Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp "Phát triển du lịch sinh thái tại đảo Cô Tô, Quảng Ninh theo hướng bền vững" được thực hiện bởi sinh viên Trần Vinh Tiến (ngành Văn hóa Du lịch, Trường Đại học Dân Lập Hải Phòng) dưới sự hướng dẫn của ThS. Nguyễn Thị Phương Thảo vào năm 2018. Đề tài xuất phát từ bối cảnh du lịch sinh thái đang trở thành xu hướng phát triển toàn cầu và là trọng tâm trong chiến lược phát triển du lịch của nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam. Đây là phương thức du lịch có trách nhiệm, dựa vào tự nhiên, hỗ trợ các mục tiêu bảo tồn và đóng góp thiết thực cho phát triển kinh tế - xã hội địa phương.
Về mặt địa bàn nghiên cứu, huyện đảo Cô Tô (tỉnh Quảng Ninh) được thành lập năm 1994, sở hữu vùng biển giáp ranh hải phận quốc tế dài hơn 200 km, nối với vùng biển Bạch Long Vĩ (Hải Phòng) tạo thành khu vực tiền tiêu của Vịnh Bắc Bộ. Quần đảo có diện tích tự nhiên trên 46 km² với 50 đảo lớn nhỏ, giữ vị trí đặc biệt quan trọng về kinh tế, văn hóa và an ninh quốc phòng. Nơi đây sở hữu nhiều tài nguyên thiên nhiên hoang sơ, cảnh quan biển đảo độc đáo, hệ sinh thái rừng nguyên sinh và các giá trị văn hóa - lịch sử cấp quốc gia. Tuy nhiên, hoạt động khai thác du lịch sinh thái tại địa phương thời điểm năm 2018 vẫn đối mặt với nhiều khó khăn, thiếu thốn về hạ tầng kỹ thuật (nguồn điện, nước ngọt, phương tiện giao thông vận tải), nguồn nhân lực chuyên môn và áp lực bảo tồn môi trường trước tốc độ gia tăng khách du lịch.
Mục tiêu chung của đề tài là nghiên cứu, đánh giá tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch sinh thái tại huyện đảo Cô Tô, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nhằm phát triển loại hình du lịch này theo định hướng bền vững. Để hiện thực hóa mục tiêu trên, khóa luận xác lập 3 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Tổng quan cơ sở lý luận về phát triển du lịch sinh thái và phát triển du lịch bền vững.
- Xác định tiềm năng, thế mạnh, đánh giá thực trạng phát triển du lịch sinh thái thông qua việc nhận diện các vấn đề tồn tại cùng nguyên nhân phát sinh tại huyện đảo Cô Tô, tỉnh Quảng Ninh.
- Đề xuất các giải pháp khả thi nhằm phát triển du lịch sinh thái tại Cô Tô theo hướng bền vững.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của công trình được giới hạn rõ ràng:
- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động và loại hình du lịch sinh thái tại huyện đảo Cô Tô.
- Phạm vi không gian: Địa bàn hành chính huyện đảo Cô Tô, tỉnh Quảng Ninh.
- Phạm vi thời gian: Thu thập, khai thác số liệu và tài liệu giai đoạn 2013 – 2018. Thời gian thực hiện đề tài diễn ra từ tháng 6 đến tháng 8 năm 2018 (được giao đề tài ngày 11/06/2018 và hoàn thành đầu tháng 09/2018).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Về mặt lý luận, tác giả hệ thống hóa các định nghĩa, đặc trưng và nguyên tắc phát triển du lịch sinh thái cùng du lịch bền vững thông qua các tài liệu học thuật trong nước và quốc tế:
- Khái niệm du lịch chung: Dẫn chiếu định nghĩa của Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO).
- Khái niệm du lịch sinh thái: Trích dẫn định nghĩa của Hector Ceballos-Lascurain (1987), định nghĩa của Buckley (1994) và định nghĩa chính thức tại Việt Nam được thống nhất trong Hội thảo quốc gia "Xây dựng chiến lược phát triển du lịch sinh thái ở Việt Nam" (do Tổng cục Du lịch Việt Nam phối hợp với ESCAP và WWF tổ chức từ ngày 7 đến 9/9/1999). Theo đó, du lịch sinh thái được xác định là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản địa, gắn với giáo dục môi trường, đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương.
