Đặt vấn đề Tiền Giang là một tỉnh thuộc Đồng bằng sông Cửu Long, được thiên nhiên ưu đãi để phát triển nhiều loại cây trồng đặc sản. Trong đó, nhiều loại đã có thương hiệu trên thị trường như: xoài cát Hòa Lộc, sầu riêng, dứa, thanh long, vú sữa Lò Rèn… Những loại cây ăn quả đặc sản này đã giúp rất nhiều nông dân thoát nghèo, vươn lên làm giàu; góp phần thay đổi bộ mặt nông thôn. Năm 2020, diện tích cây ăn quả của tỉnh Tiền Giang đạt hơn 80.000 ha, sản lượng khoảng 1,5 triệu tấn. Nhiều loại cây ăn quả có vùng trồng tập trung như: dứa 15.500 ha, sầu riêng hơn 13.000 ha, thanh long gần 10.
Trong đó, quả vú sữa vừa có hàm lượng dinh dưỡng cao và đem lại giá trị kinh tế lớn. Tuy nhiên, diện tích trồng vú sữa còn hạn chế, theo Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Tiền Giang (2021), diện tích vú sữa Lò Rèn trên địa bàn tỉnh còn trên 330 ha, tập trung chủ yếu tại huyện Châu Thành, khoảng 210 ha, diện tích còn lại ở huyện Cái Bè, Cai Lậy và thị xã Cai Lậy. Với khí hậu nhiệt đới rất phù hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của cây trồng nhưng đồng thời cũng là điều kiện tốt cho sâu, bệnh phát triển. Sâu, bệnh là những đối tượng thường xuyên ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất nông nghiệp.
Trong đó có ruồi đục trái gây nguy hại đến các vùng trồng cây ăn quả, mức độ thiệt hại hàng năm rất lớn. Đối tượng này gây hại nghiêm trọng làm giảm năng suất và chất lượng trái vú sữa, nông dân tốn rất nhiều chi phí để phòng trừ chúng (Vũ Bá Quan, 2020). Vì vậy, việc sử dụng thuốc trừ sâu hóa học đã được sử dụng rộng rãi để kiểm soát côn trùng và vật trung gian truyền bệnh là rất phổ biến để bảo đảm lương thực cho con người. Nhưng việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật hoá học gây ra không ít hậu quả vì nó tồn tại rất lâu trong nông sản ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ của người sử dụng, đồng thời lượng lớn thuốc khi phun sẽ ngấm vào môi trường đất gây ô nhiễm nguồn nước.
1 Để cây ăn quả đạt năng suất cao, chất lượng tốt, bên cạnh việc quan tâm đến giống cây, chế độ canh tác và chăm sóc thì việc kiểm soát các loài sâu bệnh hại cần được chú trọng. Hướng tới một nền nông nghiệp sạch, bảo vệ môi trường, rất cần thiết phát triển các biện pháp canh tác an toàn bao gồm việc lợi dụng các loài thiên địch vốn có trong tự nhiên và sử dụng các chế phẩm sinh học để phòng trừ hiệu quả sâu, bệnh hại giúp cho việc canh tác được bền vững. Các nghiên cứu tập trung phát triển và ứng dụng các loại ký sinh côn trùng trong đó có nấm Beauveria. Nấm Beauveria bassiana đã được nhiều nước trên thế giới như Mỹ, Philippines, Anh, Úc, Canada, Trung Quốc, Nhật,.
sử dụng để phòng trừ các đối tượng sâu hại cây trồng như bọ hung hại củ cải đường, bọ hung hại mía, củ cải, ruồi hại rễ bắp cải,… đạt hiệu quả tốt, đặc biệt là những loài sâu hại cây rừng như sâu róm thông, châu chấu hại tre, mía, mối đất hại cây ăn quả, sùng hại mía,. (Ferron, 1978; Rombach et al. Ở Việt Nam đã có nghiên cứu trên đối tượng sâu hại cây trồng như rầy nâu hại lúa, châu chấu hại bắp, bọ hại dừa,. Nhiều nước trên thế giới đã sản xuất thành công các chế phẩm sinh học từ nấm Beauveria bassiana như Boverit, Muskardin và Mat, Ostrinil, Boverin, BotaniGard, Naturalis-L, Mycotrol GHA (Phạm Thị Thuỳ, 2004; Nguyễn Thị Lộc và ctv.
