Tổng quan luận án

Công trình "Triết lý nhân sinh trong ca dao, tục ngữ với việc giáo dục đạo đức cho thanh niên Việt Nam hiện nay" là luận án tiến sĩ chuyên ngành Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử (mã số 62.02), được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Hoàng Thị Thảo dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Đặng Thị Lan và PGS. Nguyễn Anh Tuấn tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội (năm 2021).

Về tính cấp thiết, tác giả luận án chỉ ra rằng ca dao, tục ngữ là bộ phận văn hóa phi vật thể đúc kết kinh nghiệm sống, lao động sản xuất và các phương châm xử thế mang triết lý nhân sinh của người Việt Nam. Trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường, mở cửa và hội nhập quốc tế, đời sống xã hội diễn biến phức tạp, dẫn tới sự biến đổi trong nhận thức và lối sống của giới trẻ. Một bộ phận thanh niên xuất hiện biểu hiện suy thoái đạo đức, thực dụng, sinh hoạt buông thả, phai nhạt lý tưởng, quay lưng với truyền thống văn hóa dân tộc. Tình trạng này được khẳng định qua đánh giá tại Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ XI (năm 2017) của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. Do đó, việc nghiên cứu các giá trị văn hóa, đạo đức trong ca dao, tục ngữ để định hướng nhân cách cho thế hệ trẻ là đòi hỏi cấp thiết từ thực tiễn. Về mặt học thuật, khoảng trống nghiên cứu nằm ở chỗ ca dao, tục ngữ lâu nay chủ yếu được khai thác dưới góc độ văn học, văn hóa dân gian hoặc sưu tầm kinh nghiệm, chưa có công trình nào tiếp cận một cách hệ thống dưới góc độ triết học mác-xít để phục vụ công tác giáo dục đạo đức thanh niên.

Mục đích nghiên cứu của đề tài là phân tích một số vấn đề lý luận cơ bản liên quan trực tiếp đến đề tài và nội dung triết lý nhân sinh trong ca dao, tục ngữ Việt Nam, từ đó chỉ ra ý nghĩa của nó đối với giáo dục đạo đức thanh niên Việt Nam hiện nay. Để đạt được mục đích này, tác giả xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến các nội dung của đề tài, từ đó chỉ ra một số vấn đề luận án cần tiếp tục giải quyết.
  2. Nghiên cứu làm rõ một số vấn đề lý luận về triết lý nhân sinh trong ca dao, tục ngữ, về giáo dục đạo đức cho thanh niên Việt Nam hiện nay.
  3. Phân tích khái quát một số nội dung cơ bản của triết lý nhân sinh trong kho tàng ca dao, tục ngữ, từ đó khẳng định những giá trị của triết lý nhân sinh trong ca dao, tục ngữ Việt Nam.
  4. Trên cơ sở những nội dung cơ bản và giá trị của ca dao, tục ngữ, luận án làm sáng tỏ ý nghĩa của chúng với giáo dục đạo đức thanh niên Việt Nam hiện nay.

Đối tượng nghiên cứu của luận án là triết lý nhân sinh trong ca dao, tục ngữ với việc giáo dục đạo đức cho thanh niên Việt Nam hiện nay.

Phạm vi nghiên cứu được giới hạn ở lĩnh vực giáo dục đạo đức thanh niên, tập trung làm rõ ý nghĩa của việc vận dụng nội dung triết lý nhân sinh trong ca dao, tục ngữ thể hiện qua 4 trục nội dung: triết lý tu thân; triết lý sống hòa thuận, yêu thương trong gia đình; triết lý sống hài hòa giữa con người với xã hội; và triết lý sống hòa hợp với tự nhiên. Về mặt tư liệu và không gian, luận án khảo sát kho tàng ca dao, tục ngữ chủ yếu ở khu vực Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ, thông qua các nguồn văn bản do Nhà xuất bản Thanh niên, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin Hà Nội và Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Hà Nội tuyển chọn, ấn hành.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án phân loại các tài liệu tiền nhiệm thành 4 nhóm nghiên cứu chính:

Nhóm nghiên cứu về triết lý và triết lý nhân sinh: Trong nước có các công trình của Nguyễn Văn Huyên (2000) với "Triết lý phát triển - từ Mác và Lênin đến Hồ Chí Minh" luận giải về phát triển bền vững và nhân văn; Nguyễn Hùng Hậu (2004) với "Triết lý trong văn hóa phương Đông" nghiên cứu đặc điểm văn hóa Ấn Độ, Trung Quốc và Việt Nam tác động đến nhân cách con người; Lê Kiến Cầu (2008) trong "Triết lý nhân sinh" làm rõ các vấn đề sinh mệnh, nhân tính và chủ nghĩa thực dụng, công lợi; Nguyễn Gia Linh (2009) với "Triết lý nhân sinh cuộc đời" gồm 9 chương hệ thống hóa 163 triết lý về thân phận, nội tâm. Về tài liệu nước ngoài, có công trình của Du Minh Hoàng (chủ biên, 1954) về "Nhân sinh quan mới"; Samuel Enoch Stumpf (2004) trong "Lịch sử triết học và các luận đề" và tác phẩm "Nhập môn triết học phương Tây" (cùng Dona C.Abel, 2004) phân tích các học thuyết đạo đức của J.Mill, Arixtốt; Stanley Rosen (2006) trong "Triết học nhân sinh" khái quát lịch sử tư tưởng phương Tây từ Platôn đến Cantơ xoay quanh vấn đề nhân sinh.

Nhóm nghiên cứu về ca dao, tục ngữ Việt Nam: Nguyễn Văn Ngọc (1928) với bộ sách 4 tập "Tục ngữ phong dao"; Chu Xuân Diên cùng nhóm tác giả (1975) với "Tục ngữ Việt Nam" nhìn nhận tục ngữ như hiện tượng ý thức xã hội hỗn hợp; Vũ Ngọc Phan (1998) trong "Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam" phân tích hình thức nghệ thuật và kinh nghiệm ứng xử; Vũ Thị Thu Hương (2000) với "Ca dao Việt Nam và những lời bình"; Nguyễn Nghĩa Dân (2000) với "Đạo làm người trong Tục ngữ, Ca dao Việt Nam"; Thao Nguyễn (2002) với "Ca dao Việt Nam - Viên ngọc quý trong kho tàng văn học dân gian"; Cao Tuyết Minh (2005) tuyển chọn "Tục ngữ - Ca dao Việt Nam"; Nguyễn Văn Mỹ (2007) với bài viết "Đạo làm con trong ca dao, tục ngữ Việt Nam"; Xuân Tùng (2008) với "Tục ngữ, ca dao Việt Nam"; Phúc Hải (2008) với "Ca dao Việt Nam đặc sắc"; Sương Nguyệt Minh (2009) với "Hạt ngọc trầm tích"; Khánh Yên (2009) với bài viết "Nhận diện đạo đức con người qua tục ngữ và thơ ca dân gian"; Lê Huy Thực (2013) với bài viết "Đạo đức - một giá trị được tôn vinh trong kho tàng tục ngữ, thơ ca dân gian Việt Nam"; Nguyễn Ngọc Hà (2014) với "Tục ngữ, ca dao Việt Nam"; Đặng Hà (2014) với bộ sách 4 tập "Thành ngữ - tục ngữ - ca dao - dân ca Việt Nam".