- Khung phát triển du lịch bền vững: Tiếp cận theo định nghĩa của UNWTO tại Hội nghị Môi trường và Phát triển của Liên Hợp Quốc (Rio de Janeiro, 1992) và Báo cáo của Ủy ban Brundtland (1987). Tác giả làm rõ 3 mục tiêu cốt lõi (bền vững kinh tế, bền vững tài nguyên - môi trường, bền vững xã hội) cùng 10 nguyên tắc phát triển du lịch bền vững.
- Hệ thống điều kiện phát triển: Phân tích 4 nhóm điều kiện nền tảng gồm tài nguyên du lịch sinh thái (tự nhiên và văn hóa bản địa), nhân lực du lịch, cơ sở hạ tầng - cơ sở vật chất kỹ thuật và chính sách quản lý nhà nước.
Khóa luận áp dụng hai phương pháp nghiên cứu chủ chốt:
- Phương pháp thu thập và xử lý thông tin: Tập hợp các công trình khoa học, số liệu thống kê, báo cáo chuyên đề và văn bản quản lý từ UBND huyện Cô Tô, Phòng Thống kê, Phòng Tài nguyên và Môi trường, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội, Ban Quản trị Du lịch Cô Tô và các đoàn thể địa phương giai đoạn 2013 – 2018.
- Phương pháp khảo sát thực địa: Tác giả tiến hành đợt điền dã trực tiếp trên địa bàn huyện đảo Cô Tô từ ngày 20/07/2018 đến ngày 22/07/2018. Hoạt động thực địa bao gồm chụp ảnh, quay phim tư liệu tại các danh lam thắng cảnh, điểm di tích, cơ sở hạ tầng bến cảng, ghi chép hiện trạng lưu trú và phỏng vấn, quan sát hoạt động kinh tế - xã hội của người dân địa phương.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về du lịch sinh thái và phát triển du lịch bền vững
Chương này tập trung xây dựng nền tảng lý thuyết phục vụ cho việc đánh giá thực tiễn ở các chương sau. Tác giả phân tích cấu trúc của hoạt động du lịch với 7 đặc trưng tổng quát: tính đa ngành, tính đa thành phần, tính đa mục tiêu, tính liên vùng, tính mùa vụ, tính chi phí và tính xã hội hóa. Song song đó, 3 đặc trưng riêng biệt của du lịch sinh thái được nhấn mạnh bao gồm: tính giáo dục cao về môi trường, khả năng đóng góp bảo tồn đa dạng sinh học và yêu cầu bắt buộc về sự tham gia của cộng đồng dân cư bản địa.
Nội dung chương cũng luận giải 4 nguyên tắc hoạt động của du lịch sinh thái:
- Phải có hoạt động giáo dục và diễn giải môi trường nhằm nâng cao nhận thức bảo tồn cho du khách.
- Bảo vệ môi trường sống và duy trì trạng thái cân bằng của các hệ sinh thái tự nhiên.
- Bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống của cộng đồng bản địa.
- Tạo việc làm, chia sẻ lợi ích kinh tế nhằm nâng cao đời sống cho cư dân sở tại.
Phần cuối chương phân tích mối quan hệ hữu cơ giữa các yếu tố cấu thành điểm đến du lịch sinh thái, đặc biệt là vai trò của hệ sinh thái tự nhiên điển hình (rừng nhiệt đới, rạn san hô, bờ biển cát) và mối liên kết giữa ban quản lý khu bảo tồn, doanh nghiệp lữ hành và cư dân địa phương.
Chương 2: Thực trạng hoạt động du lịch sinh thái tại Cô Tô, Quảng Ninh
Chương 2 là phần nội dung thực nghiệm trọng tâm, cung cấp dữ liệu toàn diện về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và hiện trạng khai thác du lịch tại địa phương.
1. Khái quát địa bàn và nguồn lực phát triển:
- Vị trí và hành chính: Huyện Cô Tô nằm ở tọa độ 20°55' đến 21°15'7" vĩ độ Bắc và 107°35' đến 108°20' kinh độ Đông; gồm 3 đảo lớn là Cô Tô lớn, Thanh Lân và đảo Trần. Năm 2007, diện tích tự nhiên của huyện là 47,4337 km² (chiếm 0,8% diện tích tỉnh Quảng Ninh). Huyện có 3 đơn vị hành chính cấp xã: Thị trấn Cô Tô, xã Đồng Tiến và xã Thanh Lân.
