Đặt vấn đề Lí thuyết về Truyền thông - Ngôn ngữ xa gần khởi đầu từ học thuyết của F.Saussure về cơ chế lưỡng diện ngôn ngữ và lời nói. Mặt thứ hai, mặt lời nói, sau này được nhân mạnh hơn bởi Ngôn ngữ học Chức năng luận. Li thuyết ngôn ngữ học ngày nay có thể miêu tả ngôn ngữ truyền thông theo mô hình tam diện của Kí hiệu học (Morris), cũng có thể dựa trên lí luận Chức năng xã hội (Halliday) hay Phân tích diễn ngôn mà quan hệ liên nhân và ngữ cảnh là nòng cốt. Nhìn chung, dù cách nào thì nhà ngôn ngữ học cũng thấy mối tương liên giữa mô hình hoạt động của ngôn ngữ trong giao tiếp với mô hình giao tiếp/truyền thông đã được các nhà nghiên cứu như Shannon (1947), Wiener (1948), Lasswell (1948) miêu tả trên cơ sở hệ thống hoạt động của thông tin.
Sự tham gia của ngôn ngữ học ứng dụng nhằm lí giải hoạt động giao tiếp và truyền thông, nhất là truyền thông đại chúng ngày càng được tăng cường. Từ cuộc bùng nô truyền thông giữa thé ki XX các sản phẩm truyền thông đã tăng lên một cách cực kì nhanh chóng. Tuy nhiên bất kì sản phẩm nào của truyền thông cũng liên quan đến việc sử dụng ngôn ngữ như là một công cụ biểu dat và vì vậy ngôn ngữ học ứng dụng đã tìm thấy ở đây một mảnh đất màu mỡ, có thé ứng dụng nhiều phương pháp ngôn ngữ học dé làm tăng cao hiệu quả sản phẩm đồng thời qua đó dé tăng cường hiệu lực giao tiếp. Truyền thông ngày nay là hoạt động tương tác xã hội đa dạng với nhiều địa hạt, liên quan đến rất nhiều loại sản phẩm khác nhau hoạt động trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.
Đặc điểm của truyền thông hiện đại là nó có liên kết với các dạng khác nhau của hoạt động tiếp thị. Việc giao tiếp thông tin, theo đó, làm thé nào dé củng cố nâng cao chất lượng, gây và duy trì 10 an tượng trong lòng người tiếp nhận, góp phan thay đổi nhận thức và hành vi của các nhóm đối tượng đích. Trên cơ sở đó, mục tiêu ngôn ngữ học ứng dụng mà chương | của luận án nay lựa chọn là xem xét các hoạt động của ngôn ngữ trong truyền thông như một công cụ tương tác xã hội (chức năng); trên giao diện đó các sản phẩm ngôn ngữ được vận hành như thế nao; nó có động lực, kĩ năng gì dé phát triển chất lượng sản phẩm. Nội dung li luận nghiên cứu ngôn ngữ các sản phẩm truyền thông thé hiện trong chương nay chủ yếu trên bình diện chức năng tác động gan với các tiểu chức năng ngôn ngữ trong phạm trù giao tiếp.
Những khía cạnh lí thuyết về truyền thông 1. Thuật ngữ Thuật ngữ Communication xét trên phương diện ý nghĩa có thé có các nội hàm sau: Giao tiếp (Communicative), Tỉruyên thông (Communicational) và cũng có khi đồng nghĩa với Thông tin (Information). Do chỗ các ý nghĩa nay không đồng nhất với nhau nên việc sử dụng thuật ngữ Truyền thông cần được phân biệt với các khái niệm còn lại. Đứng từ riêng góc độ Truyền thông học thuật ngữ Communication thường gắn với ý nghĩa Truyền thông là một lĩnh vực.
