CHƯƠNG 1: DAC DIEM VE TU NGU VA NGU PHAP CUA DIEN NGON CHIA BUON TIENG VIET Chương một có nhiệm vụ chỉ ra đặc điểm sử dụng từ ngữ và ngữ pháp của diễn ngôn chia buồn tiếng Việt. Trong chương này, chúng tôi không chủ trương chỉ ra toàn bộ những đặc điểm từ ngữ, ngữ pháp được sử dụng mà ưu tiên phân tích những đặc điểm nào phục vụ cho mục đích giao tiếp của diễn ngôn chia buồn. Đó là những phương tiện có ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng thành công của diễn ngôn chia buôn. Đặc điểm về từ ngữ Trong các diễn ngôn chia buồn, nỗi trội lên là hai vấn đề: thứ nhất là vấn đề sử dụng từ ngữ theo nguồn góc; và thứ hai là vấn đề sử dụng từ ngữ theo phạm vi.
Từ ngữ xét về mặt nguồn gốc Trong mục này, chúng tôi không phân tích từ thuần Việt mà xét từ Hán Việt và từ ngữ có nguồn gốc ngoại lai phi Hán Việt vì từ thuần Việt không nỗi bật bằng hai lớp từ kể trên. Trong thống kê đối lập từ Hán Việt và từ Thuần Việt bên dưới, chúng tôi đã loại bỏ tất cả các tên riêng vì các lí do: thứ nhất, tên riêng thuộc vùng biên của ngôn ngữ, không phải là trọng tâm nghiên cứu; thứ hai, các tên riêng có khi là từ thuần Việt, có khi là từ Hán Việt, có khi là từ ngoại lai phi Hán Việt từ các thứ tiếng khác nhau trên thế giới: Anh, Pháp, Nga, Hàn Quốc, Campuchia, 1. Sử dụng nhiều từ Hán Việt thứ nhất: Nhìn nhận thế nào là từ Hán Việt? Có nhiều quan niệm khác nhau về từ Hán Việt như quan niệm của Diệp Quang Ban, Nguyễn Thiện Giáp, Nguyễn Ngọc San, Phan Ngọc, Đặng Đức Siêu,. Nhìn một cách tông quát, các tác giả đều thống nhất từ Hán Việt là từ Việt gốc Hán mà tiếng Việt mượn từ sau thời kì Bắc thuộc (thế kỉ thứ 10) cho đến ngày nay.
Đó là kết quả của quá trình giao lưu tiếp xúc ngôn ngữ và văn hóa Việt - Hán mà phương thức chủ đạo là Việt hóa. Người Việt đã vay mượn và cải biến hoàn toàn ngữ âm, cải biến 10 một ít về mô thức cấu tạo, ý nghĩa và phạm vi sử dụng sao cho phù hợp với yêu cầu sử dụng của mình. Về cấu tạo, từ Hán Việt được cấu tạo bằng yếu tố Hán Việt. Phan Ngọc phân biệt âm tiết hoạt động tự do (âm tiết A) và âm tiết không hoạt động tự do mà phải đi kèm với một âm tiết khác (âm tiết B) và xem âm tiết A là từ đơn tiết và công nhận nó là từ thuần Việt, âm tiết B là yếu tố cấu tạo nên từ Hán Việt.
