Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Sự phát triển của kinh tế - xã hội kéo theo nhu cầu nâng cao đời sống tinh thần của con người, thúc đẩy du lịch trở thành ngành kinh tế quan trọng trên phạm vi toàn cầu. Cùng với xu hướng chuyển dịch của du khách quốc tế và nội địa sang các loại hình du lịch bền vững như du lịch sinh thái và du lịch văn hóa, việc khai thác các giá trị di sản truyền thống trở thành hướng đi thiết thực. Tại Việt Nam, hệ thống làng nghề thủ công truyền thống với các sản phẩm mang hàm lượng văn hóa, kỹ thuật dân gian và giá trị kinh tế cao là nguồn tài nguyên du lịch phong phú.
Tỉnh Vĩnh Phúc sở hữu hơn 100 làng nghề truyền thống với nhiều nghề nổi tiếng như đục đá Hải Lựu, mây tre đan Triệu Đề, gốm Hương Canh, nuôi rắn Vĩnh Sơn... Mặc dù chính quyền địa phương và Sở Văn hóa - Thể thao - Du lịch Vĩnh Phúc đã bước đầu nghiên cứu, tổ chức các tuyến du lịch đưa khách về làng nghề, việc khai thác tài nguyên này vẫn chưa tương xứng với tiềm năng. Nhiều làng nghề đối mặt với nguy cơ mai một, thiếu việc làm, ô nhiễm môi trường và khó khăn trong việc tìm kiếm thị trường tiêu thụ. Đề tài khóa luận "Xây dựng sản phẩm du lịch làng nghề phục vụ hoạt động du lịch Vĩnh Phúc" được thực hiện nhằm giải quyết các vấn đề sau:
- Mục tiêu nghiên cứu: Tìm hiểu giá trị của làng nghề truyền thống nhằm tạo ra sản phẩm du lịch mới, mang tính đặc trưng cho du lịch Vĩnh Phúc, góp phần bảo tồn di sản và thúc đẩy kinh tế địa phương.
- Đối tượng nghiên cứu: Các làng nghề thủ công truyền thống tiêu biểu trên địa bàn tỉnh; hệ thống di tích lịch sử - văn hóa, cơ sở dịch vụ và hạ tầng kỹ thuật bổ trợ xung quanh khu vực làng nghề.
- Phạm vi nghiên cứu:
- Không gian: Các địa phương tập trung làng nghề truyền thống trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc (Bình Xuyên, Lập Thạch, Vĩnh Tường...).
- Thời gian: Tập trung khảo sát thực trạng làng nghề và hoạt động du lịch địa phương trong giai đoạn 1997–2008 (thời điểm thu thập dữ liệu khóa luận).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu được xây dựng dựa trên hệ thống khái niệm, văn bản quy phạm pháp luật và phương pháp tiếp cận chuyên ngành văn hóa du lịch:
- Khung lý thuyết và khái niệm:
- Làng nghề: Tiếp cận theo định nghĩa của TS. Phạm Côn Sơn (Làng nghề truyền thống Việt Nam) về cấu trúc cư dân quần cự, tính cộng đồng và bảo tồn bản sắc; kết hợp định nghĩa kinh tế học của TS. Dương Bá Phượng (Bảo tồn và phát triển làng nghề trong quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá) về làng có nghề thủ công độc lập chiếm tỷ trọng thu nhập cao.
- Làng nghề truyền thống: Xác định là trung tâm sản xuất thủ công lâu đời, có nghệ nhân, phường hội, tổ nghề và kỹ thuật cha truyền con nối.
- Du lịch văn hóa: Áp dụng khái niệm quy định tại Luật Du lịch Việt Nam, phân định các nhánh: du lịch tham quan - nghiên cứu, lễ hội, làng nghề, làng bản, tôn giáo - tín ngưỡng và phong tục tập quán.
- Du lịch làng nghề truyền thống: Loại hình du lịch văn hóa cho phép du khách trải nghiệm, thẩm nhận giá trị văn hóa vật thể (đình, chùa, công cụ, sản phẩm) và phi vật thể (bí quyết nghề, kinh nghiệm chế tác, tập quán). Khóa luận làm rõ mối quan hệ tương hỗ hai chiều: du lịch tạo sinh kế, mở rộng thị trường xuất khẩu tại chỗ; ngược lại, làng nghề cung cấp tài nguyên nhân văn và sản phẩm lưu niệm độc đáo.
- Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp khảo sát thực địa và thu thập tài liệu: Điền dã trực tiếp tại các xưởng sản xuất, hộ gia đình tại xóm Lò Cang (Hương Canh), núi Thét (Hải Lựu), Triệu Đề, Vĩnh Sơn.
- Phương pháp thống kê, phân tích: Phân tích số liệu kinh tế - xã hội, quy mô cơ sở lưu trú, lượng khách du lịch và doanh thu từ Sở Du lịch Vĩnh Phúc.
- Phương pháp phỏng vấn trực tiếp: Phỏng vấn sâu các nghệ nhân và người làm nghề tiêu biểu (nghệ nhân gốm Nguyễn Nhạn - Công ty TNHH Thanh Nhạn; cụ Khổng Văn Khanh - làng đá Hải Lựu; bác Nguyễn Văn Học - người mở đầu nghề nuôi rắn Vĩnh Sơn).
- Nguồn dữ liệu: Các công trình nghiên cứu của GS. Trần Quốc Vượng, PTS. Đỗ Thị Hảo, TS. Nguyễn Anh Tuấn; văn bản pháp quy của UBND tỉnh Vĩnh Phúc (Quyết định 2943/QĐ-UB, Quyết định 970/QĐ-UBND, Quyết định 3120/QĐ-UBND); báo cáo thống kê ngành du lịch Vĩnh Phúc đến tháng 8/2008.
Nội dung chính theo từng chương
Chương I. Du lịch làng nghề
Chương 1 hệ thống hóa các vấn đề lý luận cơ bản về làng nghề, làng nghề truyền thống và mối quan hệ với hoạt động du lịch:
- Phân biệt giữa làng nghề truyền thống và làng nghề mới dựa trên chiều dài lịch sử, tính kế thừa dòng họ/phường hội và giá trị độc bản của sản phẩm.
- Khẳng định du lịch làng nghề là một phân hệ của du lịch văn hóa, trong đó du khách tiếp cận đồng thời di sản vật thể (kiến trúc làng quê, công cụ thủ công) và di sản phi vật thể (kỹ thuật chế tác, tri thức dân gian).
- Phân tích vai trò tương hỗ: Du lịch kích thích tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ, tạo cơ hội xuất khẩu tại chỗ, tăng thu nhập cho người dân nông nhàn; đồng thời, cả nước có 2.017 làng nghề truyền thống đóng vai trò là nguồn lực văn hóa đa dạng cho các chương trình du lịch.
- Chỉ rõ đặc thù của du lịch làng nghề: Hình thức chủ yếu là tham quan, tìm hiểu quy trình chế tác và mua sắm (shopping tour), ít phát sinh nhu cầu lưu trú dài ngày tại điểm.
Chương II. Thực trạng làng nghề truyền thống Vĩnh Phúc
Chương 2 cung cấp bức tranh chi tiết về điều kiện phát triển, hiện trạng 4 làng nghề tiêu biểu và thực tế tổ chức tour du lịch tại Vĩnh Phúc:
- Tổng quan địa bàn nghiên cứu: Tính đến năm 2006, tỉnh Vĩnh Phúc có diện tích 1.372,23 km², dân số 1.067.000 người, gồm 9 đơn vị hành chính (TP. Vĩnh Yên, TX. Phúc Yên và 7 huyện: Lập Thạch, Tam Dương, Vĩnh Tường, Yên Lạc, Bình Xuyên, Tam Đảo, Mê Linh). Cơ cấu kinh tế chuyển dịch nhanh: năm 1997 nông nghiệp chiếm 52%, công nghiệp 12%; đến năm 2004 công nghiệp đạt 49,7%, dịch vụ 26,2%, nông nghiệp giảm còn 24,1%.