Bên cạnh đó còn có những thuật ngữ khác liên quan đến địa hạt này, đôi khi cũng được hiểu như là sản phâm của dịch vụ truyền thông như Media, Multimedia (nhấn mạnh đến ý nghĩa phương tiện) hay Mass media (nhẫn mạnh đến ý nghĩa quy mô). Khái niệm Nửa thế kỉ qua đã cho thấy việc áp dụng nghiên cứu truyền thông đã trở thành động lực mạnh mẽ đối với giáo dục cộng đồng và thay đổi hành vi. Với sự gia tăng của truyền thông đại chúng và các phương pháp khoa hoc dé đo lường ảnh hưởng của nó, ngày nay truyền thông đóng vai trò quyết định trong sự thay đổi xã hội, đặc biệt tại các quốc gia Mi La Tinh, Châu Phi và Chau A. Sức mạnh của truyền thông thật rõ ràng.
Truyền thông ảnh hưởng đến việc người dân bầu ai. Truyền thông quyết định con người mua gì. Truyền thông 11 gây ảnh hưởng đến điều con người mong muốn và ước nguyện phan dau của họ. Truyền thông tạo dựng nhận thức và hành vi của con người trong cuộc sống hàng ngày do chỗ con người có nhu cầu hiểu biết nhiều hơn; muốn trao đổi nhiều hơn qua các kênh thông tin và sẵn sàng chuyển đổi hành vi của họ.
Có thể thấy, ngay từ khi xuất hiện, con người không chỉ biết sử dụng thông tin, khai thác thông tin mà còn biết chinh phục nó. Từ chỗ trao đổi thông tin bình thường con người đã có sự tiễn bộ vượt bậc là sử dụng thông tin như một công cụ dé chinh phục, tác động vào đối tác của mình. Đó chính là con đường ra đời của thông tin truyền thông và hoạt động mà con người dùng thông tin để tác động đến đối tượng được coi là hoạt động truyền thông. Tách ra từ giao tiếp, có thê thấy truyền thông là hoạt động không mới trong xã hội loài người và gắn bó chặt chẽ với sự phát triển của xã hội loài người.
Tuy nhiên truyền thông được biết đến với tư cách là đối tượng của một ngành khoa học thì phải chờ cho đến những năm 40 của thé ki XX khi Khoa học giao tiếp, Ki hiệu học và Điều khiển hoc đã thực sự được định hình cùng những những thành tựu đáng kể. Những nghiên cứu có tính đột phá trong lĩnh vực này diễn ra trong những năm 60 của thế ki XX và từ đó đến nay truyền thông liên tục có được những sự phát triển cả về phương diện lí luận cũng như thực tế Với tư cách một bộ môn khoa học, Truyền thông học được phát triển liên ngành từ Ngôn ngữ học, Xã hội học, Tâm lí xã hội, Khoa học chính trị., được vận dụng rộng rãi, linh hoạt trong các hoạt động thương mại, vận động chính tri, các chương trình xã hội, các trường báo chí .và tiến triển rất nhanh. Cho đến nay khái niệm Truyền thông vẫn đang là một khái niệm mở và được tiếp cận dưới nhiều góc độ do sự tham gia rộng rãi của nó vào các mặt trong đời sống xã hội (truyền thông, giao tiếp, giáo dục, chính trị. Các định nghĩa về truyền thông đã được đưa ra trong những bối cảnh, mục đích khác nhau, chủ yếu tập trung vào ba vấn đề cơ bản: - Xác định bản chất của truyền thông 12 - Quá trình cơ bản của truyền thông - Môi trường bồi cảnh của truyền thông Trong khi thực hiện, luận án đã sử dụng định nghĩa có tính tổng hợp sau làm cơ sở cho nghiên cứu tiếp theo: Truyền thông là một quá trình (liên tục) trao đổi thông tin (nhân loại), chia sẻ thông tin, tạo sự liên kết lẫn nhau, dé dan tới sự hiểu biết, thay đổi trong nhận thức và hành vi của đối tượng đích một cách tự nguyện, tiệm tiễn và bên vững.