Từ Hán Việt phải là từ song tiết trở lên, “vấn đê Hán Việt chỉ đặt ra với các từ có công thức BA, AB ngược va BB” [41, tr66] Nguyễn Thiện Giáp xem các đơn vị láy âm gốc Hán được xếp vào cùng một loại với những ngữ láy thuần Việt mà tiếng gốc đã mờ nghĩa [23, tr.I 12] Đồng thuận với các quan điểm trên, chúng tôi xác định từ Hán Việt là từ có các yếu tố Hán Việt không được dùng độc lập, mà phải đi cùng nhau, tạo nên các từ hai âm tiết trở lên. Do khảo sát ngôn ngữ trong hành chức, chúng tôi chấp nhận là từ Hán Việt ở những biến thể khác nhau bị đọc chệch đi nhưng vẫn tồn tại trong kết hợp Hán Việt Vấn đề thứ hai: Từ Hán Việt xuất hiện trong các văn bản chia buồn nhự thế nào? Căn cứ vào các tiêu chí trên, chúng tôi tiền hành khảo sát, thống kê các từ Hán Việt để biết được tỉ lệ sử dụng của chúng trong các văn bản cụ thể Chúng tôi thống kê được 905 từ Hán Việt được sử dụng tổng cộng 6.092 lần trong 526 văn bản (xem phụ lục 1). Theo thống kê của chúng tôi, từ Hán Việt chiếm 30.38% trong tổng số từ Hán Việt và từ thuần Việt. Cụ thể là: Bảng 1.1: Tĩ lệ sử dụng từ Hán Việt trong các văn bản chia buồn tiếng Việt TừHV | Từthuần | Tổng số từ | Tỉ lệ phần " Việt | Hán Việt | trăm (%) và thuần | từHV Phương tiện và © lần) ơn vị: iy lần) ơn VỊ: viet ( Đơn An vị: q Đơna vị: chia buon œ@) (2) ()=C)+2) | @=@)/G) Dign, thu, phat 1709 3624 5333 32.05 biểu 1 Số tang 385 788 113 3282 Báo 969 3157 4126 23.49 Dién dan, nhat ki 439 3136 3575 1228 mạng Vong hoa 304 101 405 75.06 Trướng điều 107 15 12 87.97 tín đồ tôn giáo Tong cong 6092 13960 20052 30.38 Vì từ Hán Việt được người Việt cảm nhận như một cách nói trang trọng nên thay vì sử dụng từ thuần Việt, người ta chọn từ Hán Việt đẻ thay thế: Thân sinh thay cho bé mẹ dé Thân phụ thay cho bó đẻ Nhạc phụ thay cho bổ vợ Kế phụ thay cho bồ dượng Tang gia thay cho nhà có người chết Tạ thế thay cho chết .Mai táng thay cho chôn cất Chính vì vậy mà từ Hán Việt được lựa chọn để dùng trong không khí tang ma.
12 Đơn vị tính: lượt Từ Hán Việt '# Từ thuần Việt Hình 1.1: Biểu đồ so sánh từ Hán Việt và từ thuần Việt trong các văn bản chia buồn tiếng Việt Phân tích chỉ tiết, từ Hán Việt trên trướng điều (87.70%) và vòng hoa (75.06%) được dùng nhiều hơn từ thuần Việt với tỉ lệ cao một cách đáng ngạc nhiên. Sở dĩ có sự chênh lệch này là do vòng hoa, trướng điều chỉ bao gồm tên cá nhân, tô chức chia buồn, chức danh của người chết và từ ngữ chia buồn; trong đó, từ ngữ chia buôn là từ Hán Việt, các chức danh, từ ngữ xưng hô cũng đều là từ Hán Việt. Vì vậy, tỉ lệ sử dụng từ Hán Việt cao hơn hẳn so với từ thuần Việt Bên cạnh đó, văn bản chia buồn bằng điện, thư, phát biểu, diễn đàn. tuy vẫn có tỉ lệ sử dụng từ Hán Việt cao nhưng vẫn sử dụng nhiều từ thuần Việt hơn từ Hán Việt.
Vì chúng có thể rất dài, có chỗ cho những từ ngữ không phải chia buồn xuất hiện (ví dụ như thăm hỏi, động viên, kể chuyện tâm sự,.) nên từ thuần Việt xuất hiện nhiều hơn. Cụ thể là: 13 Trong các văn bản điện, thư, số tang, phát biểu chia buồn, từ Hán Việt được sử dụng với tỉ lệ vừa phải (khoảng 32%). Các văn bản này chủ yếu là văn bản đối nội, đối ngoại của chính phủ ta và chính phủ các nước bạn. Trong các văn bản chia buồn trên diễn đàn và nhật kí mạng, tỉ lệ từ Hán Việt được sử dụng là thấp nhất (12.
Diễn đàn và nhật kí mạng là các trang mở mà ở đó các thành viên có thể đăng lời bình một cách dễ dàng. Đa số các thành viên đăng bình luận trên diễn đàn là người trẻ tuổi, sử dụng từ ngữ trong sinh hoạt hằng ngày, thậm chí là khẩu ngữ nên từ Hán Việt ít được dùng hơn so với các loại văn bản khác. Đối với văn bản chia buồn của các tín đồ tôn giáo, nguồn ngữ liệu chủ yếu tập trung vào ba tôn giáo lớn ở Việt Nam: Phật giáo, Công giáo và Cao Đài. Trong đó, tỉ lệ sử dụng từ Hán Việt chung là 40.
