Tổng quan nghiên cứu

Chương trình Mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới là chủ trương chiến lược của Đảng và Nhà nước nhằm thay đổi diện mạo khu vực nông thôn và nâng cao chất lượng đời sống nhân dân. Tính đến năm 2022, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên đã đạt được những bước tiến vượt bậc với 23/28 xã đạt chuẩn nông thôn mới, tương ứng tỷ lệ 82,14%. Toàn huyện ghi nhận tổng giá trị sản xuất đạt 5.075,9 tỷ đồng, thu nhập bình quân đầu người đạt 50,5 triệu đồng/người/năm và tỷ lệ hộ nghèo giảm xuống còn 4,7%. Tuy nhiên, địa phương vẫn còn 5 xã thuộc diện đặc biệt khó khăn chưa thể về đích nông thôn mới bao gồm: Minh Tiến, Phúc Lương, Na Mao, Phú Thịnh và Yên Lãng.

Khoảng cách phát triển tại 5 xã khó khăn này thể hiện rõ qua các chỉ tiêu an sinh xã hội: tỷ lệ hộ nghèo tại xã Minh Tiến lên tới 11,51%, cao gấp gần 2,5 lần mức bình quân toàn huyện; tỷ lệ dân cư nông thôn được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh mới đạt xấp xỉ 70%; hệ thống giao thông liên xóm còn nhiều đường đất, đường đá gồ ghề, thường xuyên chịu ảnh hưởng bởi lũ quét vào mùa mưa. Trong bối cảnh nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước có hạn, việc huy động tối đa nguồn lực nội tại từ cộng đồng dân cư trở thành nhân tố mang tính quyết định.

Mục tiêu cốt lõi của nghiên cứu là hệ thống hóa cơ sở lý luận, đánh giá toàn diện thực trạng công tác huy động nguồn lực cộng đồng tại 5 xã khó khăn của huyện Đại Từ giai đoạn 2020 - 2022, nhận diện các yếu tố ảnh hưởng, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp khả thi. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào không gian 5 xã chưa đạt chuẩn, sử dụng chuỗi số liệu thứ cấp giai đoạn 2020 - 2022 và dữ liệu khảo sát thực địa thực hiện vào tháng 11 năm 2022. Đề tài mang ý nghĩa thực tiễn cấp bách, cung cấp luận cứ khoa học để huyện Đại Từ hoàn thành mục tiêu 28/28 xã đạt chuẩn nông thôn mới vào năm 2023, về đích trước 1 năm so với Nghị quyết số 05-NQ/TU của Tỉnh ủy Thái Nguyên, tạo tiền đề đưa huyện trở thành thị xã trước năm 2025.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng kết hợp giữa Lý thuyết phát triển cộng đồng và Lý thuyết hành động tập thể. Lý thuyết phát triển cộng đồng khẳng định phát triển nông thôn bền vững phải lấy người dân làm trung tâm, khơi dậy tinh thần tự chủ, biến cư dân nông thôn từ đối tượng thụ hưởng thụ động thành chủ thể tích cực trong việc hoạch định và thực thi dự án hạ tầng. Song song đó, Lý thuyết hành động tập thể lý giải cách thức các cá nhân vượt qua tâm lý ỷ lại để cùng đóng góp tài chính, công sức cho các công trình công cộng phục vụ lợi ích chung.

Khung phân tích của đề tài vận hành dựa trên mô hình quản trị có sự tham gia của người dân gắn liền với 4 khái niệm nền tảng:

  • Nông thôn mới: Khu vực nông thôn có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, môi trường sinh thái trong lành, đời sống vật chất và tinh thần của người dân được nâng cao theo các tiêu chuẩn quy định tại Quyết định số 318/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.
  • Nguồn lực cộng đồng: Tổng thể các tiềm lực vật chất và phi vật chất có thể huy động từ người dân và doanh nghiệp địa phương, bao gồm tiền mặt tích lũy, ngày công lao động, vật tư xây dựng, quyền sử dụng đất tự nguyện hiến tặng và tri thức bản địa.
  • Huy động nguồn lực cộng đồng: Tiến trình tổ chức, vận động và thu hút các nguồn lực xã hội một cách có kế hoạch, minh bạch, dựa trên nguyên tắc tự nguyện để đầu tư xây dựng các công trình công cộng.
  • Xã khó khăn: Đơn vị hành chính cấp xã có điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, địa hình đồi núi chia cắt, tỷ lệ hộ nghèo cao, tích lũy nội tại của hộ dân thấp và kết cấu hạ tầng kỹ thuật chưa hoàn thiện.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu phối hợp chặt chẽ giữa hai nguồn dữ liệu thứ cấp và sơ cấp nhằm đảm bảo tính khách quan và chiều sâu khoa học. Dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ báo cáo kinh tế - xã hội giai đoạn 2020 - 2022 của Ủy ban nhân dân huyện Đại Từ, số liệu lưu trữ của Chi cục Thống kê và Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua đợt khảo sát thực địa tiến hành vào tháng 11 năm 2022 tại 5 xã khó khăn.