- Dân cư và kinh tế: Năm 2006, dân số toàn huyện đạt 5.240 người (1.178 hộ), gồm 5 dân tộc (Kinh, Sán Dìu, Mường, Tày, Hoa) với dân cư đến từ hơn 14 tỉnh thành ra xây dựng vùng kinh tế mới. Toàn huyện có gần 2.000 lao động ngư nghiệp; 218 tàu thuyền khai thác thủy sản. Thu nhập bình quân năm 2013 đạt 1.200 USD/người/năm, tăng trưởng kinh tế 15%, tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 13,95% (năm 2005) xuống còn 0,79% (năm 2013).
- Tài nguyên du lịch tự nhiên: Khí hậu nhiệt đới gió mùa mát mẻ, nhiệt độ trung bình năm đạt 22,7°C. Về tài nguyên biển, huyện sở hữu các bãi tắm tự nhiên hoang sơ như Hồng Vàn, Vàn Chảy và các bãi cát quanh đảo Cô Tô con (cách đảo lớn hơn 1 km). Điểm nhấn địa chất là Bãi đá Cầu Mỵ ở phía nam đảo lớn với hệ thống đá trầm tích uốn nếp, xếp tầng qua hàng vạn năm bào mòn. Về tài nguyên rừng, huyện có 2.090,57 ha đất lâm nghiệp (tính đến 31/12/2013), phân bố tại xã Thanh Lân (1.077,64 ha), xã Đồng Tiến (709,3 ha) và thị trấn Cô Tô (303,63 ha). Rừng Cô Tô có cấu trúc 3 tầng, đặc biệt sở hữu quần thể rừng chõi nguyên sinh được đánh giá lớn nhất cả nước, cùng hệ thống rừng sim phòng hộ ven biển.
- Tài nguyên nhân văn: Quần thể Di tích lịch sử Khu lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh tại thị trấn Cô Tô được xếp hạng Di tích quốc gia theo Quyết định ngày 07/05/1997 của Bộ Văn hóa - Thông tin, gắn liền với sự kiện Bác về thăm đảo ngày 09/05/1961. Trạm Hải đăng Cô Tô được xây dựng từ cuối thế kỷ 19, nằm trên đỉnh đồi với 72 bậc cầu thang bộ. Bên cạnh đó là các làng nghề truyền thống đánh bắt, chế biến nước mắm thủ công và dự án nuôi cấy ngọc trai với vốn đầu tư 2 triệu USD.
2. Thực trạng hạ tầng kỹ thuật và cơ sở vật chất:
- Hạ tầng kết nối: Cuối năm 2013, dự án cấp điện lưới quốc gia hoàn thành với tổng mức đầu tư 1.106 tỷ đồng, chiều dài đường dây 58,5 km từ huyện Vân Đồn ra đảo (trong đó có 25 km cáp ngầm xuyên biển 22 kV). Cấp nước sinh hoạt đạt tỷ lệ bao phủ 95% hộ dân nhờ nâng cấp hệ thống hồ chứa (hồ C4, hồ Chiến Thắng 1, Chiến Thắng 2) và đưa vào vận hành hồ chứa Trường Xuân dung tích 170.000 m³ (kinh phí 71 tỷ đồng). Đường thủy được trang bị tàu cao tốc hiện đại, rút ngắn thời gian di chuyển từ cảng Cái Rồng ra đảo từ 3-4 giờ xuống còn 70-90 phút. Hệ thống cáp quang và phát sóng wifi miễn phí phủ toàn huyện từ năm 2012.
- Cơ sở lưu trú và dịch vụ: Địa bàn huyện có 229 cơ sở lưu trú với hơn 600 phòng nghỉ. Trong đó có 6 khách sạn đạt tiêu chuẩn 2 sao, 27 khách sạn đạt tiêu chuẩn 1 sao; còn lại là hệ thống homestay, nhà nghỉ và nhà gỗ bungalow ven biển. Điển hình cho mô hình lưu trú sinh thái gồm Coto Village, Coto Eco Lodge (giá phòng 750.000 đồng, buffet BBQ bãi biển 350.000 đồng/khách), Coto Gardens, Green Coto Hotel, Khách sạn Thủy Thịnh (12 phòng), Khách sạn Hoàng Trung (58 phòng), Khách sạn Thanh Măng. Về vui chơi giải trí, công viên nước bơm hơi Cô Tô Park trên bãi biển Hồng Vàn có diện tích trên 1.000 m², cung cấp dịch vụ chèo thuyền kayak, bóng chuyền nước và lặn ngắm san hô.
