Khóa luận tốt nghiệp chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng phát triển du lịch bền vững tại làng nôm đại đồng văn lâm hưng yên

Khóa luận tốt nghiệp nghiên cứu tốt nghiệp chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng phát triển du lịch bền vững tại làng nôm đại đồng, vận dụng lý thuyết vào thực tế, đề xuất giải

Chuyên ngành

Việt Nam học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp đại học

2016

85
3
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu về đề tài

Khóa luận này tập trung vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế tại làng Nôm, Đại Đồng, Văn Lâm, Hưng Yên theo hướng phát triển du lịch bền vững. Làng Nôm, với vị trí địa lý thuận lợi và tài nguyên du lịch phong phú, có tiềm năng lớn để phát triển du lịch văn hóa. Đề tài sẽ phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển du lịch bền vững, từ đó đưa ra các giải pháp khả thi nhằm khai thác hiệu quả tài nguyên du lịch của làng.

1.1. Tầm quan trọng của du lịch bền vững

Du lịch bền vững không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn bảo tồn văn hóa và môi trường. Theo Luật du lịch Việt Nam, "Du lịch văn hóa là hình thức du lịch dựa vào bản sắc văn hóa dân tộc với sự tham gia của cộng đồng nhằm bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống". Việc phát triển du lịch bền vững tại làng Nôm sẽ giúp nâng cao đời sống của người dân địa phương, đồng thời bảo tồn các giá trị văn hóa đặc sắc của làng.

II. Điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội

Làng Nôm có điều kiện tự nhiên thuận lợi với hệ thống giao thông phát triển, tạo điều kiện cho việc thu hút khách du lịch. Từ năm 1945 đến 1986, làng Nôm đã trải qua nhiều biến động, nhưng vẫn giữ được bản sắc văn hóa và truyền thống. Các yếu tố như phong tục tập quán, tôn giáo, tín ngưỡng và các nghề thủ công truyền thống là những tài nguyên quý giá cho phát triển du lịch. Việc khai thác các yếu tố này sẽ giúp tạo ra các sản phẩm du lịch độc đáo, thu hút du khách.

2.1. Tài nguyên du lịch văn hóa

Tài nguyên du lịch văn hóa của làng Nôm bao gồm các di tích lịch sử, các lễ hội truyền thống và các nghề thủ công mỹ nghệ. Những yếu tố này không chỉ tạo nên sức hấp dẫn cho du khách mà còn góp phần bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của địa phương. Việc phát triển các sản phẩm du lịch dựa trên tài nguyên văn hóa sẽ giúp nâng cao nhận thức của cộng đồng về giá trị văn hóa của chính mình.

III. Thực trạng hoạt động phát triển du lịch

Thực trạng hoạt động phát triển du lịch tại làng Nôm hiện nay còn nhiều hạn chế. Cơ sở hạ tầng chưa đáp ứng đủ nhu cầu của khách du lịch, nguồn nhân lực chưa được đào tạo bài bản. Tuy nhiên, những mặt tích cực như sự quan tâm của chính quyền địa phương và sự tham gia của cộng đồng là những yếu tố quan trọng để thúc đẩy phát triển du lịch. Đánh giá thực trạng sẽ giúp nhận diện rõ hơn những điểm mạnh và điểm yếu trong hoạt động du lịch tại làng Nôm.

3.1. Cơ sở hạ tầng và dịch vụ

Cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch tại làng Nôm còn thiếu và yếu. Các dịch vụ ăn uống, lưu trú chưa được đầu tư đúng mức, ảnh hưởng đến trải nghiệm của du khách. Để phát triển du lịch bền vững, cần có sự đầu tư đồng bộ vào cơ sở hạ tầng và dịch vụ, từ đó nâng cao chất lượng phục vụ và thu hút khách du lịch.

IV. Giải pháp phát triển du lịch bền vững

Để phát triển du lịch bền vững tại làng Nôm, cần có các giải pháp cụ thể như tăng cường hợp tác với các địa phương khác, tổ chức các sự kiện du lịch, và khai thác các giá trị văn hóa truyền thống. Việc kết nối du lịch làng nghề với du lịch văn hóa sẽ tạo ra những sản phẩm du lịch đa dạng, đáp ứng nhu cầu của du khách. Đồng thời, cần chú trọng đến việc đào tạo nguồn nhân lực và nâng cao nhận thức của cộng đồng về phát triển du lịch.