Cỡ mẫu khảo sát được chia thành hai nhóm đối tượng độc lập:

  • Nhóm cán bộ quản lý: Thực hiện khảo sát 50 cán bộ thuộc Ban chỉ đạo xây dựng nông thôn mới của 5 xã, mỗi xã 10 người, bao gồm Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, công chức chuyên môn và trưởng các ban ngành đoàn thể.
  • Nhóm hộ gia đình nông dân: Tổng số hộ dân của 5 xã nghiên cứu là 6.896 hộ. Áp dụng công thức tính mẫu Slovin với mức sai số chuẩn e = 5%, quy mô mẫu xác định là 378 hộ gia đình. Tác giả sử dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp ngẫu nhiên, phân bổ mẫu theo tỷ trọng dân số từng địa phương: xã Yên Lãng chiếm 42,0% với 159 mẫu, xã Phúc Lương chiếm 16,0% với 60 mẫu, xã Minh Tiến chiếm 15,7% với 59 mẫu, xã Phú Thịnh chiếm 14,9% với 56 mẫu và xã Na Mao chiếm 11,4% với 43 mẫu. Mẫu điều tra đảm bảo đại diện cho cả 3 phân nhóm: hộ khá, hộ trung bình và hộ nghèo.

Phương pháp phân tích thông tin sử dụng thống kê mô tả nhằm tính toán các chỉ tiêu số tuyệt đối, tỷ lệ phần trăm tương đối và số bình quân của các biến số kinh tế. Để đánh giá định lượng các nhân tố nhận thức và mức độ tham gia của cộng đồng, đề tài sử dụng phiếu khảo sát thiết kế theo thang đo Likert 5 mức độ từ 1,0 (rất không đồng ý/rất kém) đến 5,0 (hoàn toàn đồng ý/rất tốt). Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này là nhằm phản ánh chính xác tương quan giữa mức độ đồng thuận của nhân dân với kết quả huy động vốn thực tế, giúp nhận diện rõ các nút thắt cơ chế tại cấp cơ sở.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu ghi nhận giai đoạn 2020 - 2022, huyện Đại Từ đã đạt được những kết quả ấn tượng về đầu tư hạ tầng nông thôn. Chỉ riêng trong năm 2022, toàn huyện đã làm mới, nâng cấp 122,8 km đường giao thông các loại, trong đó có 86,75 km được đầu tư mới với tổng kinh phí trên 129 tỷ đồng, đưa 25/28 xã đạt chuẩn tiêu chí số 2 về Giao thông. Huyện cũng đã đầu tư xây mới và sửa chữa 32 nhà văn hóa xóm với kinh phí 27 tỷ đồng, cải tạo 13 công trình thủy lợi giúp nâng tỷ lệ diện tích đất canh tác được tưới tiêu chủ động lên trên 89%, đồng thời hỗ trợ 53 hộ nghèo xây mới và sửa chữa nhà ở kiên cố.

Tuy nhiên, tại 5 xã khó khăn, bức tranh huy động nguồn lực cộng đồng bộc lộ sự phân hóa rõ rệt:

Thứ nhất, cơ cấu đóng góp của cộng đồng chủ yếu nghiêng về ngày công và hiện vật đất đai thay vì tiền mặt. Do tỷ lệ hộ nghèo tại xã Minh Tiến còn 11,51% và thu nhập bình quân tại các xã này chỉ dao động quanh mức 40 đến 45 triệu đồng/người/năm, nguồn tích lũy bằng tiền của người dân rất hạn chế. Người dân ưu tiên tham gia bằng cách đóng góp hàng chục nghìn ngày công san gạt mặt bằng và tự nguyện chặt hạ cây cối, tháo dỡ tường rào để hiến đất mở rộng đường liên thôn từ bề mặt 3 mét lên 6 mét.

