Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp đại học ngành Việt Nam học của tác giả Nguyễn Thị Tuyến (Khoa Việt Nam học và Tiếng Việt, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2016) mang tên: "Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng phát triển du lịch bền vững tại làng Nôm - Đại Đồng - Văn Lâm - Hưng Yên", dưới sự hướng dẫn của TS. Nguyễn Thị Thuận.
Về bối cảnh thực tiễn và lý do chọn đề tài, tác giả chỉ ra rằng du lịch được xác định là ngành kinh tế quan trọng trên phạm vi toàn cầu và đã được Đảng Cộng sản Việt Nam định hướng tại Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX: phát triển du lịch thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn dựa trên việc khai thác lợi thế tự nhiên, sinh thái, truyền thống văn hóa, lịch sử. Làng Nôm (xã Đại Đồng, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên) nằm ở trung tâm đồng bằng châu thổ sông Hồng, tuy không có tài nguyên du lịch biển hay rừng núi nhưng lại sở hữu nguồn tài nguyên du lịch nhân văn phong phú. Trong lịch sử giai đoạn 1945–1986, làng từng phát triển mạnh nghề buôn bán nhỏ (đặc biệt là nghề thu gom và buôn bán đồng nát). Sau đó, làng quay trở lại sản xuất nông nghiệp thuần túy dẫn đến kinh tế gặp nhiều khó khăn. Nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phát huy thế mạnh bản địa, chính quyền và nhân dân làng Nôm đã bắt đầu khai thác tiềm năng du lịch văn hóa. Tuy nhiên, hoạt động phát triển du lịch tại đây còn mang tính tự phát, manh mún, chưa tương xứng với tiềm năng hiện có.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài được tác giả xác định gồm 4 nội dung:
- Tổng quan một số vấn đề lý luận liên quan đến đề tài nghiên cứu.
- Làm rõ quá trình chuyển mình từ buôn bán nhỏ sang khai thác tiềm năng phát triển du lịch tại làng Nôm.
- Phân tích, đánh giá những điều kiện phát triển du lịch văn hoá, thực trạng hoạt động du lịch văn hoá và phát triển sản phẩm du lịch văn hoá của làng Nôm về tiềm năng, lợi thế có sẵn, những thuận lợi và khó khăn của làng trong quá trình phát triển du lịch.
- Đề xuất một số giải pháp có thể vận dụng góp phần phát triển sản phẩm du lịch văn hoá làng Nôm.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Tình hình kinh tế của làng Nôm trước năm 1945 và thực trạng phát triển du lịch tại làng hiện nay.
- Phạm vi không gian: Tài nguyên du lịch nhân văn của làng Nôm, xã Đại Đồng, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên.
- Phạm vi thời gian: Sử dụng các nguồn tài liệu lịch sử từ năm 1945 đến thời điểm thực hiện; thời gian khảo sát thực tế tập trung vào giai đoạn 2013–2015.
Tổng quan lịch sử nghiên cứu đề tài ghi nhận một số công trình tiêu biểu đi trước: luận văn thạc sĩ khu vực học bằng tiếng Anh "Nom village: tradition and renovation" của tác giả Nguyễn Thị Thúy Hằng (2013) nghiên cứu các biến đổi của làng từ 1945 đến 2010; khóa luận tốt nghiệp "Làng Đại Đồng (Nôm) - với sự phát triển du lịch văn hoá tỉnh Hưng Yên" của tác giả Ngô Thị Duyên (2012, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội); ấn phẩm "Làng Nôm - con người và lịch sử" của tác giả Phùng Nghiệp (Nhà xuất bản Hội Nhà văn); cùng các phóng sự truyền hình của Đài Phát thanh và Truyền hình Hưng Yên (2015), VTC (2014) và VTV (2014). Tác giả nhận định các công trình trước chủ yếu đề cập điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội mà chưa phân tích sâu thực trạng phát triển du lịch văn hóa dưới góc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế bền vững.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý luận dựa trên các khái niệm, khung lý thuyết chuyên ngành du lịch và văn hóa:
- Du lịch văn hóa: Tiếp cận định nghĩa của Hội đồng Quốc tế các Di chỉ và Di tích (ICOMOS) và Điều 4 Luật Du lịch Việt Nam năm 2005 ("hình thức du lịch dựa vào bản sắc văn hoá dân tộc với sự tham gia của cộng đồng nhằm bảo tồn và phát huy những giá trị văn hoá truyền thống").