Nhóm nghiên cứu yếu tố triết lý và triết lý nhân sinh trong ca dao, tục ngữ: Vũ Hùng (2007) với "Tìm hiểu yếu tố triết học (hay triết lý dân gian) trong tục ngữ Việt Nam" chỉ ra tính duy vật tự phát và tư tưởng biện chứng mộc mạc; Bùi Văn Dũng (2007) với đề tài cấp Bộ "Tìm hiểu tư tưởng Triết học về con người trong thành ngữ, tục ngữ Việt Nam"; Hà Đan (2009) với "Đi tìm vẻ đẹp người thầy trong ca dao, tục ngữ"; Lê Huy Thực (2010) với bài viết "Quan niệm về hạnh phúc dưới dạng lý tưởng của nó trong tục ngữ, thơ ca dân gian Việt Nam"; Nguyễn Thị Tình (2017) với "Một số nội dung cơ bản của triết lý nhân sinh trong ca dao, tục ngữ Việt Nam"; Hoàng Thúc Lân (chủ biên, 2017) trong "Triết lý nhân sinh trong ca dao, tục ngữ Việt Nam" bàn về quan hệ giữa con người với tự nhiên, xã hội và bản thân.

Nhóm nghiên cứu về giáo dục đạo đức thanh niên và vận dụng ca dao, tục ngữ: Nguyễn Đình Đức và Thái Duy Tuyên (1994) với chương trình cấp Nhà nước "Tìm hiểu định hướng giá trị của thanh niên Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị trường"; Trần Sỹ Phan (1996) với luận án "Giáo dục đạo đức đối với sự hình thành và phát triển nhân cách sinh viên Việt Nam trong giai đoạn hiện nay"; Văn Tùng (1999) với "Tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục thanh niên"; Trần Minh Doan (2002) với luận án "Giáo dục đạo đức cho thanh niên, học sinh theo tư tưởng Hồ Chí Minh ở nước ta hiện nay"; Lê Thị Hoài Thanh (2003) với luận án "Quan hệ biện chứng giữa truyền thống và hiện đại trong giáo dục đạo đức cho thanh niên Việt Nam hiện nay"; Phạm Hồng Tung (2011) với "Thanh niên và lối sống của thanh niên Việt Nam trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế"; Lương Gia Ban và Nguyễn Thế Kiệt (2013) với "Giáo dục đạo đức mới cho sinh viên trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay". Bên cạnh đó là các bài viết chuyên đề của Nguyễn Thế Kiệt (1996), Hoàng Trung (1998), Lê Thị Thủy (1999), Đỗ Tuyết Bảo (2000), Đoàn Văn Kiệm (2001), Nguyễn Đình Tường (2006). Khi đi vào khai thác ca dao, tục ngữ gắn với giáo dục đạo đức, có bài viết của Nguyễn Thị Vân (2014); luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Tình (2018) về triết lý nhân sinh đối với đời sống xã hội; luận án của Trần Thị Thơm (2020) về đạo làm người; luận án của Nguyễn Quế Diệu (2020) về tư tưởng đạo đức trong ca dao, tục ngữ Việt Nam.

Hướng nghiên cứu Tác giả tiêu biểu Trọng tâm phân tích Điểm hạn chế hoặc khoảng trống
Lý luận về triết lý và triết lý nhân sinh Nguyễn Văn Huyên (2000), Nguyễn Hùng Hậu (2004), Lê Kiến Cầu (2008), S.E. Stumpf (2004) Bản chất triết lý, nhân sinh quan, tư tưởng đạo đức phương Đông và phương Tây Nghiên cứu ở tầm lý luận chung, chưa gắn kết trực tiếp với ca dao, tục ngữ dân gian Việt Nam
Văn học và văn hóa dân gian Nguyễn Văn Ngọc (1928), Chu Xuân Diên (1975), Vũ Ngọc Phan (1998), Đặng Hà (2014) Sưu tầm, chú giải, phân loại nghệ thuật, đúc kết kinh nghiệm sống và ứng xử Chủ yếu tiếp cận dưới góc độ văn học, văn hóa học; chưa đi sâu vào bản chất triết học
Yếu tố triết lý trong ca dao, tục ngữ Vũ Hùng (2007), Bùi Văn Dũng (2007), Hoàng Thúc Lân (2017), Nguyễn Thị Tình (2017) Phân tích tư tưởng duy vật tự phát, quan niệm về con người và tự nhiên Khảo sát ở phạm vi hẹp hoặc diễn giải đơn lẻ, chưa gắn với giáo dục đạo đức thanh niên
Giáo dục đạo đức cho thanh niên Nguyễn Đình Đức (1994), Trần Sỹ Phan (1996), Lê Thị Hoài Thanh (2003), Phạm Hồng Tung (2011) Thực trạng đạo đức sinh viên, lối sống thanh niên trong nền kinh tế thị trường Đề xuất giải pháp chung, chưa khai thác triệt để triết lý nhân sinh ca dao, tục ngữ làm chất liệu
Vận dụng ca dao tục ngữ giáo dục đạo đức Nguyễn Thị Vân (2014), Nguyễn Thị Tình (2018), Trần Thị Thơm (2020), Nguyễn Quế Diệu (2020) Đạo làm người, tư tưởng đạo đức đối với xã hội nói chung Chưa tập trung làm rõ tác động chuyên biệt đến nhóm đối tượng thanh niên hiện nay

