Tổng quan nghiên cứu

Tài nguyên nước mặt của Việt Nam sở hữu tổng lượng dòng chảy hàng năm đạt khoảng 830 đến 840 tỷ m3, tuy nhiên gần 65% tổng lượng nước lại phụ thuộc vào các lưu vực bắt nguồn từ ngoài biên giới. Đi liền với tiến trình đô thị hóa nhanh chóng, thành phố Cao Bằng đang đối mặt với sức ép rất lớn về vệ sinh môi trường khi tổng lượng nước thải sinh hoạt đô thị toàn tỉnh ước tính khoảng 9.209 m3/ngày đêm. Thực trạng hạ tầng kỹ thuật còn nhiều hạn chế khiến phần lớn lượng nước thải từ khu dân cư, chợ dân sinh và các cơ sở dịch vụ hầu như không qua hệ thống xử lý đạt chuẩn mà xả thẳng ra nguồn tiếp nhận chính là sông Bằng Giang và sông Hiến, kéo theo sự suy giảm chất lượng nước mặt lẫn nước dưới đất.

Xuất phát từ yêu cầu cấp bách trên, đề tài tập trung khảo sát hiện trạng xả thải, kiểm định các thông số ô nhiễm và nhận diện áp lực môi trường từ nước thải sinh hoạt đô thị. Phạm vi không gian nghiên cứu được tiến hành trọng điểm tại 5 phường trung tâm gồm Hợp Giang, Tân Giang, Sông Hiến, Sông Bằng và Đề Thám thuộc thành phố Cao Bằng, trong khung thời gian từ tháng 6 năm 2017 đến tháng 6 năm 2018 kết hợp chuỗi dữ liệu thứ cấp 5 năm gần nhất. Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc, cung cấp cơ sở dữ liệu quan trắc tin cậy nhằm định hướng giải pháp kỹ thuật có khả năng giảm thiểu từ 70% đến 85% tải lượng chất ô nhiễm hữu cơ, phục vụ chiến lược quy hoạch môi trường và phát triển bền vững của địa phương đến năm 2025.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết cân bằng vật chất và cơ chế tự làm sạch của thủy vực tiếp nhận, kết hợp mô hình phân hủy sinh học hiếu khí và kỵ khí các hợp chất hữu cơ theo Metcalf và Eddy (1991). Luận văn tiếp cận mô hình quản trị nước thải phân tán tại nguồn (Decentralized Wastewater Management), một định hướng kỹ thuật phù hợp với đặc thù đô thị miền núi có địa hình đồi dốc chia cắt mạnh. Ba khái niệm nền tảng được làm rõ gồm: Nước thải sinh hoạt theo quy định tại Luật Bảo vệ môi trường năm 2014; Nhu cầu oxy sinh hóa (BOD5) phản ánh mức tiêu hao oxy để vi sinh vật oxy hóa chất hữu cơ dễ phân hủy; và Tổng chất rắn lơ lửng (TSS) đại diện cho phần hạt cặn không tan gây đục dòng nước.

Về thành phần lý hóa, nước thải sinh hoạt đô thị chứa khoảng 50% đến 60% hợp chất hữu cơ (protein chiếm 40% đến 60%, hydrat cacbon chiếm 25% đến 50%, chất béo chiếm 10%), với hàm lượng chất hữu cơ khô dao động từ 150 đến 400 mg/L. Theo nguyên lý sinh thái học môi trường, tỷ lệ dinh dưỡng tối ưu cho quá trình xử lý sinh học hiếu khí là BOD5:N:P = 100:5:1. Tuy nhiên, tỷ lệ thực tế trong nước thải đô thị chưa qua xử lý thường ở mức 100:7:5, dẫn đến sự dư thừa các hợp chất nitơ và photpho, làm bùng phát hiện tượng phú dưỡng hóa khi xả trực tiếp vào nguồn nước tự nhiên.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được tổng hợp đồng bộ từ dữ liệu thứ cấp của Trung tâm Quan trắc Tài nguyên và Môi trường tỉnh Cao Bằng, Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố giai đoạn 2013 - 2017, kết hợp nguồn dữ liệu sơ cấp qua khảo sát thực địa. Cỡ mẫu nghiên cứu gồm 12 mẫu nước thải độc lập, được thu thập tại 6 vị trí cống xả đại diện trên địa bàn 5 phường trung tâm: cống chân cầu Sông Hiến, cống khu dân cư Tân An, cống gần chợ km5 Đề Thám, cống phía cuối chợ Xanh Hợp Giang, cống chân cầu Hoàng Ngà và cống khu dân cư làng Gia Cung thuộc Ngọc Xuân.

Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu theo không gian phân tầng kết hợp thời điểm điển hình, chia làm 2 đợt quan trắc gồm đợt mùa khô ngày 30 tháng 3 năm 2018 và đợt mùa mưa ngày 18 tháng 6 năm 2018. Các thông số phân tích trong phòng thí nghiệm bao gồm: pH, DO, BOD5, COD, TSS, Amoni (NH4+), Phosphat (PO43-), Clorua và Coliform. Lý do lựa chọn các chỉ tiêu này nhằm đối chiếu trực tiếp với Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 14:2008/BTNMT về nước thải sinh hoạt và QCVN 08-MT:2015/BTNMT về chất lượng nước mặt. Đây là những thông số nhạy cảm nhất phản ánh mức độ ô nhiễm hữu cơ và vi sinh. Toàn bộ quá trình thu mẫu, phân tích, phỏng vấn xã hội học người dân và xử lý số liệu được triển khai chặt chẽ trong vòng 12 tháng, từ tháng 6 năm 2017 đến tháng 6 năm 2018.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, mức độ ô nhiễm chất hữu cơ trong dòng thải sinh hoạt tại khu vực trung tâm vượt xa giới hạn cho phép. Thông số BOD5 tại 6 điểm quan trắc dao động từ 110 mg/L đến trên 250 mg/L, vượt từ 2,2 đến 5 lần so với ngưỡng quy định tại QCVN 14:2008/BTNMT cột B (mức giới hạn 50 mg/L). Điểm cống xả tại chợ Xanh thuộc phường Hợp Giang và cống chợ Đề Thám ghi nhận nồng độ hữu cơ cao nhất do tập trung lượng lớn nước thải dịch vụ buôn bán thực phẩm.

Thứ hai, hàm lượng tổng chất rắn lơ lửng (TSS) và amoni ghi nhận mức tích tụ đáng lo ngại. Nồng độ TSS đo được dao động từ 150 mg/L đến 320 mg/L, vượt từ 1,5 đến 3,2 lần ngưỡng tiêu chuẩn cho phép (100 mg/L). Cùng với đó, chỉ tiêu amoni tự do vượt từ 1,8 đến 3,5 lần mức quy chuẩn, làm phát sinh khí độc và gây mùi xú uế nồng nặc quanh khu vực cống hở.

Thứ ba, chỉ số vi sinh vật Coliform vượt ngưỡng nghiêm trọng tại 100% các điểm lấy mẫu. Mật độ Coliform đạt từ 10^6 đến 10^8 MPN/100ml, vượt quy chuẩn kỹ thuật từ 200 đến 1.000 lần so với giới hạn 5.000 MPN/100ml.

Thứ tư, nghiên cứu phát hiện sự phân hóa rõ rệt theo chu kỳ thời tiết: nồng độ các chất ô nhiễm trong mùa khô (tháng 3 năm 2018) cao hơn mùa mưa (tháng 6 năm 2018) từ 30% đến 45%. Nguyên nhân do lượng mưa mùa hè giúp pha loãng nồng độ chất thải, trong khi dòng chảy sông tự nhiên vào mùa khô sụt giảm từ 65% đến 80%, làm tê liệt khả năng tự làm sạch của nguồn tiếp nhận.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản dẫn đến hiện trạng trên là do hầu hết các hộ gia đình chỉ xử lý nước thải cục bộ qua bể tự hoại 1 hoặc 2 ngăn xây dựng từ lâu đời. Khảo sát thực tế cho thấy các bể này thiếu ngăn lọc kỵ khí bổ trợ, hiệu suất phân hủy chất hữu cơ chỉ đạt khoảng 30% đến 40%. Nước thải sau lắng sơ sài mang theo lượng lớn BOD5, nitơ và vi khuẩn hòa thẳng vào mương thoát nước chung.

So sánh với các nghiên cứu tại các đô thị miền núi phía Bắc như Thái Nguyên hay Lạng Sơn, hiện tượng vượt chuẩn amoni và BOD5 tại thành phố Cao Bằng có tính chất tương đồng với hiện trạng suy thoái nước mặt sông Cầu và sông Thương, nơi nồng độ amoni thường xuyên vượt từ 1,5 đến 2 lần chuẩn A. Để phục vụ công tác quản lý trực quan, chuỗi dữ liệu này có thể được trình bày thông qua biểu đồ cột kép so sánh chỉ số BOD5 và TSS giữa hai mùa tại từng điểm xả, kết hợp bảng ma trận đối chiếu tỷ lệ phần trăm vượt chuẩn theo QCVN 14:2008/BTNMT. Cách thể hiện này giúp làm nổi bật điểm nóng ô nhiễm tại cống chợ Xanh và cống cầu Hoàng Ngà, hỗ trợ cơ quan chuyên môn xác định thứ tự ưu tiên đầu tư hạ tầng xử lý.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, cải tạo và xây dựng mạng lưới thu gom nước thải phân tán. Ứng dụng linh hoạt 4 sơ đồ thu gom kỹ thuật gồm: sơ đồ cống trước nhà kiểu K1, cống sau nhà kiểu K2, cống sau nhà có bơm hỗ trợ kiểu K3 và hố ga tách dòng kiểu K4. Mục tiêu đặt ra là tách riêng 70% lượng nước thải sinh hoạt khỏi hệ thống thoát nước mưa tại 5 phường trung tâm trong giai đoạn 2018 - 2022. Chủ thể thực hiện: Ủy ban nhân dân thành phố Cao Bằng chủ trì, phối hợp với Công ty Cổ phần Môi trường Đô thị Cao Bằng.