3. Chỉ tiêu hoạt động du lịch và chính sách địa phương:
| Chỉ tiêu thống kê |
Năm 2016 |
Năm 2017 |
Năm 2018 (Ước thực hiện) |
| Tổng lượt khách du lịch |
Khoảng 300.000 lượt |
320.000 lượt |
330.000 lượt |
| Lượt khách quốc tế |
Khoảng 1.200 lượt |
2.200 lượt |
3.500 lượt |
| Quy định ngưỡng tiếp đón tối đa |
- |
- |
Không quá 5.000 khách/ngày |
| Ước tính doanh thu dịch vụ du lịch |
- |
- |
Khoảng 600 tỷ đồng |
| Thu ngân sách từ dịch vụ du lịch |
- |
- |
Trên 2 tỷ đồng |
Khóa luận phân tích chính sách kích cầu của UBND huyện Cô Tô: hỗ trợ 50% lãi suất ngân hàng cho hạn mức vay 200 triệu đồng/hộ xây dựng cơ sở đón khách; hỗ trợ 5 triệu đồng/hộ làm nhà vệ sinh tự hoại đạt chuẩn; hỗ trợ 15 – 30 triệu đồng/phương tiện cho ngư dân hoán cải tàu thuyền phục vụ lữ hành; hỗ trợ 100 triệu đồng cho cơ sở phát triển thương hiệu đặc sản địa phương (đã cấp chứng nhận nhãn hiệu "Mực ống Cô Tô" và "Cá duội Cô Tô").
Chương 3: Định hướng và giải pháp phát triển du lịch sinh thái tại Cô Tô - Quảng Ninh theo hướng bền vững
Dựa trên mục tiêu chiến lược của tỉnh Quảng Ninh và huyện đảo Cô Tô, tác giả hệ thống hóa 6 nhóm giải pháp:
- Bảo vệ tài nguyên và môi trường du lịch: Kiểm soát rác thải, xử lý nước thải tại các bãi tắm Hồng Vàn, Vàn Chảy; bảo vệ nghiêm ngặt diện tích rừng chõi nguyên sinh và các rạn san hô ven bờ trước tác động của hoạt động cano, lặn biển.
- Thu hút cộng đồng địa phương: Tăng cường cơ chế chia sẻ lợi ích, khuyến khích các hộ gia đình tham gia cung ứng dịch vụ ẩm thực, homestay và dẫn tour trải nghiệm nghề câu cá, câu mực đêm.
- Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực: Phối hợp mở các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ buồng phòng, bàn, lễ tân ngắn hạn; đào tạo ngoại ngữ (tiếng Anh, tiếng Trung) và nâng cao ý thức văn hóa du lịch cho người dân đảo.
- Phát triển sản phẩm du lịch sinh thái đặc thù: Đa dạng hóa các tour khám phá rừng nguyên sinh, lặn biển ngắm san hô, tour tham quan quy trình chế biến nước mắm truyền thống và nuôi cấy ngọc trai.
- Quy hoạch phát triển du lịch sinh thái: Phân vùng chức năng không gian du lịch rõ ràng giữa khu vực phát triển dịch vụ tập trung và khu vực bảo tồn tự nhiên nghiêm ngặt, tuân thủ sức tải môi trường.
- Thu hút vốn đầu tư và xúc tiến quảng bá: Kêu gọi các dự án đầu tư thân thiện với sinh thái, đẩy mạnh ứng dụng nền tảng số và mạng internet không dây sẵn có trên huyện đảo để quảng bá hình ảnh điểm đến.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã tổng hợp và phản ánh chân thực các kết quả phát triển kinh tế du lịch huyện đảo thông qua hệ thống dữ liệu cụ thể:
- Làm rõ bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế địa phương: tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 13,95% (năm 2005) xuống 3,1% (năm 2011) và đạt 0,79% (năm 2013); tăng trưởng kinh tế duy trì mức 15%/năm.
