngày; 9,56%), Khoa Nội 2 (3,4 kg/ngày; 9,29%), Khoa Khám bệnh (3,1 kg/ngày; 8,47%), Khoa Xét nghiệm & CĐHA (2,6 kg/ngày; 7,10%), Khoa Cấp cứu (2,4 kg/ngày; 6,56%), các phòng hành chính dao động từ 1,2 đến 1,5 kg/ngày.
  • Thực trạng các khâu quản lý kỹ thuật:
    • Phân loại: Tuân thủ quy định màu túi và thùng chứa (xanh, vàng, đen, trắng); bố trí hộp nhựa kháng thủng màu vàng chứa vật sắc nhọn trên xe tiêm, xe thủ thuật.
    • Thu gom: Tần suất thu gom định kỳ 2 lần/ngày.
    • Phương tiện, dụng cụ: Trang bị 40 thùng đựng rác, 10 xe đẩy (4 xe rác sinh hoạt, 3 xe thu gom khoa phòng), 15 xẻng/cuốc, 20 chổi và 20 hót rác. Khâu vận chuyển từ một số khoa phòng về nơi tập kết vẫn thực hiện thủ công bằng tay.
    • Xử lý cuối cùng: Ký hợp đồng chuyển giao toàn bộ ra ngoài cơ sở. Rác sinh hoạt (bình quân 5.400 kg/tháng, chiếm 57,13% tổng lượng rác hàng tháng) bàn giao cho Công ty Cổ phần Môi trường và Công trình Đô thị Thái Nguyên. Rác lây nhiễm bàn giao cho Công ty Dịch vụ Môi trường Anh Đăng (huyện Phú Bình) vận chuyển và tiêu hủy.
  • Đề xuất giải pháp: Xây dựng hệ thống 4 nhóm giải pháp: nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất, phương tiện và cân đối kinh phí; chuẩn hóa quy trình phân loại - thu gom - vận chuyển - lưu trữ; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã định lượng hóa bức tranh phát sinh và quản lý chất thải rắn y tế tại Bệnh viện Lao và Bệnh Phổi Thái Nguyên thông qua các bảng dữ liệu đo đạc thực tế:

Nhóm chất thải Thành phần đặc trưng Khối lượng năm 2017 (kg) Tỷ lệ (%)
Chất thải thông thường Giấy vụn, thức ăn thừa, bao bì, rác quét dọn khuôn viên 18.100 74,10
Chất thải lây nhiễm Bông băng dính dịch, gạc máu, lam kính, bơm kim tiêm, bệnh phẩm 4.780 17,78
Chất thải nguy hại không lây nhiễm Dung môi hóa chất, dược phẩm quá hạn, bóng đèn huỳnh quang, pin/ắc quy 730 2,96
Chất thải tái chế Giấy, báo, chai lọ nhựa không chứa thành phần nguy hại 1.160 5,16
Tổng cộng 24.770 100,00

Bảng: Thành phần chất thải rắn y tế tại Bệnh viện Lao và Bệnh Phổi Thái Nguyên năm 2017

STT Khoa / Phòng CT lây nhiễm (kg/ngày) Tỷ lệ CT lây nhiễm (%) CT tái chế (kg/ngày) CT thông thường (kg/ngày) Tỷ lệ CT thông thường (%)
1 Khoa Nội 1 3,5 9,56 1,9 21,1 13,13
2 Khoa Nội 2 3,4 9,29 1,6 19,5 12,13
3 Khoa Nội 3 3,7 10,11 1,5 17,7 11,01
4 Khoa Nội 4 4,6 12,57 2,3 21,5 13,38
5 Khoa Cấp cứu 2,4 6,56 1,7 22,3 13,89
6 Khoa Khám bệnh 3,1 8,47 0,0 19,1 11,89
7 Khoa Xét nghiệm & CĐHA 2,6 7,10 0,0 4,6 2,86
8 Khoa Dược - KSNK 6,1 16,67 1,6 11,4 7,09
9 Phòng Hành chính 1,5 4,09 0,0 2,5 1,56
10 Phòng Tài chính kế toán 1,2 3,29 0,0 3,0 1,87
11 Phòng Kế hoạch tổng hợp 1,3 3,55 0,0 4,0 2,49
12 Phòng Điều dưỡng 3,2 8,74 0,0 3,0 1,87

Bảng: Khối lượng CTRYT phát sinh trong một ngày tại các khoa, phòng bệnh viện

Hệ thống giải pháp và kiến nghị do tác giả đề xuất:

