Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Chế định tài sản của vợ chồng giữ vai trò là cơ sở vật chất bảo đảm cho sự ổn định và thực hiện các chức năng cơ bản của gia đình. Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2015) đã bổ sung nhiều quy định mới nhằm tạo hành lang pháp lý minh bạch, bảo vệ quyền bình đẳng và quyền tự định đoạt của các bên. Tuy nhiên, sau nhiều năm áp dụng vào thực tiễn xét xử và đời sống xã hội, một số điều khoản về việc phân chia tài sản chung đã bộc lộ những vướng mắc, hạn chế, còn mang tính cứng nhắc và chưa bắt kịp tính đa dạng của các quan hệ hôn nhân tại Việt Nam.

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lã Thị Thùy Trang (ngành Luật học, chuyên ngành Luật Hôn nhân và Gia đình, Trường Đại học Luật Hà Nội, dưới sự hướng dẫn của PGS.TS. Ngô Thị Hường) tập trung phân tích toàn diện các quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật về việc chia khối tài sản này.

Mục tiêu nghiên cứu: Làm sáng tỏ những nội dung cơ bản về các trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp, kiến nghị có tính khả thi nhằm hoàn thiện quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.

Nhiệm vụ nghiên cứu (theo nguyên văn đề tài):

  1. Thứ nhất: Phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn của các quy định pháp luật về các trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng.
  2. Thứ hai: Phân tích, nghiên cứu, đánh giá quy định của pháp luật hiện hành về các trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng trong thực tế.
  3. Thứ ba: Phân tích, nhận dạng những bất cập, hạn chế khi áp dụng các quy định pháp luật về các trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng trong thực tế.
  4. Thứ tư: Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện quy định pháp luật về chia tài sản chung của vợ chồng cả dưới góc độ lập pháp lẫn áp dụng pháp luật.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Một số vấn đề lý luận chung và hệ thống quy phạm pháp luật điều chỉnh việc chia tài sản chung của vợ chồng trong các trường hợp cụ thể theo Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
  • Phạm vi nghiên cứu: Khóa luận tập trung nghiên cứu dưới góc độ lý luận và pháp lý thực định tại Việt Nam; không nghiên cứu các quan hệ chia tài sản chung của vợ chồng có yếu tố nước ngoài.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng trên hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, học thuyết pháp lý dân sự và hôn nhân gia đình, kết hợp phân tích các bản án thực tiễn.

Văn bản pháp luật và công trình nghiên cứu sử dụng:

  • Hệ thống văn bản pháp lý: Hiến pháp năm 2013; Bộ luật Dân sự năm 2015 (các điều khoản về tài sản, sở hữu chung hợp nhất, nghĩa vụ dân sự, thừa kế); Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 (Điều 28, 33, 38, 39, 40, 41, 44, 55, 59, 61, 66, 67); Luật Đất đai năm 2013; Luật Hộ tịch năm 2014; Nghị định số 126/2014/NĐ-CP; Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình.
  • Công trình khoa học kế thừa: Các nghiên cứu của PGS.TS. Nguyễn Văn Cừ (2008, 2017), TS. Trần Thị Huệ (2017), Nguyễn Thị Lan (2012), Nguyễn Thị Hồng Vân (2016), Lê Thu Trang (2017), Phạm Minh Hằng (2021).

Phương pháp nghiên cứu:

  • Phương pháp luận: Phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin; quan điểm, chủ trương của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước về hôn nhân và gia đình.
  • Phương pháp cụ thể: Phương pháp phân tích quy phạm, phương pháp so sánh - đối chiếu pháp luật qua các thời kỳ, phương pháp tổng hợp tài liệu lý luận, phương pháp thống kê và khảo sát hồ sơ xét xử thực tiễn tại Tòa án nhân dân các cấp.

Nguồn dữ liệu: Các giáo trình, sách chuyên khảo, bài báo trên các tạp chí luật học (Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Tạp chí Tòa án nhân dân); văn bản lập pháp và văn bản dưới luật; hệ thống các bản án sơ thẩm, phúc thẩm có thật được xét xử tại Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc và Tòa án cấp huyện trực thuộc.