Thứ hai, nhận thức của người dân về vai trò chủ thể đã có chuyển biến nhưng chưa thực sự đồng đều. Kết quả khảo sát 378 hộ dân bằng thang đo Likert ghi nhận điểm đánh giá về sự cần thiết của chương trình xây dựng nông thôn mới đạt mức tốt với giá trị trung bình trên 3,45 điểm. Dẫu vậy, mức độ hiểu biết chi tiết về 19 tiêu chí nông thôn mới chỉ đạt mức trung bình 2,82 điểm, tập trung chủ yếu vào các tiêu chí hữu hình như đường giao thông, nhà văn hóa mà chưa quan tâm đúng mức đến các tiêu chí phát triển kinh tế hợp tác, môi trường và bảo hiểm y tế.

Thứ ba, sự tham gia của các tổ chức doanh nghiệp và hợp tác xã tại các xã vùng sâu còn khiêm tốn. Trong khi toàn huyện có 59 hợp tác xã nông lâm nghiệp và 31 sản phẩm đạt chứng nhận OCOP, phần lớn các chủ thể kinh tế này tập trung ở các xã vùng thuận lợi như La Bằng, Cát Nê. Tại 5 xã khó khăn, số lượng doanh nghiệp đóng trên địa bàn rất ít, nguồn vốn tài trợ xã hội hóa cho các công trình hạ tầng chủ yếu đến từ các hộ kinh doanh cá thể nhỏ lẻ.

Thảo luận kết quả

Thực trạng trên bắt nguồn từ những nguyên nhân nội tại lẫn khách quan. Về mặt khách quan, địa hình đồi núi dốc, giao thông cách trở và nguy cơ thiên tai lũ quét vào mùa mưa lũ làm đội chi phí thi công các công trình công cộng tại các xã vùng sâu cao hơn từ 15% đến 25% so với vùng đồng bằng. Về mặt chủ quan, năng lực điều hành của Ban chỉ đạo nông thôn mới ở một số thôn bản còn lúng túng trong công tác lập kế hoạch và phân bổ nguồn thu, đôi lúc còn mang tính cào bằng giữa các hộ có mức sống chênh lệch.

Khi đối chiếu với các mô hình thành công tại các địa phương khác, đề tài chỉ ra bài học tương quan sâu sắc:

  • Huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái khi xây dựng nông thôn mới đã huy động tổng nguồn vốn 7.361 tỷ đồng, trong đó nhân dân đóng góp hơn 740 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 10,1%. Thành công của Trấn Yên đến từ việc tập trung đào tạo chuyên sâu cho đội ngũ cán bộ cấp xã, xóm và ưu tiên thực hiện các tiêu chí mang lại lợi ích kinh tế trực tiếp cho người dân.
  • Huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh trong 10 năm đã huy động gần 2.547 tỷ đồng, nguồn lực từ người dân đóng góp đạt 331 tỷ đồng, chiếm 13% tổng vốn. Cơ cấu đóng góp của Lộc Hà rất tương đồng với Đại Từ: đóng góp bằng tiền mặt chiếm 85 tỷ đồng, ngày công quy đổi đạt 92 tỷ đồng, giá trị hiến đất đạt 65 tỷ đồng và các tài sản khác đạt gần 89 tỷ đồng.

Để minh họa rõ nét các phát hiện nghiên cứu, dữ liệu khảo sát có thể được trình bày thông qua biểu đồ tròn trực quan hóa cơ cấu nguồn vốn huy động (phân định rõ tỷ lệ vốn ngân sách nhà nước, vốn lồng ghép, vốn tín dụng, vốn doanh nghiệp và đóng góp từ nhân dân). Đồng thời, một bảng so sánh đa chiều giữa tỷ lệ hộ nghèo và mức đóng góp bình quân đầu hộ tại 5 xã nghiên cứu sẽ làm nổi bật quy luật: xã nào có tỷ lệ nghèo càng cao thì tỷ trọng đóng góp bằng ngày công và đất hiến càng áp đảo so với đóng góp bằng tiền mặt. Điều này khẳng định tầm quan trọng của việc thực thi Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11 về dân chủ ở cơ sở nhằm giải tỏa áp lực tài chính cho người dân nghèo.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm khơi thông nguồn lực cộng đồng, hỗ trợ 5 xã khó khăn hoàn thành 19 tiêu chí nông thôn mới trong năm 2023, nghiên cứu đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm:

Thứ nhất, đổi mới và đa dạng hóa phương thức tuyên truyền vận động. Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội cấp xã cần chủ trì nâng số buổi tuyên truyền trực quan tại các nhà văn hóa thôn lên tối thiểu 2 buổi/tháng trong giai đoạn 6 tháng đầu năm 2023. Mục tiêu cụ thể là nâng tỷ lệ hộ dân hiểu rõ về 19 tiêu chí nông thôn mới từ mức 2,82 điểm Likert lên trên 4,0 điểm. Nội dung tuyên truyền cần làm rõ nguyên tắc "dân làm, dân thụ hưởng", nêu gương kịp thời các điển hình hiến đất mở đường trên hệ thống loa phát thanh xã.