4.1. Đào tạo và nâng cao nhận thức

Đào tạo nguồn nhân lực là yếu tố then chốt để phát triển du lịch bền vững. Cần tổ chức các khóa đào tạo về nghiệp vụ du lịch, ngoại ngữ và bảo vệ môi trường cho cộng đồng. Việc nâng cao nhận thức của người dân về giá trị văn hóa và tài nguyên du lịch sẽ giúp họ tích cực tham gia vào hoạt động du lịch, từ đó góp phần bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của làng Nôm.

10/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

chương 1, khoá luận đã nghiên cứu những vấn đề lý luận nói chung và du lịch bền vững nói riêng. Qua nghiên cứu, khoá luận rút ra được những quan điểm sau đây: Để hướng tới phát triển du lịch bền vững cần phải hướng tới 4 mục tiêu đó là: Hoạch định phát triển bền vững và hiệu quả; nâng cao lợi ích kinh tế -xã hội cho cộng đồng địa phương; gìn giữ di sản văn hoá và giảm thiểu những ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường. Phát triển du lịch phải dựa trên những cơ sở bền vững có nghĩa là phải đảm bảo hiệu qua về kinh tế cũng như đảm bảo những công bang xã hội va dân tộc đối với cộng đồng địa phương. Dựa vào những cơ sở lý luận trên, tôi sẽ tiễn hành tìm hiểu, nghiên cứu những thế mạnh, tiềm năng để phát triển du lịch, cụ thể là du lịch văn hóa bền vững tại làng Nôm, trên co sở đó dé xuất những phương hướng giải pháp khai thác phát triển tiềm năng to lớn này.

15 CHƯƠNG 2 ĐIỀU KIEN TỰ NH IÊ N, DI EU KI ỆN KI NH TE XÃ HỘ I PH ÁT TRIEN DU LICH VAN HOA TẠI LANG NOM 2. L i c h s ử h ì n h t h à n h Với vị trí và điều kiện địa lí thuận lợi, vùng Dâu xưa sớm có các lớp dan cư Việt cổ đến khai phá lập làng.Với làng Cau Nôm, lịch sử hình thành vẫn còn nhiều mảng trống. Hiện nay, trong và quanh làng Nôm chưa phát hiện được một di chỉ khảo cỗ nào xác định thời điểm hình thành làng. Tuy nhiên, một số tư liệu có thể làm cơ sở cho việc tìm hiểu lịch sử làng Nôm xưa.

Thời Lê sơ - qua Bia Sung Tao Linh Thung Tự Bi Ký còn lưu tại chùa Linh Thông thì làng Nôm là thôn Tùng Kiều, xã Tùng Xá, huyện Siêu Loại, phủ Thuận An, tran Kinh Bắc vào khoảng đầu thời Lê Trinh, có lẽ do kiêng húy Trịnh Tùng, nên đổi thành tên Đồng Cầu, tổng Đồng Xá và vẫn thuộc các làng, phủ. Đến đầu thế kỷ XIX, trong sách “Tên làng xã Việt Nam” có ghi trong tổng Đình Tổ có xã Đại Đồng gồm ba thôn: Đông, Đoài và thôn Vân, không thấy có tên Cầu Nôm. Sự ghi chép chưa rõ ràng này gây khó khăn cho việc xác định đơn vị hành chính, không rõ khi đó làng Nôm thuộc xã nào, đã đổi tên thành Đại Đồng chưa? Hay vẫn giữ tên cũ? Như vậy, làng Nôm vào đầu thế kỷ XIX trực thuộc xã, tông nào trong tình hình tư liệu hiện nay, vẫn còn là một khoảng trống. [10] Sau khi thực dân Pháp xâm lược chúng cắt làng Nôm vào huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên.

Năm 1948,xã Đại Đồng được thành lập thi làng có tên là làng Đại Đồng - làng Nôm. Điều kiện tự nhiên Vi trí địa ly Từ thủ đô Hà Nội, xuôi theo quốc lộ 5, rẽ tay trái theo đường xe lửa Hà Nội - Hải Phòng qua ga Lạc Đạo, đi thêm 5km chúng ta vào dia phận của một 16 ice nỗi tiếng đã đi và o ca da o cô: “Đ ồn g nát thì về cầ u Nô m - co n gái no - mồm về ở với cha”. Làng Nôm thuộc xã Đại Đồng - huyện Văn Lâm - tỉnh Hưng Yên, một tỉnh năm ở trung tâm đồng bằng Sông Hồng, là cửa ngõ phía Đông của Hà Nội, Hưng Yên có 23km quốc lộ 5A (làng Nôm chỉ cách quốc lộ 5A 5 km) và tuyến đường sắt Hà Nội - Hải Phòng chạy qua địa phận xã Đại Đồng. Làng Nôm cách Hà Nội 30km về phía Tây, cách thành phố Bắc Ninh 25km.