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Một số vấn đề lý luận và pháp luật về chia tài sản chung của vợ chồng

Chương 1 hệ thống hóa khái niệm, đặc điểm và căn cứ xác lập khối tài sản chung cũng như các quy định hiện hành điều chỉnh 3 trường hợp phân chia tài sản chung của vợ chồng.

  • Vấn đề lý luận cơ bản: Tài sản chung của vợ chồng mang bản chất là sở hữu chung hợp nhất có thể phân chia (khoản 1 Điều 210 Bộ luật Dân sự 2015 và khoản 1 Điều 33 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014). Các căn cứ xác định bao gồm: căn cứ thời kỳ hôn nhân; căn cứ nguồn gốc hình thành tài sản (thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh, hoa lợi, lợi tức, thu nhập hợp pháp khác, tài sản được thừa kế/tặng cho chung); căn cứ theo sự thỏa thuận; và căn cứ theo nguyên tắc suy đoán pháp lý (khoản 3 Điều 33).
  • Quy định pháp luật theo từng trường hợp chia:
Trường hợp phân chia Căn cứ pháp lý Nguyên tắc và phương thức phân chia Hậu quả pháp lý
Trong thời kỳ hôn nhân Điều 38, 39, 40, 41, 44 Luật HN&GĐ 2014; Điều 14 NĐ 126/2014/NĐ-CP Thỏa thuận bằng văn bản (công chứng theo yêu cầu hoặc luật định) hoặc yêu cầu Tòa án giải quyết theo Điều 59; chia một phần hoặc toàn bộ. Không làm chấm dứt chế độ tài sản luật định; phần tài sản được chia trở thành tài sản riêng; quan hệ nhân thân giữa vợ chồng không thay đổi.
Khi ly hôn Điều 59, 60, 61, 62, 63, 64 Luật HN&GĐ 2014; TTLT 01/2016 Ưu tiên thỏa thuận; nếu Tòa án giải quyết: nguyên tắc chia đôi có tính đến 4 yếu tố (hoàn cảnh, công sức, bảo vệ sản xuất kinh doanh, lỗi); ưu tiên chia bằng hiện vật. Quan hệ hôn nhân và chế độ tài sản chấm dứt hoàn toàn; phát sinh nghĩa vụ thanh toán chênh lệch giá trị tài sản và nghĩa vụ cấp dưỡng khi đủ điều kiện.
Khi một bên chết hoặc bị Tòa án tuyên bố đã chết Điều 66, 67 Luật HN&GĐ 2014; Điều 611, 617, 651, 661 BLDS 2015 Chia đôi khối tài sản chung (không tính công sức đóng góp); phần của người chết chuyển thành di sản thừa kế để chia theo di chúc hoặc pháp luật. Chấm dứt quan hệ hôn nhân; bên còn sống quản lý di sản; có quyền yêu cầu hạn chế phân chia di sản nếu ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống gia đình.

Chương 2: Thực tiễn áp dụng pháp luật về chia tài sản chung của vợ chồng

Chương 2 đi sâu đánh giá kết quả đạt được và chỉ ra các vướng mắc, bất cập trong quá trình thực thi pháp luật thông qua các vụ án cụ thể:

1. Thực tiễn chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân:

  • Thành tựu: Bảo đảm quyền tự định đoạt tài sản; giảm thiểu rủi ro pháp lý trong hoạt động đầu tư, kinh doanh riêng của mỗi bên; xác định minh bạch khối tài sản hình thành từ tài sản riêng.
  • Bất cập:
    • Mâu thuẫn về thời điểm lập thỏa thuận chế độ tài sản: Điều 47 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 yêu cầu thỏa thuận chế độ tài sản phải lập trước khi kết hôn, trong khi Điều 18 Luật Hộ tịch 2014 không quy định cơ chế ghi nhận văn bản thỏa thuận khi đăng ký kết hôn, hạn chế quyền sửa đổi chế độ tài sản trong thời kỳ hôn nhân.
    • Hình thức thỏa thuận: Việc thiếu quy định bắt buộc công chứng toàn bộ thỏa thuận phân chia dẫn đến tình trạng trốn tránh nghĩa vụ với bên thứ ba hoặc phát sinh tranh chấp kéo dài do hợp đồng vô hiệu về hình thức (điển hình như tranh chấp 1,2 ha đất giữa vợ chồng bà L và ông Q).
    • Bất hợp lý về hoa lợi, lợi tức: Khoản 1 Điều 33 quy định hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng là tài sản chung, gây bất công khi một bên tự đầu tư kinh doanh riêng mà không có sự đóng góp của bên còn lại.
    • Quy định "nguồn sống duy nhất" tại Khoản 4 Điều 44: Cụm từ mang tính tuyệt đối, gây khó khăn cho việc định đoạt tài sản khi trên thực tế các gia đình thường có nhiều nguồn thu nhập phụ.