- Thực trạng 4 làng nghề truyền thống tiêu biểu:
| Tên làng nghề |
Vị trí hành chính |
Tổ nghề / Nhân vật tiêu biểu |
Sản phẩm truyền thống chính |
Quy trình kỹ thuật tiêu biểu |
Thực trạng sản xuất & Thu nhập |
| Gốm Hương Canh |
Xã Tam Canh, Huyện Bình Xuyên |
Cụ Đào Nồi (Nồi Hầu - thời An Dương Vương) và Cụ Đỗ Quang (thời Cảnh Hưng) |
Vại, chum, nồi, ấm, tiểu sành; ngói; gốm mỹ nghệ |
4 công đoạn: Làm đất (lọc qua lưới 250 mắt/cm² hoặc ép thủy lực 1.000 kg/cm²), Tạo hình (chuốt tay, đổ rót pha $\text{SiHO}_3$), Hoàn thiện, Vào lò nung (2 ngày 2 đêm) |
Hợp tác xã giải thể sau 1986; còn 4 hộ duy trì; chuyển sang gốm mỹ nghệ. Thu nhập khoảng 2.000.000 đồng/người/tháng |
| Đục đá Hải Lựu |
Xã Hải Lựu, Huyện Lập Thạch |
Không rõ vị tổ nghề cụ thể; Cụ Khổng Văn Khanh (89 tuổi) là nghệ nhân nòng cốt |
Cối đá, đá mài; tượng phật, hoành phi, cuốn thư, linh vật đá |
3 công đoạn: Chọn & khai thác nguyên liệu (núi Thét, Đồng Trăm, Đồng Trổ), Chế tác (đục tay/máy, dùng vồ gỗ lim/sén), Hoàn thiện |
2 công ty TNHH sản xuất đá mỹ nghệ và khai thác đá xây dựng; doanh thu hàng chục tỷ đồng/năm |
| Mây tre đan Triệu Đề |
Xã Triệu Đề, Huyện Lập Thạch |
Nghề truyền thống lâu đời |
Rổ, rá, mủng, nia, dần, sàng |
Chọn nguyên liệu (chẻ nan 1–1,5 cm), Đan lát (rá đan nong mốt, mủng đan nong tứ), Hun khói chống mọt (hố 0,5 m lót rơm rạ, trấu), Tra và lứt cạp (đục lỗ cách 1,5 cm) |
Sản xuất phân tán theo hộ gia đình; giá rá 3.000 đ, mủng 16.000 đ/đôi; thu nhập trung bình 750.000 đồng/tháng |
| Nuôi rắn Vĩnh Sơn |
Xã Vĩnh Sơn, Huyện Vĩnh Tường |
Bác Nguyễn Văn Học (bắt đầu thuần dưỡng nuôi rắn từ 30–40 năm trước) |
Rắn thương phẩm, rắn giống, rượu rắn (tam xà, ngũ xà), cao rắn (toàn tính, dược liệu), ẩm thực rắn |
Chế biến rượu (nhúng nước 70°C, rạch bụng lấy nội tạng, rửa rượu gừng); Nấu cao (ninh 3 ngày 3 đêm, cô đặc cách thủy/cách nhiệt) |
70% hộ gia đình nuôi rắn (chủ yếu rắn hổ mang); Quyết định 3120/QĐ-UBND (24/11/2006) công nhận làng nghề truyền thống |
- Hiện trạng hoạt động du lịch làng nghề:
- Tình hình chung: Ngành du lịch Vĩnh Phúc có bước phát triển: năm 2005 đạt doanh thu 367 tỷ đồng; năm 2007 đạt 525 tỷ đồng (đón 1.000.000 lượt khách, có 33.000 lượt khách quốc tế); 8 tháng đầu năm 2008 doanh thu ước đạt 529 tỷ đồng với 1.600.000 lượt khách. Toàn tỉnh có gần 130 cơ sở lưu trú (2.170 phòng, 19 khách sạn 1–2 sao).
- Các tour du lịch làng nghề đã xây dựng:
- Tour 1: Vĩnh Yên - cụm đình Tam Canh - làng gốm Hương Canh (2 ngày 1 đêm, phương tiện ô tô).
- Tour 2: Vĩnh Yên - tháp Bình Sơn - đền thờ Tả Tướng Quốc Trần Nguyên Hãn - làng đục đá Hải Lựu (2 ngày 1 đêm, phương tiện ô tô).
- Tour 3: Vĩnh Yên - đầm Dưng - làng rắn Vĩnh Sơn - đình Thổ Tang - làng mộc Bích Chu (2 ngày 1 đêm, phương tiện ô tô).
- 5 nguyên nhân khiến tour làng nghề chưa hấp dẫn du khách:
- Công tác thông tin, tuyên truyền, quảng bá hình ảnh làng nghề trên phương tiện truyền thông còn hạn chế.
- Môi trường làng nghề bị ô nhiễm nghiêm trọng, chưa đảm bảo tiêu chuẩn cảnh quan du lịch.
- Quy hoạch cụm làng nghề chậm tiến độ, không gian sản xuất chật hẹp, khó tổ chức tham quan quy mô lớn.
- Thời lượng tour (1–2 ngày) ngắn, nghèo nàn về hoạt động trải nghiệm, du khách không có cơ hội tự tay làm thử sản phẩm.