Phía Bắc giáp với làng Đại Bi, phía Tây giáp với làng Lộng Thượng, phía Nam giáp với Làng Đồng Xá, phía Đông giáp với làng Việt Hung. Điều kiện kinh tế - văn hoá- xã hội Làng Nôm từ năm 1945 - 1986 2. Nghề buôn bán Làng Nôm nằm trong vùng có nhiều làng thủ công đúc đồng, gò đồng truyền thống nỗi tiếng, có đường giao thông thủy bộ thuận lợi, trong thời cô là trung tâm kinh tế, văn hóa, quân sự, tôn giáo và thương mại. Những điều kiện đó đã giúp cho làng sớm hòa nhập vào luồng kinh tế hàng hóa và lấy nghề buôn làm nghề sống chính cho mình.

[6] Làng Nôm là khâu trung gian giữa các làng đúc đồng với người tiêu dùng, đảm bảo việc cung cấp nguyên liệu và tiêu thụ sản phẩm cho các làng này. Người làng Nôm sớm thiết lập một mạng lưới sâu rộng để buôn đồng và bán các sản phẩm đồng. Bắt đầu từ nghề chè trai đồng nát hoặc hàn nỗi, hàn xoong dé kiếm sống qua ngày, người làng Nôm tiến đến buôn chuyền các loại mặt hàng của nghề sản xuất đồng, mở cửa hiệu hoặc làm đại lý thu gom mua bán đồng nát ở các thành phó, thị xã, thị trấn lớn của miền Bắc và miễn Trung. Với nghề buôn đồng, người làng Nôm đã mở rộng thị trường đến hầu như toàn bộ vùng đồng bằng, vùng nông thôn và thành thị.

Cuộc sống bận rộn với nhộn nhịp với lãi suất lớn, vượt hắn lên so với nghề nông, đã làm cho làng Nôm trở thành làng giàu có. Nghề buôn đồng đã làm xuất hiện một tang lớp 17 # q thương ở làng cũng n hư ở các đô thị, nơi người làng Nôm đến lập nghi ệp ảnh nghé. Nghề nông Nghề buôn phát triển đã tác động đến nhiều mặt đời sống cuả làng, trước hết là đến sở hữu ruộng đất: ruộng đất công không còn ton tai, ruộng ị thuộc sở hữu tập thể rất mờ nhạt, tuyệt đại bộ phận ruộng đất trong làng thuộc sở hữu tư nhân, và trong số này, hầu hết thuộc sở hữu của các gia đình, sau một thời gian làm ăn phát đạt trở về làng tâu ruộng. Tuy vây, với mức độ không nhiều và trên phần ruộng đó, phần lớn họ giao cho anh em, họ hàng sử dụng, một số tô chức sản xuất nông nghiệp theo kiểu thuê mướn nhân công để hàng năm họ từ các thành phó, thị xã trên khắp miền Bắc trở về làng vào ngày 11 tháng Giêng dự hội làng và thờ cúng dòng họ mình.

Những người không có cửa hàng, cửa hiệu chỉ ở làng để đi buôn chuyến, buôn vặt, họ có nhiều ruộng đất nhưng cho phát canh thu tô với lãi suất thấp. Chính vì vậy ở làng Nôm không xuất hiện một tầng lớp địa chủ giàu lên từ nông nghiệp. Tổ chức, đặc điểm xã hội của cư dân làng Nôm Cấu trúc vật chất của làng xóm của làng Nôm với tư cách là làng buôn nhìn chung không có gì khác biệt so với làng Việt truyền thống. Vẫn là đường làng, ngõ xóm, kín cổng cao tường, vẫn đình chùa.

Có chăng là nhà cửa đa phần được xây dựng theo kiểu mới nhất, được “ngói hóa” và trên những xóm ngõ trung tâm, các nha từ đường của các họ chen nhau phô bay, trong khi những họ kém thế, phải để từ đường dòng họ ở nơi khuất nẻo trong làng. Cơ chế tô chức xã hội ở nơi đây gồm ngõ xóm, dòng họ, phe phái, phường hội và bộ máy quản lí làng xã. Tuy nhiên, sự phát triển của nghề buôn cũng ảnh hưởng khá mạnh tới các quan hệ xã hội trong làng. Chỉ trừ các quan hệ trong dòng họ, còn các quan hệ của các thiết chế khác nói chung là lỏng lẻo, bị đồng tiền chi phối.