2. Thực tiễn chia tài sản chung khi ly hôn:

  • Thành tựu: Bảo vệ quyền bình đẳng giới; xóa bỏ định kiến phụ quyền; công nhận lao động nội trợ có giá trị ngang với lao động có thu nhập; bảo đảm quyền lợi của phụ nữ và con chưa thành niên.
  • Bất cập và xung đột qua các bản án:
    • Xác định công sức đóng góp: Quy định tại Điểm b Khoản 4 Điều 7 Thông tư liên tịch 01/2016 mang tính định tính. Điển hình tại Bản án sơ thẩm số 02/HNGĐ-ST của TAND huyện Gia Lâm và Bản án phúc thẩm số 06/DS-PT của TAND TP. Hà Nội, hai cấp Tòa án đã đưa ra nhận định trái ngược nhau về việc tính công sức tạo lập thửa đất và điều kiện nuôi con. Hay vụ tranh chấp 500m² đất tại Thường Tín (Hà Nội), chưa có căn cứ rõ ràng để tính công sức làm tăng giá trị đất nông nghiệp chuyển đổi sang đất ở.
    • Tài sản chung trong khối tài sản gia đình: Khó khăn trong việc thu thập chứng cứ chứng minh phần đóng góp khi vợ chồng sống chung với gia đình nhiều thế hệ.
    • Bỏ sót người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bản án sơ thẩm số 390/2019/HNGĐ-ST của TAND Quận 8 (TP.HCM) đã phân chia tài sản xây dựng mà không đưa ông Nguyễn Văn T và bên thuê mặt bằng (Nhà hàng N) vào tham gia tố tụng.
    • Nhập nhằng tài sản riêng có trước hôn nhân: Bản án số 775/2019/HNGĐ-PT của TAND TP.HCM xử lý tranh chấp giữa ông Lại Văn N và bà Nguyễn Thị T1; cấp sơ thẩm xác định quyền sử dụng đất là tài sản riêng (do nguồn gốc nhận chuyển nhượng trước hôn nhân), nhưng cấp phúc thẩm lại xác định là tài sản chung do giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp trong thời kỳ hôn nhân.
    • Định giá tài sản thiếu sót: Bản án phúc thẩm số 02/2021/HNGĐ-PT và Bản án sơ thẩm số 26/2022/HNGĐ-ST tại TAND huyện Bình Xuyên (tỉnh Vĩnh Phúc) phải hủy/xử lại do cấp sơ thẩm định giá thiếu 100m² mái tôn, tường rào, cổng sắt.
    • Thiếu định lượng về lỗi: Chưa có tỷ lệ chia cụ thể theo mức độ lỗi vi phạm quyền, nghĩa vụ vợ chồng (ví dụ cùng hành vi ngoại tình nhưng có Tòa án chia 55%, có Tòa án chia 60%).

3. Thực tiễn chia tài sản khi một bên chết hoặc bị tuyên bố đã chết:

  • Thành tựu: Áp dụng nguyên tắc chia đôi nhanh chóng (kế thừa Luật Hôn nhân và Gia đình 1986 và Pháp lệnh Thừa kế 1990), giảm tải thủ tục tố tụng.
  • Bất cập: Chưa có quy định giải quyết việc phân chia tài sản trong trường hợp người bị tuyên bố đã chết trở về nhưng hai bên không muốn tiếp tục quan hệ hôn nhân; khoảng trống pháp lý đối với giá trị pháp lý của các giao dịch dân sự và nghĩa vụ trả nợ do người còn sống xác lập trong thời gian người kia vắng mặt.