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết là: xây dựng hệ thống lý luận triết học mác-xít về triết lý nhân sinh trong ca dao, tục ngữ Việt Nam, chỉ ra các nội dung cốt lõi gắn liền với tồn tại xã hội, đồng thời luận giải ý nghĩa của các triết lý này đối với công tác giáo dục đạo đức thanh niên Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Về cơ sở lý luận, luận án dựa trên nền tảng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội: xuất phát từ tồn tại xã hội để luận giải ý thức xã hội, đồng thời phát huy tính độc lập tương đối và vai trò tác động trở lại của ý thức xã hội đối với đời sống thực tiễn.

Luận án xây dựng các định nghĩa và khung khái niệm công cụ:

  • Triết lý: Kế thừa quan điểm của Phạm Xuân Nam, Vũ Khiêu, Lương Đình Hải và Hoàng Trinh, luận án xác định triết lý là tri thức có tính triết học kết tinh từ hoạt động thực tiễn của con người, được thể hiện bằng ngôn ngữ cô đọng, chau chuốt những luận điểm, mệnh đề, tư tưởng có tác dụng làm cơ sở định hướng, chỉ dẫn cho con người về mặt thế giới quan, phương pháp luận trong ứng xử với bản thân, xã hội và tự nhiên.
  • Triết lý nhân sinh: Là những quan niệm súc tích, cô đọng về cuộc sống, lẽ sống, mục đích, ý nghĩa, giá trị của đời sống con người; về bản thân; về mối quan hệ giữa con người với xã hội và với tự nhiên. Triết lý này hình thành từ kinh nghiệm sống kết hợp với tri thức văn hóa - xã hội tiếp nhận từ bên ngoài, đóng vai trò kim chỉ nam hướng con người tới giá trị chân, thiện, mỹ.
  • Tục ngữ và Ca dao: Dẫn theo Vũ Ngọc Phan, tục ngữ là một câu tự nó diễn trọn một ý, một phán đoán khách quan về hiện thực ("cái vốn có"); còn ca dao thiên về cảm xúc, tâm tình chủ quan, bộc lộ khát vọng cải tạo hiện thực ("cái nên có").
  • Giáo dục đạo đức: Là quá trình truyền thụ nhằm chuyển hóa kinh nghiệm, tri thức, lý tưởng và chuẩn mực xã hội thành phẩm chất đạo đức cá nhân.
  • Thanh niên: Được xác định theo Điều 1 Luật Thanh niên năm 2005 là công dân Việt Nam từ đủ 16 tuổi đến 30 tuổi, chiếm 28,9% dân số và 36,4% lực lượng lao động của xã hội.

