phần mở đầu, kết luận, danh mục các công trình của tác giả liên quan đến luận án, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận án gồm 4 chương, 11 tiết. TONG QUAN TINH HÌNH NGHIEN CUU LIEN QUAN DEN DE TAI Nghiên cứu về các hình thức của nền văn hóa dan gian nói chung va về ca dao, tục ngữ nói riêng nhằm khám phá hệ thống triết lý dân gian - mạch ngầm văn hóa sâu thăm của dân tộc Việt Nam là một công việc thực sự quan trọng và có ý nghĩa thiết thực trong sự nghiệp phát triển nền văn hóa dân tộc. Trong hệ thống triết lý dân gian của người Việt thì triết lý nhân sinh là một phần chủ yếu và quan trọng được thê hiện sâu sắc trong các sáng tác dân gian nói chung và trong ca đao, tục ngữ nói riêng. Từ trước đến nay, việc nghiên cứu ca đao, tục ngữ; triết lý dân gian; triết lý nhân sinh thể hiện qua ca dao, tục ngữ và giáo dục đạo đức cho con người đã thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước.
Các công trình nghiên cứu về triết lý nhân sinh trong ca dao, tục ngữ Việt Nam * Các công trình nghiên cứu về triết lý và triết lý nhân sinh Tác giả Nguyễn Văn Huyên (2000) có công trình nghiên cứu Triết ly phát triển - từ Mác và Lênin đến Hồ Chí Minh [38], trong đó đề cập đến nhiều nội dung như: Nguồn gốc, khái niệm và nội dung triết lý phát triển của Hồ Chí Minh, việc vận dụng triết lý phát triển này trong công cuộc xây dựng, đôi mới dat nước ta hiện nay. dé từ đó tác giả khang định triết lý của Hồ Chi Minh về phát triển đất nước không dừng lại ở lý thuyết, mà đã được hòa quyện vào hoạt động thực tiễn. Bên cạnh đó tác giả chỉ ra rằng, nội dung cơ ban của triết ly phát triên Hồ Chi Minh, đặc biệt là nguyên lý, linh hồn của triết lý phát triển theo đúng nghĩa của nó - phát triển bền vững, phát triển theo hướng nhân văn - là nguyên lý, là triết lý phát triển đúng đắn, khoa học, phù hợp với xu thế của thời đại ngày nay; góp phần quan trọng và mở hướng đi day triển vọng cho chúng ta trong thế giới hiện đại tiếp tục tìm tòi, khám phá, xây dựng một triết lý phát triển bền vững thích hợp nhất với con người. Day là công trình nghiên cứu có giá tri, là tài liệu tham khảo hữu ích giúp NCS tim hiệu một sô van đê lý luận về triệt lý nhân sinh trong ca dao, tục ngữ.
Tác giả Nguyễn Hùng Hậu (2004) trong công trình Triét lý trong văn hóa phương Đông [36] đã nghiên cứu những đặc điểm của triết lý văn hóa ở ba nước: Ấn Độ, Trung Quốc và Việt Nam. Qua việc làm rõ những đặc điểm của nền văn hóa Ấn Độ, Trung Quốc, tác giả đã chỉ rõ sự ảnh hưởng của nó tới nền văn hóa Việt Nam. Qua đó giúp chúng ta hiểu được tính cách người phương Đông nói chung và người Việt Nam nói riêng, từ đó đưa ra những chiến lược phát triển văn hóa, trong đó có phát triển con người một cách thích hợp, góp phần vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Có thể nói, công trình này chứa đựng nhiều nội dung có giá trị và ý nghĩa khoa học lớn, làm cơ sở cho việc tiếp tục nghiên cứu sâu sắc hơn về nền văn hóa truyền thong của dân tộc trong đời sống tinh than con người Việt Nam.
Vì vậy, công trình là tài liệu tham khảo hữu ích giúp NCS hiểu rõ hơn cơ sở hình thành, đặc điểm của những giá tri tinh thần truyền thống của dân tộc nói chung, của quan niệm về triết lý nhân sinh trong ca dao, tục ngữ Việt Nam nói riêng. Tác giả Lê Kiến Cau (2008) trong công trình Triét lý nhân sinh [8] đã đề cập nhiều về vấn đề nhân sinh mà con người gặp phải trong cuộc sống thường nhật, về các trường phái triết học trong lịch sử như: chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩa công lợi. Bên cạnh đó tác giả đã chỉ ra được ý nghĩa của triết lý nhân sinh là con người cần chủ động, tích cực tìm tòi các phương thức hành động dé đạt được mục đích. Tác giả Nguyễn Gia Linh (2009) trong công trình Triét lý nhân sinh cuộc đời [62] gồm 9 chương đã sưu tầm tới 163 triết lý nhân sinh.
Qua đó tác giả đã giới thiệu một số nội dung cơ bản trong quan niệm sống của con người như: Thân phận, tính cách, nội tâm. Trong cuộc sống mỗi người đều phải thường xuyên đối mặt với các vấn đề cá nhân, công việc, xã hội. Bat ké thé nào thì chúng ta cũng đều muốn thành công và tìm cách tránh thất bại hay phải đi đường vòng. Triết lý nhân sinh của cuộc đời giúp chúng ta nhẹ nhàng hơn khi đối mặt với các vấn đề trong cuộc sống, hiểu biết và năm chắc cuộc sống của mình.