Thứ hai, đầu tư xây dựng trạm xử lý nước thải tập trung đô thị. Triển khai dự án nhà máy xử lý nước thải thành phố Cao Bằng với công suất thiết kế đạt 10.000 m3/ngày đêm, ứng dụng công nghệ sinh học hiếu khí bùn hoạt tính (Aerotank) kết hợp hồ sinh học tùy tiện. Mục tiêu loại bỏ 85% tải lượng BOD5 và 90% TSS trước khi xả ra lưu vực sông Bằng Giang, hoàn thành đưa vào vận hành trước năm 2025. Chủ thể thực hiện: Sở Xây dựng phối hợp với Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng các công trình dân dụng tỉnh.

Thứ ba, quy chuẩn hóa công trình xử lý nước thải tại nguồn của hộ dân cư. Ban hành quy định bắt buộc 100% công trình nhà ở xây mới phải lắp đặt bể tự hoại cải tiến có ngăn lọc kỵ khí (BASTAF), đồng thời hỗ trợ kỹ thuật giúp 50% số hộ gia đình cải tạo bể tự hoại cũ trước năm 2023. Chủ thể thực hiện: Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố phối hợp cùng Ủy ban nhân dân 5 phường.

Thứ tư, siết chặt cơ chế tài chính và giám sát xả thải. Triển khai thu đúng và đủ phí bảo vệ môi trường đối với nước thải theo Nghị định số 25/2013/NĐ-CP, đồng thời thiết lập chế độ quan trắc định kỳ 3 tháng/lần tại 6 cửa xả lớn nhằm phát hiện kịp thời các vi phạm xả thải vượt chuẩn. Chủ thể thực hiện: Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Cao Bằng.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm cơ quan quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường: Điển hình là Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Cao Bằng và Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố Cao Bằng. Luận văn cung cấp số liệu thực chứng về 9.209 m3 nước thải sinh hoạt mỗi ngày, hỗ trợ công tác quy hoạch lưu vực sông và xây dựng kế hoạch kiểm soát ô nhiễm nước đô thị.

Nhóm kỹ sư thiết kế hạ tầng và kỹ thuật môi trường: Đội ngũ kỹ sư xây dựng đô thị có thể ứng dụng trực tiếp 4 sơ đồ thu gom thoát nước (kiểu K1 đến K4) cùng các thông số tính toán tải lượng ô nhiễm để thiết kế mạng lưới thoát nước riêng cho các đô thị miền núi có độ dốc cao.

Nhóm giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Khoa học môi trường: Công trình là tài liệu học thuật giá trị về quy trình quan trắc hiện trường 12 mẫu tại 6 điểm chuẩn mực, phương pháp đánh giá định lượng theo QCVN 14:2008/BTNMT kết hợp công cụ điều tra xã hội học trong nghiên cứu môi trường.

Nhóm các tổ chức xã hội và cộng đồng dân cư đô thị: Tài liệu giúp nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo vệ nguồn nước sông Bằng Giang và sông Hiến, đồng thời hướng dẫn người dân kỹ thuật vận hành và cải tạo bể tự hoại gia đình nhằm nâng cao hiệu quả làm sạch dòng thải sinh hoạt tại chỗ.

Câu hỏi thường gặp

Nguồn tiếp nhận chính của dòng nước thải sinh hoạt tại khu vực trung tâm thành phố Cao Bằng là những thủy vực nào?

Dòng nước thải sinh hoạt chưa qua xử lý tại 5 phường trung tâm thành phố Cao Bằng hiện đang xả trực tiếp vào hai nguồn tiếp nhận chính là sông Bằng Giang và sông Hiến, cùng một số hồ thủy vực nội đô. Tổng lưu lượng xả thải sinh hoạt toàn tỉnh đạt khoảng 9.209 m3/ngày đêm, đe dọa trực tiếp đến chất lượng nguồn nước cấp hạ lưu.

Những chỉ tiêu ô nhiễm nào trong nước thải sinh hoạt đô thị Cao Bằng ghi nhận mức vượt ngưỡng quy chuẩn cao nhất?