Chương 3: Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về chia tài sản chung của vợ chồng

Chương 3 đề xuất các giải pháp lập pháp và thực thi:

1. Kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật:

  • Cho phép vợ chồng được quyền thỏa thuận thay đổi chế độ tài sản trong thời kỳ hôn nhân (sửa đổi Điều 47 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014); bổ sung cơ chế đăng ký chế độ tài sản thỏa thuận vào Luật Hộ tịch.
  • Quy định bắt buộc công chứng, chứng thực đối với mọi văn bản thỏa thuận phân chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân nhằm bảo vệ bên thứ ba.
  • Sửa đổi quy định về hoa lợi, lợi tức: Trường hợp chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân để đầu tư kinh doanh riêng thì hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng đó phải thuộc về sở hữu riêng của người thực hiện đầu tư.
  • Bổ sung văn bản hướng dẫn định lượng tiêu chí "công sức đóng góp", xác định rõ cách tính công sức chuyển đổi mục đích sử dụng đất hoặc làm gia tăng giá trị tài sản riêng của một bên.
  • Xây dựng khung tỷ lệ phân chia dựa trên mức độ lỗi của mỗi bên khi vi phạm quyền, nghĩa vụ vợ chồng dẫn đến ly hôn.
  • Bổ sung quy định xử lý tài sản và nghĩa vụ tài sản liên đới trong trường hợp người bị tuyên bố đã chết trở về mà quan hệ hôn nhân không thể khôi phục.

2. Giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật:

  • Nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng nghiệp vụ và đạo đức nghề nghiệp của Thẩm phán khi xét xử các vụ án hôn nhân gia đình; khắc phục triệt để tình trạng định giá thiếu tài sản hoặc bỏ sót đương sự.
  • Phát triển và nâng cao chất lượng hoạt động của các tổ chức hành nghề công chứng nhằm hỗ trợ người dân xác lập các giao dịch tài sản an toàn, đúng pháp luật.
  • Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về chế độ tài sản vợ chồng, xóa bỏ thói quen thỏa thuận miệng thiếu tính pháp lý.
  • Tòa án nhân dân Tối cao cần tăng cường giải thích pháp luật, ban hành án lệ và hướng dẫn áp dụng thống nhất các quy định còn chung chung.

Kết quả và đóng góp

  • Kết quả pháp lý: Khóa luận đã hệ thống hóa và phân tích chuyên sâu 3 trường hợp phân chia tài sản chung của vợ chồng (trong thời kỳ hôn nhân, khi ly hôn, và khi một bên chết/bị tuyên bố đã chết); chỉ ra các điểm tiến bộ và mâu thuẫn giữa Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 với Bộ luật Dân sự 2015, Luật Hộ tịch 2014 và Luật Đất đai 2013.
  • Kết quả thực tiễn: Khóa luận đã khảo cứu, đối chiếu nhiều bản án thực tế (như các bản án tại Tòa án cấp quận/huyện và tỉnh/thành phố tại Hà Nội, TP.HCM, Vĩnh Phúc), chỉ ra những bất cập nổi bật như: định giá tài sản không đầy đủ, không thống nhất trong việc xác định thời điểm xác lập tài sản riêng, sự lúng túng trong định lượng "công sức đóng góp" và mức độ lỗi.
  • Đóng góp của tác giả: Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ gồm 2 nhóm: nhóm kiến nghị lập pháp (sửa đổi, bổ sung điều luật và ban hành văn bản hướng dẫn chi tiết) và nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi (công chứng, đào tạo thẩm phán, tuyên truyền pháp luật).

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Phạm vi nghiên cứu của đề tài giới hạn trong quan hệ hôn nhân và gia đình theo pháp luật Việt Nam thuần túy, chưa mở rộng sang việc phân chia tài sản chung của vợ chồng có yếu tố nước ngoài hoặc tài sản của vợ chồng Việt Nam ở nước ngoài.
  • Hướng nghiên cứu mở rộng: Nghiên cứu cơ chế đăng ký và công khai chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận tại cơ quan hộ tịch/đăng ký giao dịch; nghiên cứu hoàn thiện pháp luật giải quyết tranh chấp tài sản hôn nhân có yếu tố nước ngoài trong bối cảnh hội nhập quốc tế.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng sử dụng: Sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Luật Dân sự và Luật Hôn nhân & Gia đình; Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Luật sư, Công chứng viên và cán bộ tư pháp - hộ tịch.
  • Nội dung tham khảo nổi bật:
    • Phần phân tích lý luận và so sánh cơ chế chia tài sản qua các thời kỳ luật (Chương 1).
    • Hệ thống các vụ án thực tế kèm phân tích sai sót nghiệp vụ định giá và phân loại tài sản tại Tòa án các cấp (Chương 2).
    • Các đề xuất sửa đổi cụ thể cho Điều 33, 44, 47, 59, 66, 67 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 (Chương 3).