[6] 18 ị Sự phá t tri ển của ng hề bu ôn cũ ng tác độ ng mạ nh mẽ tới tâ m lí ngư ời k Nôm, đa số người làng không ch ú tr ọn g tớ i vi ệc mu a qu an , bá n tư ớc , tớ i | giành và giữ một địa vị trong xã hội, lang xã ma ho chỉ chú trọng tới di 'uôn, tới lợi nhuận. Cũng do sự phát triên của buôn bán mà không tránh khỏi ' những tâm lí thích khuyếch, hướng đại. hoặc gây ra những hiềm kị, cách ` biệt giữa hai khối người làm nông và đi buôn, người làng và người ngụ cư. Nghề buôn phát triển tác động đến phong tục tập quán và tôn giáo tín ngưỡng của làng, thể hiện ở việc con trai, con gái trong làng thường đi lấy vợ, lấy chồng ở các làng buôn, làng có nghé thủ công khác.

C6 bàn, ma chay, cưới xin, khao lão linh đình hơn han các làng Việt truyền thống. Những quy định về thờ cúng vào những ngày tế lễ, hội làng, đình chùa nhà từ đường được phô trương 4m ï. Những kiêng ki, chọn ngày lành tháng tốt, chọn giờ đi, chọn giờ về, chọn thế, chọn hướng được thực hiện cần thận, đắn đo. Tuy nhiên, dù nghề buôn đồng phát triển, mang lại cho làng Nôm một số đặc thù và thay đổi thì trong bối cảnh của xã hội phong kiến chưa tạo ra được sự thay đôi dé phá vỡ thiết chế làng Nôm cổ truyền trở thành một trung tâm buôn bán với những phố phường, với những cửa hàng, cửa hiệu sam uất, người mua người bán nhộn nhịp, khác han với một làng Việt làm nông nghiệp hay buôn bán bình thường khác.

Gần bến mươi năm qua, ké từ khi hòa bình lập lại năm 1954, dưới tác động của những chính sách kinh tế - xã hội của nhà nước Việt Nam, cuộc sông, bộ mặt làng Nôm đã có nhiều đổi khác. Những người phụ nữ xưa kia chỉ quen buôn bán, ăn trắng, mặc trơn, nay đây mai đó và những người đàn ông không quen việc nghề nông nay họ phải quay về học cày, học bừa, học 19 i làm nông nghiép, số đông ngườ i bu ôn bá n xư a, đề u co i nh ư “n o đâ u, 4m đâ y” , z Ax;”? không cò n qu ay về sin h sốn g tại làn g. Cu ộc sốn g nh ộn nhị p, ná o nhi ệt the o nhịp độ sôi động củ a th ươ ng tr ườ ng xư a kia đã ma t đi mà th ay và o đó là cu ộc sống theo nhịp điệ u mù a vụ của sản xuấ t nô ng ngh iệp. Có mộ t thờ i, nh ữn g chủ trương “ngăn sông cấm cho” đã gây ra những tác động xấu tới những làng quê khác đặc biệt với làng Nôm - một làng buôn có tiếng đã bị “nông nghiệp hóa”, trở lại và cùng chung số phận với nó là những làng nghề đúc đồng ở vùng châu thé này, đã một thời gan bó chặt chẽ với làng Nôm.

Vẻ trù phú giàu có của một làng quê buôn bán xưa đã thay bằng một làng Nôm tiêu điều, nghèo đói của những người nông dân quanh năm chân nắm tay bùn mà vẫn “ăn bữa hôm, lo bữa mai”.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Chuyển dịch cơ cấu kinh tế phát triển du lịch bền vững tại Làng Nôm, Đại Đồng, Văn Lâm, Hưng Yên" đề cập đến những chiến lược và giải pháp nhằm thúc đẩy sự phát triển du lịch bền vững tại khu vực Làng Nôm. Tài liệu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế để khai thác tiềm năng du lịch, đồng thời bảo vệ môi trường và văn hóa địa phương. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin hữu ích về cách thức phát triển du lịch không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn góp phần bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống.

Để mở rộng thêm kiến thức về các khía cạnh liên quan, bạn có thể tham khảo các tài liệu như Tiềm năng mở rộng và sự tham gia của khách hàng vào hoạt động cho vay ngang hàng tại Việt Nam, nơi bạn có thể tìm hiểu về các mô hình kinh tế mới có thể áp dụng cho du lịch. Bên cạnh đó, Luận văn thạc sĩ xây dựng thương hiệu website cho các doanh nghiệp bán lẻ trực tuyến sẽ cung cấp cái nhìn về cách xây dựng thương hiệu trong lĩnh vực du lịch trực tuyến. Cuối cùng, Hoàn thiện công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực tại công ty cổ phần bảo vệ Long Hải sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về vai trò của nguồn nhân lực trong việc phát triển bền vững du lịch. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn sâu sắc hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển du lịch bền vững.