Đi vào xét cụ thể từng tôn giáo chúng tôi nhận thấy tỉ lệ sử dụng từ Hán Việt không đồng đều.2: Tỉ lệ sử dụng từ Hán Việt trong các văn bản chia buồn của các tín đồ tôn giáo Từ HV | Từ thuân | Tông sô từ | Tỉ lệ % Từ Việt Hán Việt | từHV và từ thuần Việt lần) a) @ 2 lexan) | 0/6) Phật giáo.51 14 6 ———————————— Đơn vị tính: % 50 40- 30 + 20 10+ Phậtgiáo Cônggiáo — Cao Đài Hình 1.2: Biểu đồ so sánh tỉ lệ sử dụng từ Hán Việt trong các văn bản chia buồn của các tín đồ tôn gi: Trong đó, các văn bản của tín đồ Phật giáo sử dụng từ Hán Việt lên đến 52.67%, văn bản của tín đồ Cao Đài 43.51% trong khi văn bản của tín đồ Công giáo chỉ sử dụng 25. Những con số này bị chỉ phối bởi nguyên nhân chính là xuất xứ của mỗi tôn giáo. Phật giáo du nhập vào nước ta từ thế kỉ thứ 13, qua hai con đường chính: trực tiếp từ Ấn Độ hoặc gián tiếp qua Trung Quốc. Do đó, số lượng từ ngữ Hán Việt chiếm số lượng lớn trong các văn bản Phật giáo.
Từ đó, tỉ lệ từ Hán Việt xuất hiện trong văn bản chia buồn của tín đồ Phật giáo cũng chiếm số lượng lớn. Ngược lại, Công giáo đến thế kỉ 17 mới du nhập vào Việt Nam qua con đường truyền đạo trực tiếp của các giáo sĩ phương Tây. Vì vậy, số lượng từ Hán Việt trong văn bản chia buồn của tín đồ Công giáo chiếm số lượng ít Trường hợp đặc biệt, Cao Đài là một tôn giáo mới (thành lập khoảng đầu thé ki 20), thì lẽ ra số lượng từ Hán Việt được sử dụng sẽ càng ít. Tuy nhiên, tôn giáo này lại có tính dung hợp các tôn giáo khác mà chủ yếu là Phật giáo, Đạo giáo và Nho giáo (vốn sử dụng nhiều từ Hán Việt) nên số lượng từ Hán Việt được sử dụng trong các văn bản chia buồn của tín đồ Cao Đài chiếm số lượng lớn cũng là điều dễ hiểu.
15 Như vậy, tỉ lệ sử dụng từ Hán Việt phụ thuộc vào trước hết là đặc điểm thê loại văn bản chia buồn và sau đó là phụ thuộc vào tôn giáo của đối tượng chia buồn cũng như đối tượng được chia buồn. Sử dụng từ ngữ có nguén gốc ngoại lai phỉ Hán Việt Trong các văn bản chia buồn chúng tôi khảo sát, có một số lượng lớn tên riêng, có nguồn gốc từ rất nhiều thứ tiếng khác nhau trên thế giới: tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Nga, tiếng Hàn, tiếng Campuchia, tiếng Thái Lan,. Tuy tên riêng bị trừu xuất khỏi mục trên (như đã trình bày) nhưng đối với ngôn ngữ chia buồn, nó là mội phận không thể thiếu. Chính vì vậy, trong phần khảo sát này chúng tôi không thể không nhắc đến tên riêng.
Bên cạnh đó, có một số lượng nhỏ các từ ngữ vay mượn của tiếng Anh được dùng chêm xen với tiếng Việt. Các từ ngữ này đã phần nào biến đổi để thích nghi với cách đọc của ngữ âm tiếng Việt nhưng người ta vẫn cảm nhận được rất rõ nguồn gốc ngoại lai của nó: (hiện tượng đa âm tiết (viết liền hoặc viết rời), hiện tượng có phụ âm kép, hiện tượng kết hop 4m vi bat thường,.