- Tài nguyên du lịch văn hóa: Phân chia thành tài nguyên văn hóa vật thể (di tích, cổ vật, bảo vật, công trình kiến trúc...) và tài nguyên văn hóa phi vật thể (lễ hội truyền thống, làng nghề, nghệ thuật dân gian, phong tục tập quán, ẩm thực...).
- Sản phẩm du lịch và sản phẩm du lịch văn hóa: Sử dụng khung lý thuyết của Coltman, Robert Christie Mill và Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO) về hai nhóm yếu tố cấu thành sản phẩm (yếu tố tự nhiên và đặc điểm nhân tạo), phân biệt sự khác nhau giữa sản phẩm văn hóa thuần túy và sản phẩm du lịch văn hóa.
- Điểm du lịch, tuyến điểm du lịch và xúc tiến du lịch: Định nghĩa theo Luật Du lịch năm 2005 và các giáo trình chuyên ngành; định nghĩa khách du lịch của nhà kinh tế học Áo Lozep Stander; lý thuyết về tính mùa vụ trong du lịch.
- Phát triển du lịch bền vững: Phân tích các nguyên tắc bền vững gồm khai thác hợp lý tài nguyên, bảo tồn tính đa dạng nhân văn, chia sẻ lợi ích với cộng đồng bản địa, đào tạo nguồn nhân lực, xúc tiến có trách nhiệm và nghiên cứu thường xuyên; đảm bảo 4 trụ cột: bền vững kinh tế, bền vững xã hội, bền vững môi trường và bền vững văn hóa.
Phương pháp nghiên cứu được triển khai trong khóa luận:
- Phương pháp thu thập và xử lý thông tin, số liệu: Thu thập dữ liệu thứ cấp từ sách báo, tạp chí khoa học, báo cáo hành chính của Ủy ban nhân dân xã Đại Đồng, Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch tỉnh Hưng Yên; thu thập dữ liệu sơ cấp thông qua khảo sát thực tế và phỏng vấn cán bộ địa phương, nhân dân làng Nôm.
- Phương pháp phân tích tổng hợp: Phân tích mối liên hệ tương tác giữa văn hóa và hoạt động du lịch, phân tích tuyến điểm du lịch trên địa bàn.
- Phương pháp nghiên cứu thực địa, điền dã: Trực tiếp quan sát, ghi chép hiện trạng cảnh quan, di tích, hạ tầng và các hoạt động lễ hội tại địa bàn làng Nôm.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý luận liên quan đến đề tài
Chương 1 hệ thống hóa khung khái niệm cơ bản phục vụ cho đề tài nghiên cứu. Tác giả làm rõ nội hàm của du lịch văn hóa, phân loại tài nguyên du lịch văn hóa vật thể và phi vật thể, phân tích cấu trúc cấu thành của sản phẩm du lịch văn hóa từ ba yếu tố: tài nguyên du lịch văn hóa, dịch vụ du lịch, và môi trường tự nhiên cùng môi trường kinh tế - xã hội.
Chương này cũng thiết lập bảng đối sánh giữa sản phẩm văn hóa và sản phẩm du lịch, chỉ ra rằng sản phẩm văn hóa mang tính bất biến, đậm dấu ấn cộng đồng bản địa và phục vụ đời sống tinh thần; trong khi sản phẩm du lịch đòi hỏi tính thích ứng, được thương mại hóa trên thị trường nhằm thỏa mãn nhu cầu của du khách và đo lường bằng các chỉ tiêu kinh tế - xã hội. Tác giả tổng kết 4 mục tiêu cốt lõi của du lịch bền vững gồm: hoạch định hiệu quả, nâng cao lợi ích kinh tế cho cộng đồng, gìn giữ di sản văn hóa và giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường sinh thái.