Qua kết quả kiểm nghiệm 12 mẫu nước thải, hai chỉ số ghi nhận mức ô nhiễm nghiêm trọng nhất là BOD5 và Coliform theo chuẩn QCVN 14:2008/BTNMT cột B. Cụ thể, thông số BOD5 dao động từ 110 đến trên 250 mg/L, vượt từ 2,2 đến 5 lần ngưỡng an toàn; trong khi vi khuẩn Coliform đạt tới 10^8 MPN/100ml, vượt quy chuẩn từ 200 đến 1.000 lần.

Sự suy giảm chất lượng nước thải sinh hoạt giữa mùa khô và mùa mưa có mức chênh lệch như thế nào?

Kết quả quan trắc chứng minh nồng độ ô nhiễm hữu cơ và chất rắn lơ lửng mùa khô tháng 3 năm 2018 đậm đặc hơn mùa mưa từ 30% đến 45%. Nguyên nhân chủ yếu do vào mùa cạn, lưu lượng dòng chảy tự nhiên của hệ thống sông suối sụt giảm từ 65% đến 80%, làm suy giảm mạnh mẽ khả năng pha loãng tự nhiên.

Vì sao hệ thống bể tự hoại tại các hộ gia đình thành phố Cao Bằng chưa giải quyết triệt để bài toán ô nhiễm nước thải?

Đa số hộ dân tại 5 phường trung tâm hiện chỉ sử dụng bể tự hoại 1 hoặc 2 ngăn xây dựng từ nhiều năm trước, thiếu hoàn toàn ngăn lọc sinh học bổ trợ. Hiệu suất phân hủy chất hữu cơ của các công trình này chỉ đạt khoảng 30% đến 40%, khiến lượng lớn chất ô nhiễm và vi sinh vật gây bệnh xả thẳng ra nguồn nước.

Mô hình kỹ thuật thu gom và xử lý nước thải nào được đánh giá là tối ưu nhất cho địa hình đô thị miền núi Cao Bằng?

Nghiên cứu khẳng định việc áp dụng linh hoạt 4 sơ đồ thu gom phân tán kết hợp trạm xử lý sinh học hiếu khí Aerotank công suất 10.000 m3/ngày đêm là giải pháp tối ưu nhất. Phương án này phù hợp địa hình đồi dốc, giúp tiết kiệm 40% chi phí xây dựng hệ thống cống ngầm và loại bỏ trên 85% tải lượng chất ô nhiễm hữu cơ.

Kết luận

  • Hiện trạng xả thải: Lưu lượng nước thải sinh hoạt đô thị toàn tỉnh ước tính khoảng 9.209 m3/ngày đêm, phần lớn xả trực tiếp ra sông Bằng Giang và sông Hiến mà chưa qua trạm xử lý tập trung.
  • Mức độ ô nhiễm vượt chuẩn: 100% các điểm cống xả tại 5 phường trung tâm có thông số BOD5 vượt từ 2,2 đến 5 lần và Coliform vượt từ 200 đến 1.000 lần chuẩn QCVN 14:2008/BTNMT cột B.
  • Biến động theo mùa rõ nét: Nồng độ chất ô nhiễm vào mùa khô đậm đặc hơn mùa mưa từ 30% đến 45% do lưu lượng tự nhiên của sông cạn kiệt từ 65% đến 80%.
  • Giải pháp hạ tầng đồng bộ: Đề xuất ứng dụng 4 sơ đồ thu gom phân tán kết hợp xây dựng nhà máy xử lý nước thải tập trung công suất thiết kế 10.000 m3/ngày đêm ứng dụng công nghệ sinh học Aerotank.
  • Lộ trình kỹ thuật khả thi: Phấn đấu hoàn thành cải tạo bể tự hoại hộ gia đình và tách dòng cống trước năm 2023, đưa trạm xử lý tập trung vào vận hành chính thức trước năm 2025.

Đóng góp chính của luận văn là thiết lập hệ thống dữ liệu thực nghiệm chuẩn xác đầu tiên về tải lượng ô nhiễm nước thải sinh hoạt đô thị tại thành phố Cao Bằng, tạo căn cứ kỹ thuật vững chắc cho công tác quản lý tài nguyên nước mặt. Về các bước tiếp theo, địa phương cần thiết lập mạng lưới quan trắc tự động liên tục trong giai đoạn 2023 - 2025 tại các cửa xả cống chính để kiểm soát chặt chẽ chất lượng dòng chảy. Hãy cùng chung tay bảo vệ lưu vực sông Bằng Giang và sông Hiến bằng cách cải tạo công trình vệ sinh gia đình và ủng hộ các chương trình đầu tư xử lý nước thải của thành phố ngay hôm nay!