- Định lượng hóa hạ tầng du lịch huyện đảo: hoàn thành đưa điện lưới quốc gia vượt biển dài 58,5 km (vốn 1.106 tỷ đồng); xây dựng hồ chứa nước ngọt Trường Xuân 170.000 m³ (vốn 71 tỷ đồng); phát triển mạng lưới lưu trú đạt 229 cơ sở với trên 600 phòng nghỉ.
- Ghi nhận tốc độ tăng trưởng du khách từ 300.000 lượt (năm 2016) lên 320.000 lượt (năm 2017) và ước đạt 330.000 lượt (năm 2018), mang lại doanh thu dịch vụ ước tính 600 tỷ đồng.
- Về mặt đóng góp thực tiễn, đề tài làm rõ các rào cản mang tính đặc thù của du lịch đảo biên giới: tính mùa vụ sâu sắc (tập trung cao điểm mùa hè, mùa đông vắng khách), nguy cơ quá tải hạ tầng cục bộ (buộc huyện phải đề ra ngưỡng khống chế tiếp đón tối đa 5.000 khách/ngày) và tình trạng thiếu hụt nhân lực có chuyên môn nghiệp vụ lữ hành bài bản. Hệ thống giải pháp đề xuất bám sát các chính sách hỗ trợ tài chính đang triển khai tại địa bàn.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Từ nội dung văn bản và phạm vi nghiên cứu, khóa luận bộc lộ một số giới hạn:
- Thời gian khảo sát thực tế hạn chế: Chuyến điền dã thực địa của tác giả diễn ra trong thời gian ngắn (3 ngày, từ 20/07/2018 đến 22/07/2018), rơi vào đợt cao điểm du lịch hè, do đó chưa có điều kiện khảo sát thực tế biến động môi trường và xã hội vào mùa thấp điểm (mùa đông và mùa biển động).
- Tính chất dữ liệu tài chính: Doanh thu du lịch toàn huyện (ước tính 600 tỷ đồng năm 2018) và doanh thu của người dân phần lớn mang tính chất ước lượng thông qua báo cáo ngành; dữ liệu kinh doanh từ các hộ homestay nhỏ lẻ chưa được thống kê định lượng theo chuẩn mực kế toán du lịch.
- Hướng nghiên cứu tiếp theo: Cần mở rộng đánh giá sức chứa sinh thái (carrying capacity) chi tiết cho từng bãi tắm và khu bảo tồn san hô; khảo sát xã hội học bằng bảng hỏi định lượng đối với du khách và cộng đồng cư dân; nghiên cứu sâu các giải pháp kỹ thuật xử lý rác thải sinh hoạt và nước thải du lịch nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững lâu dài.
Giá trị tham khảo
Tài liệu là nguồn tư liệu thực tế hữu ích cho sinh viên chuyên ngành Văn hóa Du lịch, Quản trị Dịch vụ Du lịch và Lữ hành, Địa lý Du lịch hoặc các học viên nghiên cứu về quy hoạch phát triển kinh tế biển đảo.
Các nội dung có giá trị tham khảo chuyên sâu bao gồm:
- Toàn bộ hồ sơ tổng hợp về tài nguyên tự nhiên đặc thù của Cô Tô: hệ thống trầm tích Bãi đá Cầu Mỵ, quần thể rừng chõi nguyên sinh lớn nhất nước và các loài thực vật quý.
- Số liệu lịch sử về quá trình hiện đại hóa hạ tầng biển đảo (kéo điện lưới ngầm xuyên biển, xây dựng hệ thống hồ trữ nước ngọt Trường Xuân, phủ sóng wifi toàn huyện).
- Mô hình chính sách hỗ trợ vốn vay kích cầu du lịch cộng đồng của chính quyền huyện Cô Tô (hỗ trợ lãi suất xây nhà, hỗ trợ kinh phí làm vệ sinh đạt chuẩn, hỗ trợ hoán cải phương tiện vận chuyển đường thủy và đăng ký thương hiệu nông sản OCOP).