  • Về nhân lực: Tổ chức các lớp đào tạo, tập huấn định kỳ về thực hành phân loại chất thải theo Thông tư liên tịch 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT cho điều dưỡng, y tá và hộ lý; nâng cao nghiệp vụ bảo hộ lao động cho nhân viên vệ sinh.
  • Về cơ sở vật chất: Đầu tư thay mới hệ thống xe đẩy rác chuyên dụng (thành kín, nắp đậy, đáy kín chống rò rỉ nước rác); bổ sung thùng chứa và túi nylon màu trắng phục vụ thu hồi rác tái chế; thay đổi dung tích hộp đựng vật sắc nhọn phù hợp với lượng phát sinh từng phòng để giảm thời gian lưu giữ; nâng cấp nhà lưu giữ rác đảm bảo cửa khóa kín, có lưới chắn côn trùng, động vật và phương tiện vệ sinh tay.
  • Về kỹ thuật vận hành: Quán triệt nguyên tắc buộc chặt túi khi rác đạt mức 3/4 thể tích; thiết lập cung đường vận chuyển nội bộ riêng biệt, tránh đi qua khu vực tập trung đông bệnh nhân; tăng cường kiểm tra chéo giữa các khoa phòng và xử lý nghiêm các trường hợp để lẫn rác nguy hại vào rác sinh hoạt.
  • Về truyền thông: Đặt pano, áp phích hướng dẫn tại buồng bệnh, khu vực chờ khám; sử dụng hệ thống truyền thanh nội bộ để tuyên truyền nâng cao ý thức cho người nhà bệnh nhân.

Đóng góp của khóa luận thể hiện ở việc cung cấp bộ cơ sở dữ liệu định lượng cụ thể về hệ số phát sinh CTRYT tại một bệnh viện chuyên khoa truyền nhiễm tuyến tỉnh quy mô 170 giường. Khóa luận đã phản ánh đúng thực trạng chuỗi quản lý chất thải y tế tại địa phương, làm rõ những điểm bất cập (khâu vận chuyển thủ công, việc phân loại rác tái chế chưa triệt để) và đưa ra các đề xuất cải thiện bám sát hướng dẫn pháp lý của Bộ Y tế và Bộ Tài nguyên và Môi trường.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận phản ánh một số giới hạn thực tế gắn liền với phạm vi và điều kiện nghiên cứu:

  • Hạn chế: Nghiên cứu được thực hiện trong khoảng thời gian 5 tháng (01/2018 – 05/2018) với dung lượng mẫu điều tra xã hội học còn khiêm tốn ($n = 40$ phiếu), tập trung chủ yếu vào chất thải rắn y tế phát sinh nội viện. Khóa luận chưa mở rộng đánh giá hiệu quả vận hành của trạm xử lý nước thải y tế cũng như các chỉ tiêu quan trắc khí thải phát sinh tại điểm xử lý tập trung bên ngoài.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng phạm vi đánh giá tích hợp cả 3 dòng thải: chất thải rắn, nước thải y tế và khí thải y tế tại bệnh viện.
    • Tăng quy mô mẫu điều tra xã hội học để phân tích sâu hơn các yếu tố tâm lý, hành vi của bệnh nhân điều trị nội trú đối với công tác phân loại rác.
    • Nghiên cứu, đánh giá vòng đời và tác động môi trường của quy trình xử lý rác lây nhiễm tại đơn vị tiếp nhận bên ngoài (Công ty Dịch vụ Môi trường Anh Đăng).

Giá trị tham khảo

Công trình nghiên cứu có giá trị tham khảo thực tiễn và học thuật cho các nhóm đối tượng sau:

  • Sinh viên, học viên chuyên ngành Môi trường và Y tế công cộng: Là tài liệu tham khảo bổ ích về phương pháp tiếp cận điều tra thực địa, phương pháp cân đo định lượng CTRYT theo khung giờ và quy trình thiết kế bảng hỏi đánh giá quản lý chất thải tại cơ sở y tế.
  • Cán bộ quản lý môi trường và mạng lưới Kiểm soát nhiễm khuẩn tại các bệnh viện: Cung cấp mô hình tham chiếu về phân bổ định mức phát sinh rác thải lây nhiễm, rác sinh hoạt theo từng khoa/phòng chuyên biệt (lâm sàng, cận lâm sàng, dược, hành chính) để xây dựng kế hoạch mua sắm vật tư tiêu hao (túi, thùng, hộp an toàn) sát với nhu cầu thực tế.
  • Nhà quản lý y tế tuyến tỉnh, huyện: Cung cấp luận cứ thực tiễn về những khó khăn chung trong việc vận hành công nghệ xử lý tại chỗ, hỗ trợ định hướng xây dựng mô hình thu gom, xử lý chất thải y tế cụm hoặc thuê xử lý tập trung ngoài cơ sở.

