chương 1, khoá luận đã nghiên cứu những vấn đề lý luận nói chung và du lịch bền vững nói riêng. Qua nghiên cứu, khoá luận rút ra được những quan điểm sau đây: Để hướng tới phát triển du lịch bền vững cần phải hướng tới 4 mục tiêu đó là: Hoạch định phát triển bền vững và hiệu quả; nâng cao lợi ích kinh tế -xã hội cho cộng đồng địa phương; gìn giữ di sản văn hoá và giảm thiểu những ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường. Phát triển du lịch phải dựa trên những cơ sở bền vững có nghĩa là phải đảm bảo hiệu qua về kinh tế cũng như đảm bảo những công bang xã hội va dân tộc đối với cộng đồng địa phương. Dựa vào những cơ sở lý luận trên, tôi sẽ tiễn hành tìm hiểu, nghiên cứu những thế mạnh, tiềm năng để phát triển du lịch, cụ thể là du lịch văn hóa bền vững tại làng Nôm, trên co sở đó dé xuất những phương hướng giải pháp khai thác phát triển tiềm năng to lớn này.
15 CHƯƠNG 2 ĐIỀU KIEN TỰ NH IÊ N, DI EU KI ỆN KI NH TE XÃ HỘ I PH ÁT TRIEN DU LICH VAN HOA TẠI LANG NOM 2. L i c h s ử h ì n h t h à n h Với vị trí và điều kiện địa lí thuận lợi, vùng Dâu xưa sớm có các lớp dan cư Việt cổ đến khai phá lập làng.Với làng Cau Nôm, lịch sử hình thành vẫn còn nhiều mảng trống. Hiện nay, trong và quanh làng Nôm chưa phát hiện được một di chỉ khảo cỗ nào xác định thời điểm hình thành làng. Tuy nhiên, một số tư liệu có thể làm cơ sở cho việc tìm hiểu lịch sử làng Nôm xưa.
Thời Lê sơ - qua Bia Sung Tao Linh Thung Tự Bi Ký còn lưu tại chùa Linh Thông thì làng Nôm là thôn Tùng Kiều, xã Tùng Xá, huyện Siêu Loại, phủ Thuận An, tran Kinh Bắc vào khoảng đầu thời Lê Trinh, có lẽ do kiêng húy Trịnh Tùng, nên đổi thành tên Đồng Cầu, tổng Đồng Xá và vẫn thuộc các làng, phủ. Đến đầu thế kỷ XIX, trong sách “Tên làng xã Việt Nam” có ghi trong tổng Đình Tổ có xã Đại Đồng gồm ba thôn: Đông, Đoài và thôn Vân, không thấy có tên Cầu Nôm. Sự ghi chép chưa rõ ràng này gây khó khăn cho việc xác định đơn vị hành chính, không rõ khi đó làng Nôm thuộc xã nào, đã đổi tên thành Đại Đồng chưa? Hay vẫn giữ tên cũ? Như vậy, làng Nôm vào đầu thế kỷ XIX trực thuộc xã, tông nào trong tình hình tư liệu hiện nay, vẫn còn là một khoảng trống. [10] Sau khi thực dân Pháp xâm lược chúng cắt làng Nôm vào huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên.
Năm 1948,xã Đại Đồng được thành lập thi làng có tên là làng Đại Đồng - làng Nôm. Điều kiện tự nhiên Vi trí địa ly Từ thủ đô Hà Nội, xuôi theo quốc lộ 5, rẽ tay trái theo đường xe lửa Hà Nội - Hải Phòng qua ga Lạc Đạo, đi thêm 5km chúng ta vào dia phận của một 16 ice nỗi tiếng đã đi và o ca da o cô: “Đ ồn g nát thì về cầ u Nô m - co n gái no - mồm về ở với cha”. Làng Nôm thuộc xã Đại Đồng - huyện Văn Lâm - tỉnh Hưng Yên, một tỉnh năm ở trung tâm đồng bằng Sông Hồng, là cửa ngõ phía Đông của Hà Nội, Hưng Yên có 23km quốc lộ 5A (làng Nôm chỉ cách quốc lộ 5A 5 km) và tuyến đường sắt Hà Nội - Hải Phòng chạy qua địa phận xã Đại Đồng. Làng Nôm cách Hà Nội 30km về phía Tây, cách thành phố Bắc Ninh 25km.