Câu hỏi thường gặp
1. Hệ thống cấp điện và nước ngọt tại huyện Cô Tô được đầu tư như thế nào để phục vụ cư dân và du khách?
Theo dữ liệu khóa luận, trước năm 2013 huyện đảo gặp khó khăn lớn về điện và nước ngọt. Đến cuối năm 2013, Cô Tô đã có điện lưới quốc gia nhờ dự án đường điện ngầm xuyên biển dài 58,5 km từ Vân Đồn (với 25 km cáp ngầm 22 kV xuyên biển) có tổng vốn đầu tư hơn 1.106 tỷ đồng. Về nguồn nước, huyện xây mới và nâng cấp hàng loạt hồ chứa (hồ C4, hồ Chiến Thắng 1, Chiến Thắng 2), tiêu biểu là hồ Trường Xuân tại xã Đồng Tiến với dung tích 170.000 m³ (kinh phí đầu tư 71 tỷ đồng), nâng tỷ lệ hộ dân và cơ sở lưu trú được cấp nước sạch sinh hoạt lên 95%.
2. Chính quyền huyện Cô Tô đã ban hành những chính sách tài chính cụ thể nào để khuyến khích người dân làm du lịch?
Khóa luận ghi nhận UBND huyện triển khai nhiều cơ chế hỗ trợ trực tiếp: hỗ trợ 50% lãi suất vay ngân hàng cho mức vay tối đa 200 triệu đồng/hộ để xây mới nhà đón khách du lịch; hỗ trợ 5 triệu đồng/hộ để xây dựng nhà vệ sinh khép kín tự hoại; hỗ trợ 15 đến 30 triệu đồng/hộ để sửa chữa, hoán cải, đóng mới tàu thuyền đánh bắt thủy sản kết hợp chở khách du lịch; hỗ trợ 100 triệu đồng/cơ sở để xây dựng thương hiệu, bao bì các sản phẩm thế mạnh như mực ống Cô Tô, cá duội Cô Tô, sứa ăn liền, rượu cầu gai.
3. Di tích lịch sử - nhân văn tiêu biểu nào trên đảo đã được xếp hạng quốc gia?
Đó là Khu di tích lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh tọa lạc tại Khu 3, thị trấn Cô Tô, cách bờ biển 50 m. Quần thể gồm tượng đài, bia tưởng niệm và nhà lưu niệm, được xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia theo Quyết định của Bộ Văn hóa - Thông tin ngày 07/05/1997, gắn liền với sự kiện Bác Hồ ra thăm đảo ngày 09/05/1961. Đây cũng là nơi hiếm hoi Bác Hồ đồng ý cho dựng tượng khi Người còn sống.
4. Quy mô du khách và doanh thu du lịch Cô Tô giai đoạn 2017 – 2018 đạt mức bao nhiêu?
Năm 2017, lượng khách đến đảo đạt 320.000 lượt (trong đó khách quốc tế đạt 2.200 lượt). Năm 2018, lượng khách ước đạt 330.000 lượt (khách quốc tế đạt 3.500 lượt); huyện áp dụng quy định duy trì khống chế đón tiếp không quá 5.000 khách/ngày nhằm bảo đảm an toàn và môi trường. Doanh thu từ dịch vụ du lịch năm 2018 ước đạt khoảng 600 tỷ đồng, nộp ngân sách địa phương từ du lịch đạt trên 2 tỷ đồng.
5. Quần thể thực vật nào trên cạn ở Cô Tô có giá trị sinh thái đặc biệt nhất được đề cập trong khóa luận?
Đó là hệ thống rừng chõi nguyên sinh phân bố trên đảo. Theo đánh giá khoa học được dẫn trong khóa luận, đây là rừng chõi nguyên sinh có quy mô diện tích lớn nhất cả nước. Rừng chõi có đặc tính thân dẻo, dai, chịu gió bão và cát biển, đóng vai trò như đai rừng phòng hộ ven biển bảo vệ xóm làng và đa dạng sinh học cho huyện đảo.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Trần Vinh Tiến đã phản ánh một cách hệ thống và trung thực bức tranh phát triển du lịch sinh thái tại huyện đảo Cô Tô trong giai đoạn bản lề 2013 – 2018. Bằng các dữ liệu thực địa và số liệu quản lý nhà nước, tác giả làm nổi bật sự đổi thay về hạ tầng giao thông, điện lưới và cơ sở vật chất lưu trú trên đảo sau khi kéo điện ngầm xuyên biển. Đồng thời, công trình chỉ rõ những thách thức nội tại về áp lực tải trọng môi trường, tính mùa vụ và hạn chế về nhân lực, qua đó đưa ra hệ thống giải pháp định hướng cộng đồng nhằm hướng tới mục tiêu phát triển du lịch bền vững nơi tiền tiêu Đông Bắc.