Về phương pháp nghiên cứu, tác giả vận dụng các nguyên tắc của phương pháp luận biện chứng duy vật; kết hợp các phương pháp nghiên cứu lý thuyết gồm: thống nhất lịch sử và lôgíc, phân tích và tổng hợp, quy nạp và diễn dịch, so sánh, đối chiếu văn bản, khái quát hóa, trừu tượng hóa và phương pháp chú giải học (hermeneutics). Luận án cũng sử dụng các phương pháp liên ngành ngôn ngữ học và văn hóa học.

Nguồn tư liệu sử dụng gồm hai hệ thống:

  1. Nguồn ngữ liệu dân gian: Các tuyển tập ca dao, tục ngữ Việt Nam của Nguyễn Văn Ngọc, Chu Xuân Diên, Vũ Ngọc Phan, Đặng Hà... do các nhà xuất bản uy tín ấn hành.
  2. Nguồn số liệu thực chứng về thực trạng thanh niên: Trích xuất từ các báo cáo khảo sát xã hội học của Viện Nghiên cứu thanh niên (tháng 3/2019 và cả năm 2019) và các văn kiện chính trị - xã hội.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Chương 1 thực hiện tổng lược toàn bộ các tư liệu học thuật liên quan theo 4 nhóm vấn đề chính, chỉ ra những thành tựu đạt được của các học giả đi trước về việc sưu tập, phân loại ca dao, tục ngữ và phân tích lối sống thanh niên. Tuy nhiên, tác giả khẳng định các nghiên cứu trước đây chủ yếu dừng lại ở góc độ văn học dân gian, văn hóa học hoặc nghiên cứu thực trạng xã hội học chung, chưa xây dựng được một hệ thống lý luận triết học hoàn chỉnh. Trên cơ sở đó, chương 1 xác định 3 vấn đề trọng tâm cần giải quyết:

  • Làm rõ các vấn đề lý luận và đưa ra định nghĩa triết học về triết lý nhân sinh trong ca dao, tục ngữ Việt Nam.
  • Phân tích có hệ thống 4 nội dung cơ bản của triết lý nhân sinh xuất phát từ tồn tại xã hội: triết lý tu thân; triết lý gia đình; triết lý xã hội; triết lý tự nhiên.
  • Luận giải ý nghĩa của triết lý nhân sinh đối với việc hoàn thiện nhân cách, điều chỉnh hành vi và giáo dục đạo đức cho thanh niên trong bối cảnh hiện nay.

Chương 2: Một số vấn đề lý luận về triết lý nhân sinh trong ca dao, tục ngữ và giáo dục đạo đức cho thanh niên Việt Nam hiện nay

Chương 2 làm rõ nội hàm khái niệm triết lý, triết học và triết lý nhân sinh trong truyền thống văn hóa phương Đông và phương Tây. Tác giả phân tích nguồn gốc xã hội, bản chất của ca dao và tục ngữ; làm rõ mối quan hệ giữa nhận thức khách quan của tục ngữ và biểu đạt khát vọng chủ quan của ca dao.

Tiếp đó, chương 2 phân tích khái niệm giáo dục đạo đức và đặc điểm tâm sinh lý, vị trí xã hội của thanh niên lứa tuổi 16-30. Tác giả tổng hợp dữ liệu thực trạng đạo đức thanh niên từ các cuộc điều tra xã hội học của Viện Nghiên cứu thanh niên năm 2019:

Chỉ số khảo sát nhận thức và định hướng giá trị của thanh niên (2019) Tỷ lệ (%)
Đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên lợi ích cá nhân 76,5%
Mong muốn cống hiến xây dựng đất nước 81,0%
Đặt mục tiêu làm cho dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh 76,3%
Nhận thức trách nhiệm với đất nước và hăng hái tham gia 74,6%
Cho rằng đạo lý "Uống nước nhớ nguồn" còn nguyên giá trị 70,6%
Sống có trách nhiệm với gia đình và xã hội 62,5%
Có ý chí phấn đấu trong cuộc sống 61,6%
Sống trung thực, lành mạnh, có văn hóa 59,2%
Cho rằng khi yêu nhau không nhất thiết phải tiến tới hôn nhân 33,2%
Chấp nhận hành động mà không quan tâm ảnh hưởng tới người khác 33,0%
Nhận thức rằng tiền là quan trọng, "có tiền là có tất cả" 24,3%
Sẵn sàng đặt lợi ích cá nhân lên trên hết, không quan tâm người khác 18,0%