Câu hỏi thường gặp

1. Theo Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, thỏa thuận chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân có làm chấm dứt chế độ tài sản luật định của vợ chồng không? Không. Căn cứ Điều 14 Nghị định 126/2014/NĐ-CP và phân tích tại Chương 1, việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân chỉ làm thay đổi trạng thái pháp lý của phần tài sản đã chia (trở thành tài sản riêng của mỗi bên), không làm chấm dứt chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định cũng như không làm thay đổi các quyền, nghĩa vụ nhân thân giữa vợ và chồng.

2. Điểm bất cập lớn nhất giữa Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 và Luật Hộ tịch 2014 về chế độ tài sản thỏa thuận được đề tài nêu ra là gì? Điều 47 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định thỏa thuận về chế độ tài sản phải được lập trước khi kết hôn. Tuy nhiên, Điều 18 Luật Hộ tịch 2014 và các văn bản liên quan không quy định thủ tục ghi nhận hoặc kiểm tra sự tồn tại của văn bản thỏa thuận này khi đăng ký kết hôn, gây khó khăn cho việc quản lý nhà nước và hạn chế quyền sửa đổi chế độ tài sản của vợ chồng sau khi kết hôn.

3. Tại sao việc xác định "công sức đóng góp" của vợ/chồng khi ly hôn tại Tòa án thường gây tranh chấp kéo dài? Do Điểm b Khoản 4 Điều 7 Thông tư liên tịch 01/2016 chỉ đưa ra khái niệm định tính mà chưa có tiêu chí định lượng cụ thể. Pháp luật chưa có công thức tính rõ ràng đối với lao động nội trợ, công sức chăm sóc gia đình, hoặc công sức hỗ trợ thủ tục làm tăng giá trị quyền sử dụng đất riêng của bên kia, dẫn đến việc các cấp xét xử (sơ thẩm, phúc thẩm) có những phán quyết không thống nhất.

4. Nguyên tắc chia tài sản chung khi một bên vợ hoặc chồng chết theo Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 có điểm gì khác so với khi ly hôn? Khi một bên chết hoặc bị tuyên bố đã chết, tài sản chung của vợ chồng theo luật định được chia đôi ngay cho người còn sống một nửa mà không xem xét đến yếu tố công sức đóng góp hay lỗi của mỗi bên (Điều 66). Trong khi đó, khi ly hôn, nguyên tắc chia đôi bắt buộc phải tính đến 4 yếu tố luật định tại Khoản 2 Điều 59.

5. Khi người bị Tòa án tuyên bố là đã chết trở về, quan hệ tài sản được giải quyết như thế nào theo Điều 67 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014? Nếu quan hệ hôn nhân được khôi phục, quan hệ tài sản được khôi phục từ thời điểm quyết định hủy bỏ tuyên bố đã chết có hiệu lực; tài sản có được trong thời gian có quyết định tuyên bố chết là tài sản riêng của mỗi người. Nếu hôn nhân không được khôi phục, tài sản có trước khi có quyết định tuyên bố chết mà chưa chia sẽ được giải quyết như chia tài sản khi ly hôn.


Kết luận

Khóa luận của tác giả Lã Thị Thùy Trang đã phân tích một cách có hệ thống cơ sở lý luận và quy định pháp luật thực định về ba trường hợp phân chia tài sản chung của vợ chồng theo Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Thông qua việc đối chiếu với các bản án thực tiễn, công trình đã nhận diện chính xác các khoảng trống lập pháp và bất cập trong xét xử, từ khâu định giá tài sản đến việc định lượng công sức đóng góp và bảo vệ quyền lợi của bên thứ ba. Hệ thống giải pháp được đề xuất trong khóa luận cung cấp nguồn tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn cao cho việc tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện chế định tài sản hôn nhân tại Việt Nam.