- Thiếu hướng dẫn viên thuyết minh tại điểm; dịch vụ bổ trợ, ăn uống, lưu trú quanh làng nghề nghèo nàn, quy mô manh mún.
Chương III. Những giải pháp, kiến nghị làm tăng sức hấp dẫn cho du lịch làng nghề ở Vĩnh Phúc
Chương 3 trình bày các căn cứ kỹ thuật về nguyên liệu và đề xuất các nhóm giải pháp:
- Đánh giá nguồn nguyên liệu và kỹ thuật: Khảo sát cụ thể nguồn đất sét làng gốm Hương Canh tại khu vực Đầm Vạc và Quất Lưu cho thấy tổng trữ lượng đạt khoảng 15.000.000 m³ (đáp ứng khai thác hơn 1.000 năm với mức tiêu thụ 15.000 m³/năm). Đất sét có chỉ tiêu kỹ thuật vượt trội: cỡ hạt nhỏ $<0,005\text{ mm}$ chiếm 30%, hạt đến $0,25\text{ mm}$ chiếm 70%, độ dẻo đạt 20–30%; thành phần hóa học gồm $\text{SiO}_2$ (68%), $\text{Al}_2\text{O}_3$ (18%), $\text{Fe}_2\text{O}_3$ (7,6%); tỷ lệ co rút không khí 9%, độ nung đạt $1200^\circ\text{C}$ tạo sản phẩm sành đanh chắc, không thấm nước mà không cần tráng men.
- Hệ thống giải pháp chủ yếu:
- Xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Vĩnh Phúc giai đoạn đến năm 2020, tầm nhìn 2035; lập quy hoạch chi tiết các cụm làng nghề gắn với du lịch.
- Tăng cường quản lý nhà nước, hoàn thiện khung pháp lý và chính sách hỗ trợ vốn khuyến công, giải phóng mặt bằng cho làng nghề.
- Đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực du lịch, đặc biệt là đội ngũ thuyết minh viên tại điểm am hiểu kỹ thuật và văn hóa làng nghề.
- Nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp lữ hành, liên kết với các tỉnh lân cận hình thành tuyến du lịch liên vùng.
- Đầu tư hạ tầng, xử lý ô nhiễm môi trường và đa dạng hóa dịch vụ bổ trợ phục vụ du khách tại các điểm đến làng nghề.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đạt được một số kết quả và đóng góp cụ thể:
- Hệ thống hóa dữ liệu thực địa: Cung cấp tư liệu chi tiết về lịch sử, nguồn gốc tổ nghề, quy trình công nghệ chế tác và cơ cấu sản phẩm của 4 làng nghề đặc trưng tại Vĩnh Phúc (Hương Canh, Hải Lựu, Triệu Đề, Vĩnh Sơn).
- Phân tích thực trạng khai thác tour: Chỉ ra thực tế vận hành của 3 tuyến tour kết hợp làng nghề - di tích lịch sử trên địa bàn tỉnh; nhận diện chính xác 5 nút thắt cản trở lượng khách tham quan.
- Dữ liệu thực nghiệm nguyên liệu: Đưa ra các chỉ số cơ lý và thành phần hóa học của mỏ đất sét Hương Canh, chứng minh cơ sở khoa học cho việc khôi phục và chuyển hướng sản xuất sang gốm mỹ nghệ phục vụ du lịch.
- Đề xuất giải pháp liên ngành: Kết hợp giữa bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể, quy hoạch hạ tầng cụm công nghiệp làng nghề và kỹ thuật thiết kế chương trình du lịch chuyên biệt.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Nghiên cứu chỉ tập trung khảo sát sâu 4 làng nghề tiêu biểu; dữ liệu kinh tế - du lịch phản ánh giai đoạn 2005–2008 và phạm vi hành chính của tỉnh Vĩnh Phúc tại thời điểm nghiên cứu (khi huyện Mê Linh chưa tách nhập về Hà Nội).
- Hướng nghiên cứu tiếp: Khảo sát bổ sung các làng nghề truyền thống khác trên địa bàn (làng mộc Bích Chu, làng rèn Lý Nhân, làng đúc nồi Tam Đồng); nghiên cứu sâu mô hình du lịch trải nghiệm có sự tham gia của cộng đồng (Community-Based Tourism) và cơ chế chia sẻ lợi ích giữa công ty lữ hành với nghệ nhân làng nghề.