Chương 2: Điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội phát triển du lịch văn hoá tại làng Nôm
Chương 2 trình bày toàn diện các điều kiện tiền đề để phát triển du lịch tại làng Nôm:
- Lịch sử hình thành và vị trí địa lý: Dựa trên văn bia "Sùng Tạo Linh Thông Tự Bi Ký" lưu tại chùa Nôm, làng Nôm thời Lê sơ có tên là thôn Tùng Kiều, xã Tùng Xá, huyện Siêu Loại, phủ Thuận An; đầu thời Lê Trung Hưng đổi thành Đồng Cầu, tổng Đồng Xá; sang thế kỷ XIX sách "Tên làng xã Việt Nam" ghi thuộc xã Đại Đồng gồm ba thôn Đông, Đoài, Vân; năm 1948 chính thức thành lập xã Đại Đồng thuộc huyện Văn Lâm. Về vị trí, làng nằm cách Hà Nội 30 km về phía Tây, cách thành phố Bắc Ninh 25 km, cách Quốc lộ 5A 5 km và có tuyến đường sắt Hà Nội - Hải Phòng chạy qua ga Lạc Đạo.
- Điều kiện kinh tế - xã hội và tập quán: Giai đoạn 1945–1986, làng phát triển nghề buôn đồng nát, làm khâu trung gian phân phối cho các làng nghề đúc đồng trong vùng, tạo nên sự sung túc và hình thành lối sống thiên về thương nghiệp, ruộng đất chủ yếu thuộc sở hữu tư nhân. Sau năm 1954, do chính sách kinh tế thời kỳ đó, làng chuyển sang sản xuất nông nghiệp thuần túy. Đến thời kỳ Đổi mới, gần một nửa trong tổng số 122 hộ dân tiếp tục duy trì hoạt động buôn bán nhỏ tại chợ Nôm.
- Hệ thống tài nguyên du lịch văn hóa vật thể:
- Cổng làng Nôm: Xây dựng năm Ất Mão 1855, mặt trước có ba chữ đại tự "Đồng Cầu môn", bốn cột gồm hai cột cái và hai cột quân đắp đấu bát lồng đèn, quả giành giành đắp hình bốn chim phượng hướng bốn phương, đắp tượng nghê đá và câu đối cổ.
- Đình làng Nôm: Thờ tướng Tam Giang ("Hộ Quốc Phúc Thần"), quay hướng Đông Nam, xây dựng theo kiểu chữ "Tam" gồm 5 gian đại bái, 3 gian chính đường, tả vu, hữu vu và hậu cung; lưu giữ 14 bức đại tự, 20 câu đối cổ, 18 đạo sắc phong (muộn nhất thời vua Bảo Đại), rồng đá thời Nguyễn và cặp voi đá chầu.
- Hệ thống nhà thờ tổ: Gồm 9 ngôi từ đường của 7 dòng họ lớn (Nguyễn, Phùng, Tạ, Đỗ, Đan...) đều xây dựng theo trục hướng ra hồ nước trung tâm.
- Giếng đá cổ: Giếng xây bằng đá xanh hàng trăm năm tuổi trước sân đình, khắc bốn chữ "Âm hà tư nguyên".
- Chùa Nôm (Linh Thông Cổ Tự): Xây dựng từ thời Lý theo kiểu "nội công ngoại quốc" trên khu đất rộng 8.000 m² bao quanh bởi tường đá ong; cổng tam quan bằng gỗ lim cao 25 m trùng tu năm 2008; lưu giữ hơn 100 pho tượng cổ bằng đất nung; khu thủy đình trên hồ sen xây dựng năm 2000 nối bằng cầu đá 36 phiến đá và 27 cột đá mui rùa cùng 2 ngọn tháp Cửu liên hoa bằng đồng hun.
- Tài nguyên du lịch văn hóa phi vật thể: Lễ hội truyền thống diễn ra từ ngày mồng 10 đến ngày 12 tháng Giêng âm lịch (chuyển dịch thời gian so với ngày sinh mồng 10 tháng Hai và ngày mất mồng 10 tháng Tám của Thánh Tam Giang do đặc thù bận rộn buôn bán quanh năm của cư dân). Nghi thức bao gồm lễ rước nước sáng mồng 10, tế thần dâng 6 tuần rượu và lễ rước kiệu sáng ngày 11 với đoàn rước 120 người, múa rồng lửa 12 người cùng 5 cụ bô lão cầm kiếm lệnh.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống giao thông đường bộ liên xã đã cải tạo, Đại đức Thích Đồng Huệ tài trợ mở đường nối từ đường 385/388 vào làng; mạng lưới viễn thông và di động phủ kín; môi trường làng quê giữ được không gian trong lành, không bị ô nhiễm công nghiệp.