Thứ hai, linh hoạt hóa các hình thức huy động phù hợp với sức dân. Ban quản lý nông thôn mới cấp xã và Ban điều hành các xóm cần chấm dứt tình trạng áp đặt chỉ tiêu tiền mặt cố định theo đầu khẩu. Thay vào đó, xây dựng đề án quy đổi đóng góp thông qua ngày công lao động, vật liệu tại chỗ (cát, sỏi, gạch) và vận động hiến đất phục vụ các tuyến giao thông nội đồng. Mục tiêu đặt ra là nâng tỷ trọng nguồn lực phi tiền mặt lên trên 60% tổng giá trị huy động từ cộng đồng tại 5 xã khó khăn trong suốt lộ trình 2023 - 2024.

Thứ ba, thực thi nghiêm túc Quy chế dân chủ cơ sở và cơ chế giám sát đầu tư cộng đồng. Căn cứ Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11 và Quyết định số 80/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, Ủy ban nhân dân xã phải công khai 100% dự toán, phương án huy động và tiến độ thi công công trình tại trụ sở xã và nhà văn hóa xóm. Ban giám sát đầu tư của cộng đồng do người dân trực tiếp bầu ra phải có quyền tham gia nghiệm thu kỹ thuật từng giai đoạn công trình, kiểm tra tính minh bạch của sổ sách thu chi trước khi quyết toán, hoàn thành trước quý 4 năm 2023.

Thứ tư, đẩy mạnh phát triển kinh tế nông thôn để bồi dưỡng sức dân. Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Đại Từ cần phối hợp với Ủy ban nhân dân 5 xã khó khăn xây dựng ít nhất 2 chuỗi liên kết sản xuất chè an toàn và phát triển thêm 3 sản phẩm OCOP đạt chuẩn 3 sao trở lên trong năm 2023. Mục tiêu đưa thu nhập bình quân đầu người tại 5 xã này tăng tối thiểu 10% mỗi năm, đạt mốc trên 52 triệu đồng/người/năm, qua đó giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống dưới 5%, tạo nền tảng tài chính bền vững cho các khoản đóng góp cộng đồng tương lai.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nghiên cứu mang giá trị thực tiễn và tính ứng dụng cao đối với 4 nhóm đối tượng chính:

Thứ nhất, cán bộ quản lý Nhà nước và Ban điều hành chương trình nông thôn mới cấp huyện, xã. Nghiên cứu cung cấp bức tranh thực chứng về tâm lý, khả năng tài chính của cư dân vùng khó khăn, giúp các nhà quản trị hoạch định chính sách phân bổ vốn đầu tư công hợp lý, tránh tình trạng áp đặt định mức thu gây bức xúc trong nhân dân.

Thứ hai, các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội tại địa phương bao gồm Hội Nông dân, Hội Liên hiệp Phụ nữ và Đoàn Thanh niên. Các đơn vị này có thể khai thác các bài học dân vận thực tế để thiết kế các phong trào thi đua hiệu quả, chẳng hạn như ngày thứ Bảy tình nguyện san gạt đường làng, chiến dịch phụ nữ giữ gìn tuyến đường hoa xanh sạch đẹp.

Thứ ba, các nhà nghiên cứu, giảng viên chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Luận văn là tài liệu tham khảo giá trị về cách tiếp cận nghiên cứu phát triển cộng đồng, minh chứng cho việc ứng dụng công thức chọn mẫu Slovin và thang đo Likert trong xử lý số liệu khảo sát kinh tế nông thôn miền núi.

Thứ tư, học viên cao học và sinh viên các khối ngành quản lý công, kinh tế học. Đề tài cung cấp khung phân tích chuẩn mực, phương pháp thiết kế phiếu điều tra xã hội học và kỹ thuật tổng hợp chỉ tiêu định lượng phục vụ cho việc thực hiện các khóa luận, đề tài nghiên cứu liên quan.

Câu hỏi thường gặp

Điểm nghẽn lớn nhất trong huy động nguồn lực tại 5 xã khó khăn huyện Đại Từ là gì? Điểm nghẽn lớn nhất nằm ở mức thu nhập bình quân thấp và tỷ lệ nghèo cao, đơn cử như xã Minh Tiến còn 11,51% hộ nghèo. Tích lũy tiền mặt của các hộ dân rất hạn chế, trong khi địa hình chia cắt đòi hỏi suất đầu tư hạ tầng giao thông và thủy lợi lớn gấp nhiều lần các vùng đồng bằng.