Tuy nhiên, rất ít nghiên cứu về sử dụng nấm trắng Beauveria sp. phòng trừ ruồi đục trái Bactrocera sp. Xuất phát từ tính cấp thiết trên, với mong muốn xác định được loài nấm ký sinh côn trùng có hiệu lực phòng trừ ruồi đục trái Bactrocera sp. gây hại quả vú sữa, dưới sự hướng dẫn của TS.
Nguyễn Đức Thành - Bộ môn Công nghệ Vi sinh, Viện Di truyền Nông nghiệp và TS. Nguyễn Thanh Hảo - Bộ môn Sinh học, Khoa Công nghệ sinh học, Học viện Nông nghiệp Việt Nam, chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm sinh học và đánh giá hiệu lực phòng trừ ruồi đục trái Bactrocera sp. gây hại quả vú sữa của loài nấm trắng Beauveria sp. Mục đích và yêu cầu của đề tài 1.
Mục đích Phân lập, xác định đặc điểm sinh học của loài nấm trắng Beauveria sp. và đánh giá hiệu lực phòng trừ ruồi đục trái Bactrocera sp. gây hại trên quả vú sữa. Yêu cầu - Phân lập nấm trắng Beauveria sp.
trên các mẫu côn trùng thu thập tại tỉnh Tiền Giang. - Xác định một số đặc điểm sinh học của mẫu nấm trắng Beauveria sp. đã tuyển chọn trong điều kiện in vitro. - Đánh giá hiệu lực phòng trừ ruồi đục trái Bactrocera sp.
(pha sâu non, pha nhộng và pha trưởng thành) của mẫu nấm trắng Beauveria sp. đã tuyển chọn trong điều kiện in vitro. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Nguồn gốc xuất xứ Cây vú sữa có tên khoa học là Chrysophyllum cainito (C.
cainito) là một loài cây nhiệt đới thuộc họ Sapotaceae. Có nhiều tên khác nhau cho cây vú sữa tùy thuộc vào nơi nó hiện diện như star apple, cainito và caimito. Hạt của quả vú sữa ở trung tâm có hình hoa thị khi cắt ngang, tạo cho quả tên tiếng Anh phổ biến là “star apple”. Cây vú sữa được trồng bằng cách chiết nhánh hoặc tháp cây.
Khi được chăm bón cẩn thận thì khoảng sau 3 năm sau có thể thu hoạch được. Cây vú sữa khi đậu trái đến khi thu hoạch mất khoảng thời gian từ 180 - 200 ngày. Mùa thu hoạch vú sữa từ tháng 2 - 3 dương lịch hàng năm. Theo mô tả của Morton (1987), cây vú sữa là một cây mọc thẳng, cao trung bình từ 8 đến 30 mét, đường kính thân trung bình là 1 mét.
Cây thường có một số nhánh con có lông màu nâu, bên trong có nhựa mủ màu trắng. Lá gần như thường xanh, hình elip thuôn dài, sờ vào hơi bóng, màu xanh lục đậm, bóng ở mặt trên, phủ một lớp bóng mượt, bên dưới có màu nâu vàng. Các hoa nhỏ màu trắng ánh tím và có mùi thơm ngát. Cây vú sữa là loại cây lưỡng tính (tự thụ phấn).
Quả vú sữa to khoảng một nắm tay, tròn, khi còn xanh quả có màu trắng xanh lục khi chín chuyển sang màu hồng rồi dần dần ngả sang màu tím đậm. Vỏ nhiều nhựa mủ và không ăn được. Các hạt dẹt có màu nâu nhạt và cứng. Nó ra quả quanh năm sau khi đạt đến 7 năm tuổi trở lên.
Thịt của quả vú sữa rất ngọt chủ yếu là do hàm lượng glucose cao. Hạt chứa 1,2% glycosid đắng, cyanogenic, lucumin, và một số hợp chất hoạt động. Quả vú sữa chứa khoảng 78,4 - 85,7% nước. Mỗi 100g trái cây có 0,72 - 2,33g protein, 14,65 g carbohydrate và từ 8,45 - 10,39g tổng số đường.