Từ những dữ liệu trên, luận án khẳng định mặt tích cực chiếm đa số trong thanh niên nhưng đồng thời chỉ rõ sự gia tăng của chủ nghĩa cá nhân, lối sống thực dụng, suy giảm trách nhiệm cộng đồng và sự phai nhạt truyền thống ở một bộ phận giới trẻ, đặt ra yêu cầu cấp bách phải tăng cường giáo dục đạo đức.

Chương 3: Những nội dung và giá trị cơ bản của triết lý nhân sinh trong ca dao, tục ngữ Việt Nam

Chương 3 đi sâu phân tích 4 trục nội dung cơ bản của triết lý nhân sinh trong ca dao, tục ngữ Việt Nam:

  1. Triết lý tu thân: Đề cao ý thức tự rèn luyện, giữ gìn danh dự, lòng tự trọng ("Đói cho sạch, rách cho thơm"), rèn luyện tính cần cù, kiên nhẫn ("Có công mài sắt có ngày nên kim"), học hỏi ("Học ăn, học nói, học gói, học mở"), trau dồi phẩm hạnh cao hơn hình thức vật chất bên ngoài.
  2. Triết lý sống hòa thuận, yêu thương trong gia đình: Nhấn mạnh đạo hiếu đối với cha mẹ ("Công cha như núi Thái Sơn / Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra"), nghĩa tình vợ chồng thủy chung son sắt ("Thuận vợ thuận chồng tát bể Đông cũng cạn"), sự hòa thuận đùm bọc giữa anh em ruột thịt ("Anh em như thể tay chân").
  3. Triết lý sống hài hòa giữa con người với xã hội: Đề cao tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái ("Lá lành đùm lá rách", "Bầu ơi thương lấy bí cùng"), đạo lý biết ơn ("Ăn quả nhớ kẻ trồng cây"), sự trung thực, tôn trọng chữ tín và cách ứng xử khéo léo, tôn trọng lẫn nhau ("Lời nói chẳng mất tiền mua / Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau").
  4. Triết lý sống hòa hợp với tự nhiên: Nhận thức quy luật khách quan của giới tự nhiên, tôn trọng môi trường sống, kinh nghiệm sản xuất nông nghiệp gắn kết hài hòa với thời tiết, đất đai, không tàn phá thiên nhiên.

Từ các nội dung này, tác giả khái quát giá trị nhân văn, giá trị nhận thức và giá trị định hướng hành vi của triết lý nhân sinh dân gian.

Chương 4: Ý nghĩa của triết lý nhân sinh trong ca dao, tục ngữ đối với giáo dục đạo đức thanh niên Việt Nam hiện nay

Chương 4 luận giải vai trò và phương thức tác động của triết lý nhân sinh ca dao, tục ngữ vào các chiều cạnh nhân cách của thanh niên:

  • Tu dưỡng, rèn luyện bản thân: Giúp thanh niên hình thành bản lĩnh sống, ý thức tự lập, tinh thần vượt khó, khắc phục tâm lý ỷ lại, lối sống thực dụng và sự tha hóa nhân cách.
  • Giáo dục giá trị đạo đức gia đình: Củng cố bổn phận làm con, tinh thần hiếu nghĩa, trách nhiệm xây dựng gia đình hòa thuận, chống lại xu hướng xem nhẹ hôn nhân và trách nhiệm gia đình.
  • Giáo dục giá trị đạo đức xã hội: Khơi dậy tinh thần cộng đồng, lòng nhân ái, sự trung thực và tính tích cực xã hội, giảm thiểu lối sống vô cảm, chủ nghĩa cá nhân ích kỷ.
  • Nâng cao nhận thức bảo vệ môi trường sinh thái nhân văn: Định hướng thái độ ứng xử đúng đắn với môi trường sống tự nhiên và xây dựng môi trường văn hóa xã hội lành mạnh.
  • Ý thức bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc: Giúp thế hệ trẻ nhận thức sâu sắc giá trị cội nguồn, tự hào dân tộc, đề kháng trước các luồng văn hóa lai căng, độc hại trong quá trình toàn cầu hóa.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự xác định các đóng góp mới về lý luận và thực tiễn:

  • Về mặt lý luận: Làm rõ hơn khái niệm, đặc điểm và hệ thống hóa các nội dung cơ bản của triết lý nhân sinh trong ca dao, tục ngữ dưới lăng kính của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; qua đó khẳng định tính đúng đắn và giá trị của các triết lý nhân sinh dân gian truyền thống trong lịch sử tư tưởng dân tộc.
  • Về mặt thực tiễn: Luận giải một cách có hệ thống ý nghĩa thực tiễn của triết lý nhân sinh trong ca dao, tục ngữ đối với các phương diện giáo dục đạo đức thanh niên hiện nay: từ tu dưỡng cá nhân, đạo đức gia đình, quan hệ xã hội đến ý thức sinh thái và bảo tồn văn hóa.
  • Khuyến nghị và giải pháp: Luận án đề xuất việc khai thác có chọn lọc các câu ca dao, tục ngữ phù hợp với điều kiện xã hội mới; tích hợp các nội dung này vào chương trình giảng dạy đạo đức, giáo dục công dân, kỹ năng sống và hoạt động thực tiễn của Đoàn Thanh niên, Hội Sinh viên nhằm xây dựng chuẩn mực đạo đức con người mới.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế, văn bản luận án chỉ ra các giới hạn sau:

  • Về phạm vi tư liệu: Luận án mới chỉ tập trung khai thác các câu ca dao, tục ngữ tiêu biểu chủ yếu ở vùng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ, trích từ một số nhà xuất bản cụ thể (Thanh niên, Khoa học xã hội, Văn hóa Thông tin, Chính trị Quốc gia), chưa bao quát hết kho tàng tục ngữ, ca dao của toàn bộ các vùng miền Nam Trung Bộ, Nam Bộ cũng như văn học dân gian của các dân tộc thiểu số tại Việt Nam.
  • Về phạm vi nội dung: Trong kho tàng phong phú của văn học dân gian, do tính chất đa nghĩa của câu từ, luận án mới chỉ lựa chọn và phân tích những câu ca dao, tục ngữ mang tính chất tiêu biểu, phản ánh rõ nét nhất các trục triết lý nhân sinh phục vụ mục đích nghiên cứu đã đề ra.

Từ các hạn chế khách quan trên, hướng nghiên cứu tiếp theo bao gồm: mở rộng khảo cứu kho tàng ca dao, tục ngữ của các vùng miền khác và của các dân tộc thiểu số; phân tích chuyên sâu các mô hình thực nghiệm đưa triết lý dân gian vào chương trình giảng dạy lý luận chính trị và kỹ năng sống cho thanh niên trong các cơ sở giáo dục.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo cho các đối tượng và lĩnh vực cụ thể:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên: Hữu ích trong giảng dạy và nghiên cứu các chuyên ngành Triết học, Đạo đức học, Lịch sử tư tưởng Việt Nam, Văn hóa học, Cơ sở văn hóa Việt Nam và Văn học dân gian.
  • Cán bộ quản lý giáo dục, giáo viên phổ thông: Cung cấp tư liệu và phương pháp luận để biên soạn bài giảng môn Giáo dục công dân, Giáo dục đạo đức và rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh, sinh viên.
  • Tổ chức Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Hội Sinh viên và nhà làm chính sách thanh niên: Cung cấp cơ sở lý luận và số liệu thực trạng xã hội học để xây dựng các chương trình hành động, phong trào thanh niên và đề án giáo dục lý tưởng, đạo đức, lối sống văn hóa cho thế hệ trẻ.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án định nghĩa "triết lý nhân sinh trong ca dao, tục ngữ Việt Nam" như thế nào?
Luận án xác định triết lý nhân sinh trong ca dao, tục ngữ Việt Nam là những quan niệm cô đọng về cuộc sống, lẽ sống, mục đích, ý nghĩa, giá trị của đời người; là tâm tư tình cảm, kinh nghiệm, kiến thức quý báu của cha ông về nguồn gốc con người, đạo làm người, cách ứng xử với bản thân, giữa con người với con người và với tự nhiên. Chúng được diễn đạt bằng mệnh đề ngắn, có vần điệu hoặc câu thơ lục bát dễ nhớ, dễ thuộc, trở thành kim chỉ nam cho nhận thức và hành động của con người.