Theo định nghĩa này chúng ta thấy thông tin truyền thông là loại thông tin có tính chất công cụ và hoạt động truyền thông là hoạt động có tính chất tác động sâu sắc, có khả năng tạo ra những thay đổi lớn trên quy mô toàn xã hội. Truyền thông thúc đây hoặc tạo nên một cách nhìn mới và những cơ hội mới dé tăng cường các mục tiêu phát triển. Nội dung mà truyền thông hiện đại theo đuổi nằm trong thuật từ gồm có 3 chữ IEC/CIE: Communication (giao tiép/truyén thông - phương thức), Information (thông tin - nội dung), Education (giáo dục - mục tiêu). Day là sự kết hợp (hòa kết) của ba phương diện trong một loại hoạt động thông tin đặc thù nhằm tác động vào đối tượng với mong muốn can thiệp tạo ra những thay đổi ở đối tượng.
Truyền thông là hoạt động thông tin tương tác xã hội hướng tới những lợi ích nhất định và có giá trị chính phục. Nó có những chuẩn mực trong giao tiếp, ứng xử liên cá nhân trong cộng đồng, bao gồm ca văn hóa. Truyền thông, ở mỗi cộng đồng (dân tộc), đều mang những chuẩn mực và bản sắc riêng của dân tộc đó. Truyền thông ngày nay là hoạt động trao đổi thông tin đa dạng với nhiều địa hạt mà thông tin đại chúng là một mảng rất lớn ở trong phạm vi này.
Tuy nhiên không chỉ có thông tin đại chúng, truyền thông còn liên quan đến rất nhiều loại sản phẩm khác hoạt động trong tat cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Đã từ lâu, trước khi có quan niệm về cộng đồng, xã hội cũng đã tìm cách điêu chỉnh hành vi của môi cá nhân, vì lợi ích của mọi người. Sự điêu 13 chỉnh như vậy đã được thể hiện trong cấu trúc xã hội, trong chuẩn mực xã hội, truyền thông và trong các luật lệ. Tuy nhiên chi trong thế ki này, các nỗ lực cộng đồng có tô chức mới được phát triển để hỗ trợ các cá nhân.
Đây là những vấn đề được ưu tiên hàng đầu. Các bài học rút ra từ những chương trình truyền thông thể hiện sự chuyền đổi cơ bản nhận thức, hành vi của mỗi cá nhân và toàn xã hội. Chính truyền thông là cốt lõi của sự chuyên đổi này. Những thách thức của thé kỉ tới là vô cùng to lớn, từ chiến tranh và hòa bình đến 6 nhiễm môi trường.
de doa sức khoẻ và phúc lợi của hàng tỉ người. Những thách thức này vượt qua các biên giới quốc gia và đòi hỏi các nguồn lực ngày càng gia tăng. Việc đối mặt với thách thức yêu cầu cả quyết tâm chính trị và sự hiểu biết chuyên môn. Truyền thông có hiệu quả cần mức độ cam kết cao, tinh thần đồng đội giữa cá nhân và cộng đồng, cùng làm việc cho các lợi ích công cộng lành mạnh.
Chúng ta có thé thấy một chân lí cơ bản rằng, dé làm cho người khác thay đổi, trước hết chúng ta phải tự chuyển đổi mình. Truyền thông là quá trình then chốt tạo những thay đổi trong hiểu biết về các phương tiện, thay đôi về thái độ (tâm thế) đối với việc kiểm soát va sử dụng, thay đổi các chuẩn mực về quy mô trong sự cởi mở của nền văn hoá bản địa đối với những ý tưởng, những khát vọng mới và hành vi mới. Truyền thông vừa có thể diễn ra một cách tự phát bên trong và giữa các nhóm người trong xã hội, vừa chủ động băng những can thiệp có kế hoạch của các tổ chức Chính phủ, phi Chính phủ và các doanh nghiệp thương mại. Truyền thông có kế hoạch như vậy có thé khởi xướng những thay đổi, đây nhanh những thay đổi đang diễn ra hoặc củng có những thay đôi đã xuất hiện.
Truyền thông có thể phổ biến kiến thức, các giá trị và những chuẩn mực xã hội.