Đây chính là cây đèn soi sáng con đường đưa chúng ta tới thành công và lý tưởng mơ ước. Công trình giúp tác g1ả luận án có cái nhìn sâu sắc hơn về ảnh hưởng của triết lý nhân sinh đến đời sống, con người Việt Nam nói chung và thanh niên nói riêng. Các công trình nghiên cứu về triết lý và triết lý nhân sinh cũng được nhiều học giả nước ngoài công bố như: Nhân sinh quan mới [37] của Du Minh Hoàng (chủ biên, 1954) đề cập đến vấn đề nhân sinh quan của con người. Tác giả đã so sánh sự khác nhau giữa nhân sinh quan cách mạng với nhân sinh quan của các giai cấp khác, giữa nhân sinh quan trước đây và ngày nay.
Các tác giả xem nhân sinh quan chính là đạo làm người trong cuộc sống. Tác gia Samuel Enoch Stumpf (2004) trong công trình nghiên cứu Lich sử triết học và các luận đề [95] đã đề cập đến đạo đức - một bộ phận quan trọng của triết lý nhân sinh. Các học thuyết đạo đức tiêu biểu của triết học phương Tây được tác giả trình bày, phân tích dé từ đó phân loại và đánh giá các lập trường tư tưởng: Dao đức học công lợi của J.MIII, dao đức học mục đích của Arixtốt. Có thé nói đây thực sự là công trình có đóng góp to lớn, góp phần làm rõ các khía cạnh khác nhau của đạo đức học - một bộ phận quan trọng của triết lý nhân sinh trong lịch sử tư tưởng phương Tây.
Công trình nghiên cứu Triét học nhân sinh [97] của Stanley Rosen (2006) là một tác phẩm về lịch sử triết học phương Tây, được khái quát từ góc độ vấn đề “nhân sinh”, thông qua những tác phẩm của các triết gia từ Platôn đến Cantơ. Tác phẩm này không trội về tính cập nhật tư tưởng triết học hiện đại nhắt, song lại có giá trị tham khảo đáng quý bởi các sưu tập và phân tích bám sát tác phẩm kinh điển và sự phân tích của các triết gia phương Tây nổi tiếng rất có hệ thống theo lịch sử của hệ vấn đề triết học nhân sinh thuộc các lĩnh vực khác nhau như: Tôn giáo, đạo đức, chính trị - xã hội. Tác phẩm này sẽ là tài liệu tham khảo quý giá giúp NCS hiểu rõ triết lý nhân sinh. Công trình Nhập môn triết học phương Tây [96] của Samuel Enoch Stumpf và Dona C.Abel (2004) đề cập đến những khái niệm, học thuyết, phạm trù triết học cơ bản nhất như: Ý niệm, tri thức, lý trí, cảm xúc, triết học tôn giáo, triết học chính trị - xã hội, siêu hình học cùng các luận thuyết về đạo đức, bản ngã, sự bat tử và đặc biệt đã đề cập đến triết lý nhân sinh.
Đây thực sự là một công trình có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với việc nghiên cứu triết lý nhân sinh trong lịch sử triết học phương Tây nói riêng và trong lịch sử tư tưởng nhân loại nói chung. 10 * Các công trình nghiên cứu liên quan ca dao, tục ngữ Việt Nam Trong lịch sử phát triển của văn hoc dan gian Việt Nam, ca dao, tục ngữ, được coi là sự đúc kết triết lý sống, kỹ năng ứng xử của người dân. Cho đến nay, những công trình nghiên cứu về ca dao, tục ngữ Việt Nam ngày càng nhiều hơn. Việc sưu tầm và xuất bản những cuốn sách về ca dao, tục ngữ Việt Nam có ý nghĩa lớn đối với sự nghiệp bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc.
Có thê kế đến một số công trình nghiên cứu liên quan như sau: Một trong những công trình xuất hiện sớm với nội dung phong phú là bộ sách Tuc ngữ phong giao [78] của Nguyễn Văn Ngoc (1928). Cho đến nay, công trình gồm 4 tập này đã được tái bản nhiều lần nhằm giới thiệu rộng rãi nhiều câu tục ngữ, phong giao của các vùng miền Bắc, Trung, Nam. Công trình đã có ảnh hưởng lớn tới việc xây dựng nền quốc văn Việt Nam đầu thế kỷ XX và hiện nay vẫn được coi là công trình sưu tập tục ngữ có quy mô, giá trị lớn đối với việc nghiên cứu, đánh giá về ca dao, tục ngữ dân gian. Nhóm tác giả Chu Xuân Diên (1975) đã tuyên chọn, biên soạn cuốn Tuc ngữ Việt Nam [14].
Qua tục ngữ, tác giả đã phân tích và đề cập đến những tri thức về con người, đời sống con người trên nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội từ vật chất đến tinh thần; bên cạnh đó, tác giả còn chỉ ra những tri thức về gidi tự nhiên được chứa đựng trong tục ngữ. Từ nội dung, tác giả đã phân tích, tông hợp dé đi đến khẳng định tục ngữ là một hiện tượng ý thức xã hội hỗn hợp thuộc lĩnh vực nhận thức nghệ thuật và lĩnh vực nhận thức khoa học. Bên cạnh đó ông còn giới thiệu một số vấn đề triết học, đạo đức học khác nữa trong tục ngữ Việt Nam; nhưng việc này mới dừng lại ở sự phân loại, sắp xếp, chọn các tác phẩm theo chủ đề như ân nghĩa, bội bạc, suy tàn, phát triển. để phục vụ cho học tập va giảng day văn học.
Trong công trình sưu tập, nghiên cứu Tuc ngữ, ca dao, dan ca Việt Nam [84] tác giả Vũ Ngọc Phan (1998) đã làm rõ nội dung và hình thức nghệ thuật của tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam từ xưa đến nay; tác giả cũng hệ thống hóa những câu tục ngữ, ca dao, dân ca về quan hệ với tự nhiên, quan hệ xã hội.