2. Tác giả phân biệt ranh giới giữa "tục ngữ" và "ca dao" dựa trên tiêu chí nào?
Dẫn theo quan điểm của Vũ Ngọc Phan, luận án phân biệt: Tục ngữ là một câu hoàn chỉnh, phán đoán khách quan, thiên về lý trí, dừng lại ở việc phản ánh hiện thực ("cái vốn có"); trong khi ca dao thiên về tình cảm, cảm xúc chủ quan, bộc lộ tâm tư và nguyện vọng của nhân dân hướng tới việc cải tạo hiện thực ("cái nên có").

3. Khảo sát năm 2019 của Viện Nghiên cứu thanh niên nêu trong luận án chỉ ra những biểu hiện tiêu cực nào?
Số liệu khảo sát chỉ ra một bộ phận thanh niên có biểu hiện lệch lạc: 33,2% cho rằng khi yêu nhau không nhất thiết phải tiến tới hôn nhân; 24,3% quan niệm tiền bạc là quan trọng nhất ("có tiền là có tất cả"); 18% sinh viên sẵn sàng đặt lợi ích cá nhân lên trên hết và không quan tâm đến người khác; 33% sinh viên chấp nhận hành động mà không quan tâm hành động đó ảnh hưởng thế nào đến xung quanh.

4. Bốn trục nội dung cơ bản của triết lý nhân sinh được luận án hệ thống hóa là gì?
Bốn trục nội dung gồm: (1) Triết lý tu thân (rèn luyện nhân cách, đạo đức cá nhân); (2) Triết lý sống hòa thuận, yêu thương trong gia đình; (3) Triết lý sống hài hòa giữa con người với xã hội; (4) Triết lý sống hòa hợp với tự nhiên.

5. Luận án phân định độ tuổi thanh niên căn cứ vào văn bản pháp lý nào?
Luận án căn cứ vào Điều 1 Luật Thanh niên năm 2005, xác định thanh niên là công dân Việt Nam từ đủ 16 tuổi đến 30 tuổi (chiếm 28,9% dân số và 36,4% lực lượng lao động xã hội tại thời điểm nghiên cứu).

Kết luận

Luận án tiến sĩ của Hoàng Thị Thảo đã hệ thống hóa cơ sở lý luận triết học mác-xít về triết lý nhân sinh trong kho tàng ca dao, tục ngữ Việt Nam và mối quan hệ của nó với giáo dục đạo đức thanh niên. Bằng việc phân tích 4 nội dung nhân sinh cốt lõi (tu thân, gia đình, xã hội, tự nhiên), công trình chỉ rõ các giá trị định hướng hành vi đối với giới trẻ trước tác động tiêu cực của kinh tế thị trường và toàn cầu hóa. Đây là công trình nghiên cứu chuyên ngành Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử, cung cấp nguồn tư liệu học thuật phục vụ công tác giảng dạy lý luận, văn hóa và giáo dục nhân cách thế hệ trẻ hiện nay.