Người dân tại các xã khó khăn có thể tham gia những hình thức đóng góp nào ngoài tiền mặt? Người dân có thể đóng góp thông qua ngày công lao động trực tiếp để san gạt mặt bằng, tự nguyện hiến tặng đất thổ cư, đất trồng chè để mở rộng đường giao thông từ 3 mét lên 6 mét, cũng như khai thác vật liệu tại chỗ như cát, sỏi, gỗ nhằm giảm chi phí xây dựng công trình công cộng.

Phương pháp chọn mẫu Slovin được tác giả áp dụng như thế nào trong nghiên cứu? Từ tổng thể 6.896 hộ gia đình thuộc 5 xã nghiên cứu, với sai số cho phép e = 5%, công thức Slovin xác định cỡ mẫu đại diện là 378 hộ. Số lượng phiếu khảo sát sau đó được phân bổ đều theo tỷ trọng số hộ của từng xã (Yên Lãng 159 hộ, Phúc Lương 60 hộ, Minh Tiến 59 hộ, Phú Thịnh 56 hộ, Na Mao 43 hộ), bao quát đủ các nhóm hộ khá, trung bình và nghèo.

Việc thực hiện quy chế dân chủ cơ sở tác động thế nào đến tâm lý đóng góp của người dân? Khi các khoản thu chi, mức đóng góp và bản vẽ kỹ thuật được niêm yết công khai tại nhà văn hóa theo Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11, mức độ tin tưởng của người dân tăng lên rõ rệt. Người dân trực tiếp bầu Ban giám sát cộng đồng sẽ loại bỏ tâm lý nghi ngờ tiêu cực, từ đó nhiệt tình hưởng ứng đóng góp.

Làm thế nào để việc huy động nguồn lực cộng đồng không trở thành gánh nặng quá sức cho hộ nghèo? Chính quyền cơ sở cần áp dụng chính sách miễn hoàn toàn hoặc giảm 50% đến 70% nghĩa vụ đóng góp bằng tiền cho các hộ nghèo, hộ đơn thân hoặc cận nghèo. Đồng thời, xóm tổ chức họp bình xét công khai để các hộ này tham gia đóng góp bằng ngày công dọn dẹp vệ sinh môi trường hoặc trông coi vật tư công trình.

Kết luận

  • Luận văn đã đánh giá toàn diện thực trạng công tác huy động nguồn lực cộng đồng tại 5 xã đặc biệt khó khăn của huyện Đại Từ giai đoạn 2020 - 2022, chỉ rõ những kết quả đạt được về giao thông, thủy lợi và cơ sở vật chất văn hóa.
  • Nghiên cứu khẳng định nguồn lực cộng đồng tại các xã vùng cao có thế mạnh nổi trội ở hình thức đóng góp ngày công lao động và hiến đất làm đường, bù đắp hiệu quả cho sự thiếu hụt về nguồn vốn tích lũy bằng tiền mặt.
  • Năng lực của đội ngũ cán bộ cơ sở và việc thực thi nghiêm túc Quy chế dân chủ là hai nhân tố có tính quyết định trực tiếp tới tỷ lệ đồng thuận đóng góp của nhân dân.
  • Hệ thống 4 nhóm giải pháp trọng tâm đã chỉ rõ lộ trình: tăng cường tuyên truyền, đa dạng hóa hình thức huy động, siết chặt giám sát cộng đồng và thúc đẩy phát triển sản phẩm OCOP nông nghiệp.
  • Về mặt học thuật, công trình đóng góp khung phân tích định lượng chuẩn mực về mối quan hệ giữa an sinh xã hội và khả năng huy động nội lực tại các địa bàn miền núi khó khăn.

Về kế hoạch hành động tiếp theo, huyện Đại Từ cần tập trung mọi nguồn lực lồng ghép trong 6 tháng đầu năm 2023 để giúp 5 xã Minh Tiến, Phúc Lương, Na Mao, Phú Thịnh và Yên Lãng hoàn thiện các tiêu chí còn nợ chuẩn, hướng tới mục tiêu công nhận huyện đạt chuẩn nông thôn mới vào cuối năm 2023. Để đạt được đích đến này, sự đồng thuận, chung sức của cả hệ thống chính trị và từng người dân địa phương chính là chìa khóa mở ra sự phát triển nông thôn phồn vinh và bền vững.