Câu hỏi thường gặp

1. Bệnh viện Lao và Bệnh Phổi Thái Nguyên có quy mô và cơ cấu tổ chức như thế nào tại thời điểm nghiên cứu năm 2018?
Bệnh viện là cơ sở chuyên khoa truyền nhiễm hạng II của tỉnh Thái Nguyên, nằm trên khu đất diện tích 32.049 m² tại phường Tân Thịnh, quy mô 170 giường bệnh. Cơ cấu tổ chức gồm 4 phòng chức năng, 5 khoa lâm sàng, 6 khoa cận lâm sàng, 1 Trạm chống lao tỉnh và tổng số nhân lực là 206 cán bộ nhân viên.

2. Thành phần chất thải rắn y tế tại bệnh viện gồm những nhóm nào và nhóm nào chiếm tỷ trọng lớn nhất?
Chất thải rắn tại bệnh viện được phân thành 4 nhóm chính: chất thải thông thường (chiếm 74,10%), chất thải lây nhiễm (chiếm 17,78%), chất thải nguy hại không lây nhiễm (chiếm 2,96%) và chất thải tái chế (chiếm 5,16%). Chất thải sinh hoạt thông thường chiếm tỷ trọng lớn nhất do lượng người nhà và khách đến thăm bệnh nhân đông.

3. Khối lượng chất thải lây nhiễm phát sinh nhiều nhất tại những khoa, phòng nào?
Khoa Dược - Kiểm soát nhiễm khuẩn có khối lượng phát sinh chất thải lây nhiễm cao nhất bệnh viện với 6,1 kg/ngày (chiếm 16,67% tổng lượng rác lây nhiễm), tiếp theo là Khoa Nội 4 với 4,6 kg/ngày (12,57%), Khoa Nội 3 với 3,7 kg/ngày (10,11%) và Khoa Nội 1 với 3,5 kg/ngày (9,56%).

4. Bệnh viện áp dụng quy định màu sắc thùng và túi chứa rác như thế nào?
Bệnh viện thực hiện phân loại theo Thông tư liên tịch số 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT: màu vàng dùng cho chất thải lây nhiễm (bao gồm túi cho rác không sắc nhọn và hộp nhựa kháng thủng có biểu tượng sinh học cho rác sắc nhọn); màu đen dùng cho chất thải hóa học, phóng xạ; màu xanh dùng cho chất thải sinh hoạt thông thường; màu trắng dùng cho chất thải tái chế.

5. Đơn vị nào chịu trách nhiệm thu gom và xử lý cuối cùng các loại chất thải rắn của bệnh viện?
Bệnh viện ký hợp đồng chuyển giao xử lý với 2 đơn vị dịch vụ môi trường độc lập: chất thải sinh hoạt thông thường (khoảng 5.400 kg/tháng) do Công ty Cổ phần Môi trường và Công trình Đô thị Thái Nguyên thu gom, xử lý; chất thải rắn lây nhiễm nguy hại do Công ty Dịch vụ Môi trường Anh Đăng (huyện Phú Bình) vận chuyển và tiêu hủy theo quy trình kỹ thuật.


Kết luận

Khóa luận đã phản ánh toàn diện thực trạng công tác quản lý chất thải rắn y tế tại Bệnh viện Lao và Bệnh Phổi Thái Nguyên năm 2018, chỉ rõ các đặc trưng phát sinh và tỷ lệ thành phần rác thải theo từng khoa phòng chuyên môn. Kết quả nghiên cứu khẳng định bệnh viện đã tuân thủ cơ bản các quy định về mã màu phân loại theo Thông tư liên tịch 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT và ký hợp đồng chuyển giao xử lý an toàn với các đơn vị môi trường chuyên trách. Các giải pháp đề xuất về nâng cấp phương tiện thu gom kín, tăng cường phân loại rác tái chế và đào tạo nhận thức nhân viên y tế mang tính thực tế cao, đóng góp thiết thực cho công tác bảo vệ môi trường y tế tại địa phương.