Phía Bắc giáp với làng Đại Bi, phía Tây giáp với làng Lộng Thượng, phía Nam giáp với Làng Đồng Xá, phía Đông giáp với làng Việt Hung. Điều kiện kinh tế - văn hoá- xã hội Làng Nôm từ năm 1945 - 1986 2. Nghề buôn bán Làng Nôm nằm trong vùng có nhiều làng thủ công đúc đồng, gò đồng truyền thống nỗi tiếng, có đường giao thông thủy bộ thuận lợi, trong thời cô là trung tâm kinh tế, văn hóa, quân sự, tôn giáo và thương mại. Những điều kiện đó đã giúp cho làng sớm hòa nhập vào luồng kinh tế hàng hóa và lấy nghề buôn làm nghề sống chính cho mình.
[6] Làng Nôm là khâu trung gian giữa các làng đúc đồng với người tiêu dùng, đảm bảo việc cung cấp nguyên liệu và tiêu thụ sản phẩm cho các làng này. Người làng Nôm sớm thiết lập một mạng lưới sâu rộng để buôn đồng và bán các sản phẩm đồng. Bắt đầu từ nghề chè trai đồng nát hoặc hàn nỗi, hàn xoong dé kiếm sống qua ngày, người làng Nôm tiến đến buôn chuyền các loại mặt hàng của nghề sản xuất đồng, mở cửa hiệu hoặc làm đại lý thu gom mua bán đồng nát ở các thành phó, thị xã, thị trấn lớn của miền Bắc và miễn Trung. Với nghề buôn đồng, người làng Nôm đã mở rộng thị trường đến hầu như toàn bộ vùng đồng bằng, vùng nông thôn và thành thị.
Cuộc sống bận rộn với nhộn nhịp với lãi suất lớn, vượt hắn lên so với nghề nông, đã làm cho làng Nôm trở thành làng giàu có. Nghề buôn đồng đã làm xuất hiện một tang lớp 17 # q thương ở làng cũng n hư ở các đô thị, nơi người làng Nôm đến lập nghi ệp ảnh nghé. Nghề nông Nghề buôn phát triển đã tác động đến nhiều mặt đời sống cuả làng, trước hết là đến sở hữu ruộng đất: ruộng đất công không còn ton tai, ruộng ị thuộc sở hữu tập thể rất mờ nhạt, tuyệt đại bộ phận ruộng đất trong làng thuộc sở hữu tư nhân, và trong số này, hầu hết thuộc sở hữu của các gia đình, sau một thời gian làm ăn phát đạt trở về làng tâu ruộng. Tuy vây, với mức độ không nhiều và trên phần ruộng đó, phần lớn họ giao cho anh em, họ hàng sử dụng, một số tô chức sản xuất nông nghiệp theo kiểu thuê mướn nhân công để hàng năm họ từ các thành phó, thị xã trên khắp miền Bắc trở về làng vào ngày 11 tháng Giêng dự hội làng và thờ cúng dòng họ mình.
Những người không có cửa hàng, cửa hiệu chỉ ở làng để đi buôn chuyến, buôn vặt, họ có nhiều ruộng đất nhưng cho phát canh thu tô với lãi suất thấp. Chính vì vậy ở làng Nôm không xuất hiện một tầng lớp địa chủ giàu lên từ nông nghiệp. Tổ chức, đặc điểm xã hội của cư dân làng Nôm Cấu trúc vật chất của làng xóm của làng Nôm với tư cách là làng buôn nhìn chung không có gì khác biệt so với làng Việt truyền thống. Vẫn là đường làng, ngõ xóm, kín cổng cao tường, vẫn đình chùa.