Hơn nữa, trái cây cũng chứa một số khoáng chất, vitamin và axit amin (Đoàn Văn Hậu và Lê Phương Thảo, 2020). 4 Cây vú sữa không những có giá trị dinh dưỡng cao nằm ở phần quả. Chất chiết xuất từ các bộ phận khác nhau của cây vú sữa chứa phenol, alkaloid, flavonoid, steroid, saponin, tanin và glycosid được tìm thấy trong vỏ thân hoặc quả. Những thành phần này hứa hẹn có hoạt tính chống oxy hóa mạnh và các hoạt động sinh học khác (Đoàn Văn Hậu và Lê Phương Thảo, 2020).
Tình hình sản xuất vú sữa trên thế giới Người ta thường biết rằng nguồn gốc của loài C. cainito ở Trung Mỹ. Tuy nhiên, những người khác nói rằng nó có thể có nguồn gốc từ Tây Ấn. Cây phân bố nhiều từ nam Mexico đến bắc Argentina và Peru, nơi có độ cao từ tương đối thấp đến trung bình và được trồng nhiều ở phía Thái Bình Dương của Guatemala (Das et al.
Cho đến ngày nay cây vú sữa có mặt khắp nơi ở Việt Nam và đã lan rộng khắp Ấn Độ, Trung Quốc, Sri Lanka, Malaysia và Indonesia. cainito là một loài bản địa được trồng ở Costa Rica, Cuba, Dominica, Haiti, Honduras, Jamaica, Mexico, Antilles thuộc Hà Lan, Nicaragua, Panama, v. Cây này là một loại trái cây được trồng ở Hoa Kỳ, Uruguay, Venezuela, Argentina, Brazil, Chile, Trung Quốc, Colombia, Peru, Philippines, Thái Lan, và nhiều quốc gia ở Châu Phi như Ai Cập, Congo, Ethiopia, Nam Phi, Mozambique và Zimbabwe. Mặc dù trên thế giới vẫn có trồng cây vú sữa nhưng họ không chọn làm hàng hóa để xuất khẩu mà chỉ tiêu thụ nội địa (Orwa et al.
Tình hình sản xuất vú sữa ở Việt Nam Tại Việt Nam, cây vú sữa được trồng nhiều ở miền Nam, nhất là ở các tỉnh Tiền Giang, Đồng Tháp, Bến Tre, Cần Thơ, Cà Mau. và nhiều tỉnh thành ở miền Trung, miền Bắc. Năm 2017 thì Việt Nam là nước đầu tiên xuất khẩu vú sữa vào thị trường lớn của Mỹ (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2017). Như vậy, vú sữa trở thành loại trái cây thứ 5 của Việt Nam được xuất khẩu sang thị trường Mỹ, sau thanh long, nhãn, chôm chôm, vải.
Trong đó, Tiền Giang là tỉnh trồng nhiều nhất với khoảng 3.174 ha vú sữa Lò Rèn, với sản lượng hàng năm 63.764 tấn/ năm, năng suất bình quân 20 tấn/ 5 ha. Vú sữa Lò Rèn đã được chứng nhận sản xuất an toàn theo tiêu chuẩn GlobalGAP bởi tổ chức SGS New Zealand limited và cấp code nhà đóng gói cho thị trường Mỹ bởi USDA (United States Department of Agriculture) - Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ (Cổng thông tin điện tử tỉnh Tiền Giang, 2019). Bên cạnh đó, huyện Kế Sách tỉnh Sóc Trăng có diện tích trồng vú sữa hơn 1.800 ha, tập trung chủ yếu tại các xã: Xuân Hòa, Trinh Phú, Ba Trinh, Phong Nẫm. Diện tích cho trái khoảng 1.600 ha, sản lượng 48.000 tấn/ năm; trong đó, diện tích sản xuất theo quy trình VietGAP 73 ha; đã đăng ký 16 mã số vùng với diện tích 114,29 ha tại các vùng trồng vú sữa tập trung.
Trong niên vụ 2018 - 2019 và 2019 - 2020 có gần 100 tấn vú sữa được xuất sang thị trường Hoa Kỳ; riêng trái vú sữa tím của huyện Kế Sách được công nhận là sản phẩm OCOP 4 sao (Vũ Bá Quan, 2020). Ruồi đục trái Bactrocera 2. Phân bố của ruồi đục trái Ruồi đục trái có tên khoa học là Bactrocera dorsalis (B. dorsalis) – còn gọi là ruồi vàng.