Giá trị tham khảo
Tài liệu là nguồn tham khảo hữu ích cho sinh viên, học viên chuyên ngành Du lịch học, Văn hóa học, Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành, Quản lý văn hóa. Các cơ quan quản lý nhà nước về du lịch địa phương và các doanh nghiệp kinh doanh lữ hành có thể tham khảo:
- Phương pháp tiếp cận khảo sát thực địa làng nghề kết hợp phỏng vấn nghệ nhân dân gian.
- Cấu trúc xây dựng các chương trình du lịch chuyên đề kết nối di tích văn hóa - lịch sử với điểm sản xuất thủ công mỹ nghệ.
- Các tư liệu kỹ thuật về quy trình sản xuất gốm sành, đục đá mỹ nghệ, đan lát mây tre và chế biến các sản phẩm từ rắn.
Câu hỏi thường gặp
1. Ai là tổ nghề của làng gốm Hương Canh được ghi nhận trong nghiên cứu?
Dân làng Hương Canh ghi nhận hai vị tổ nghề: Cụ Đào Nồi (còn gọi là Nồi Hầu, sống vào thời An Dương Vương) là ông tổ nghề gốm nồi niêu; Cụ Đỗ Quang (được thờ tại đền xóm Cang, tu bổ vào thời Cảnh Hưng - Lê Hiển Tông) là ông tổ nghề gốm chum vại.
2. Điểm đặc biệt trong kỹ thuật chế tác đá tại làng nghề Hải Lựu là gì?
Người thợ đá Hải Lựu sử dụng đục và choòng bằng thép cứng nhưng lại dùng vồ đập bằng gỗ lim hoặc gỗ sén (thay vì búa sắt), tạo ra âm thanh trầm đục, không chát chúa, hạn chế làm nứt vỡ các thớ đá mịn lấy từ núi Thét (khu Đồng Trăm, Đồng Trổ).
3. Vì sao làng rắn Vĩnh Sơn được công nhận là làng nghề truyền thống?
Nghề bắt và thuần dưỡng nuôi rắn ở Vĩnh Sơn có lịch sử lâu đời, được bác Nguyễn Văn Học phát triển thành nghề chăn nuôi quy mô từ 30–40 năm trước. Làng có Trại rắn Vĩnh Sơn thành lập năm 1979 hợp tác với các nhà khoa học, sản xuất thành công rắn sinh sản, rượu rắn, cao rắn và được UBND tỉnh Vĩnh Phúc ký Quyết định số 3120/QĐ-UBND công nhận làng nghề truyền thống ngày 24/11/2006.
4. Ba tour du lịch làng nghề Vĩnh Phúc được tác giả khảo sát gồm những điểm nào?
Gồm: (1) Tour Vĩnh Yên - cụm đình Tam Canh - làng gốm Hương Canh; (2) Tour Vĩnh Yên - tháp Bình Sơn - đền thờ Tả Tướng Quốc Trần Nguyên Hãn - làng đục đá Hải Lựu; (3) Tour Vĩnh Yên - đầm Dưng - làng rắn Vĩnh Sơn - đình Thổ Tang - làng mộc Bích Chu. Cả ba tour đều có thời lượng 2 ngày 1 đêm và di chuyển bằng ô tô.
5. Đất sét Hương Canh có những đặc tính kỹ thuật nào phù hợp làm gốm sành?
Đất sét Hương Canh có thành phần hạt mịn $<0,005\text{ mm}$ chiếm 30%, hạt đến $0,25\text{ mm}$ chiếm 70%, độ dẻo 20–30%; thành phần hóa học gồm 68% $\text{SiO}_2$, 18% $\text{Al}_2\text{O}_3$, 7,6% $\text{Fe}_2\text{O}_3$; độ co rút không khí 9% và chịu nhiệt nung $1200^\circ\text{C}$, giúp sản phẩm kết khối vững chắc, không thấm nước và tạo tiếng vang đanh mà không cần tráng men.
Kết luận
Khóa luận của tác giả Nguyễn Thanh Huyền đã tổng hợp cơ sở lý luận về du lịch văn hóa làng nghề và phản ánh chân thực thực trạng sản xuất tại 4 làng nghề truyền thống tiêu biểu của tỉnh Vĩnh Phúc. Công trình làm rõ tiềm năng tài nguyên cũng như những rào cản thực tế trong việc thương mại hóa các tour du lịch làng nghề thời kỳ 2005–2008. Các phân tích về công nghệ chế tác truyền thống và giải pháp quy hoạch, liên kết tour tuyến cung cấp luận cứ thực tiễn cho công tác bảo tồn di sản gắn với phát triển kinh tế du lịch địa phương.