Có chăng là nhà cửa đa phần được xây dựng theo kiểu mới nhất, được “ngói hóa” và trên những xóm ngõ trung tâm, các nha từ đường của các họ chen nhau phô bay, trong khi những họ kém thế, phải để từ đường dòng họ ở nơi khuất nẻo trong làng. Cơ chế tô chức xã hội ở nơi đây gồm ngõ xóm, dòng họ, phe phái, phường hội và bộ máy quản lí làng xã. Tuy nhiên, sự phát triển của nghề buôn cũng ảnh hưởng khá mạnh tới các quan hệ xã hội trong làng. Chỉ trừ các quan hệ trong dòng họ, còn các quan hệ của các thiết chế khác nói chung là lỏng lẻo, bị đồng tiền chi phối.
[6] 18 ị Sự phá t tri ển của ng hề bu ôn cũ ng tác độ ng mạ nh mẽ tới tâ m lí ngư ời k Nôm, đa số người làng không ch ú tr ọn g tớ i vi ệc mu a qu an , bá n tư ớc , tớ i | giành và giữ một địa vị trong xã hội, lang xã ma ho chỉ chú trọng tới di 'uôn, tới lợi nhuận. Cũng do sự phát triên của buôn bán mà không tránh khỏi ' những tâm lí thích khuyếch, hướng đại. hoặc gây ra những hiềm kị, cách ` biệt giữa hai khối người làm nông và đi buôn, người làng và người ngụ cư. Nghề buôn phát triển tác động đến phong tục tập quán và tôn giáo tín ngưỡng của làng, thể hiện ở việc con trai, con gái trong làng thường đi lấy vợ, lấy chồng ở các làng buôn, làng có nghé thủ công khác.
C6 bàn, ma chay, cưới xin, khao lão linh đình hơn han các làng Việt truyền thống. Những quy định về thờ cúng vào những ngày tế lễ, hội làng, đình chùa nhà từ đường được phô trương 4m ï. Những kiêng ki, chọn ngày lành tháng tốt, chọn giờ đi, chọn giờ về, chọn thế, chọn hướng được thực hiện cần thận, đắn đo. Tuy nhiên, dù nghề buôn đồng phát triển, mang lại cho làng Nôm một số đặc thù và thay đổi thì trong bối cảnh của xã hội phong kiến chưa tạo ra được sự thay đôi dé phá vỡ thiết chế làng Nôm cổ truyền trở thành một trung tâm buôn bán với những phố phường, với những cửa hàng, cửa hiệu sam uất, người mua người bán nhộn nhịp, khác han với một làng Việt làm nông nghiệp hay buôn bán bình thường khác.
Gần bến mươi năm qua, ké từ khi hòa bình lập lại năm 1954, dưới tác động của những chính sách kinh tế - xã hội của nhà nước Việt Nam, cuộc sông, bộ mặt làng Nôm đã có nhiều đổi khác. Những người phụ nữ xưa kia chỉ quen buôn bán, ăn trắng, mặc trơn, nay đây mai đó và những người đàn ông không quen việc nghề nông nay họ phải quay về học cày, học bừa, học 19 i làm nông nghiép, số đông ngườ i bu ôn bá n xư a, đề u co i nh ư “n o đâ u, 4m đâ y” , z Ax;”? không cò n qu ay về sin h sốn g tại làn g. Cu ộc sốn g nh ộn nhị p, ná o nhi ệt the o nhịp độ sôi động củ a th ươ ng tr ườ ng xư a kia đã ma t đi mà th ay và o đó là cu ộc sống theo nhịp điệ u mù a vụ của sản xuấ t nô ng ngh iệp. Có mộ t thờ i, nh ữn g chủ trương “ngăn sông cấm cho” đã gây ra những tác động xấu tới những làng quê khác đặc biệt với làng Nôm - một làng buôn có tiếng đã bị “nông nghiệp hóa”, trở lại và cùng chung số phận với nó là những làng nghề đúc đồng ở vùng châu thé này, đã một thời gan bó chặt chẽ với làng Nôm.
Vẻ trù phú giàu có của một làng quê buôn bán xưa đã thay bằng một làng Nôm tiêu điều, nghèo đói của những người nông dân quanh năm chân nắm tay bùn mà vẫn “ăn bữa hôm, lo bữa mai”.