Chương 3: Thực trạng hoạt động du lịch văn hoá và phát triển sản phẩm du lịch văn hoá của làng Nôm
Chương 3 tập trung phân tích số liệu thực trạng hoạt động du lịch trên địa bàn:
- Cơ sở hạ tầng và vật chất kỹ thuật: Giai đoạn 2010–2015, ngân sách trung ương hỗ trợ 2 tỷ đồng xây mới đường liên thôn, đường làng và cổng làng; Đại đức Thích Đồng Huệ hỗ trợ toàn bộ kinh phí làm con đường dài 2 km nối từ lộ 388 đến cổng làng Nôm. Về cơ sở lưu trú, làng Nôm chưa có cơ sở lưu trú chính thức; toàn huyện Văn Lâm có 5 nhà nghỉ tập trung tại thị trấn Như Quỳnh (cách làng 5 km). Về cơ sở ăn uống, thường ngày làng có 2 cửa hàng, vào các ngày chợ phiên (mồng 1, 4, 6, 9) tăng lên 10 cửa hàng.
- Thị trường khách du lịch: Khách chủ yếu là khách nội địa đến từ khu vực Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh và các tỉnh lân cận, tập trung cao điểm vào các tháng Giêng, tháng Hai và tháng Tư để đi lễ hội, tham quan dã ngoại.
| Hình thức dịch vụ tại làng Nôm |
| Hiệu làm đầu |
| Sửa chữa xe máy |
| Hiệu thuốc |
| Cửa hàng quần áo |
| Cửa hàng nước giải khát |
| Cửa hàng tạp hoá |
| Cửa hàng rượu |
| Bãi đỗ xe |
| Quán phở |
| Dịch vụ Internet |
| Ảnh viện áo cưới |
| Cửa hàng chăn ga, gối đệm |
| Dịch vụ vận tải |
Nguồn: Tổng hợp từ văn bản khóa luận (Bảng 1)
Hộ kinh doanh bán đồ ăn sáng và nông sản tại chợ Nôm đạt thu nhập trung bình 3–4 triệu đồng/tháng (với mặt hàng lợi nhuận thấp đạt 1–2 triệu đồng/tháng).
| Địa bàn |
Năm 2013 |
Năm 2014 |
Năm 2015 |
| Tỉnh Hưng Yên |
1.100 |
1.200 |
1.200 |
Nguồn: UBND xã Đại Đồng, Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch tỉnh Hưng Yên (Bảng 2, đơn vị: USD/người/năm)
| Chỉ tiêu thống kê |
Năm 2013 |
| Tổng lượng khách đến tỉnh Hưng Yên |
59.500 |
Nguồn: Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch Hưng Yên, UBND xã Đại Đồng (Bảng 3, đơn vị: lượt người)
- Nhân lực, quản lý và phương tiện vận chuyển: Xã Đại Đồng có 8 người đã qua đào tạo chuyên ngành du lịch nhưng đều đi làm việc tại Hà Nội hoặc nơi khác; lực lượng thuyết minh tại chỗ là các cụ cao tuổi trong làng; cấp quản lý xã có 1 cán bộ Trưởng ban Văn hóa xã kiêm nhiệm công tác du lịch. Về vận chuyển, có 4 cá nhân/tổ chức kinh doanh vận tải với 10 phương tiện; năm 2013 mở tuyến xe buýt số 01 (Lương Tài - Như Quỳnh) chạy qua địa bàn xã (cách làng 1 km) nhưng phương tiện đã cũ.
- Hạn chế tồn tại: Hoạt động kinh doanh mang tính tự phát; thiếu khu vui chơi giải trí khiến khách chỉ tham quan trong ngày, chi tiêu thấp; thiếu bảng biển giới thiệu thông tin lịch sử tại đình làng; tuyến đường 385 xuống cấp do xe tải nặng chạy tránh trạm thu phí Quốc lộ 5; hoạt động du lịch chịu tính mùa vụ nặng nề.
Chương 4: Một số định hướng và giải pháp góp phần phát triển du lịch văn hoá bền vững ở Làng Nôm
Chương 4 đề xuất các nhóm giải pháp ứng dụng thực tế:
- Đề xuất kiến nghị đối với Ủy ban nhân dân tỉnh Hưng Yên, Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch cùng chính quyền cơ sở về quy hoạch và bố trí ngân sách.
- Giải pháp tổ chức quản lý: Củng cố bộ máy quản lý du lịch tại xã, thành lập ban quản lý di tích chuyên trách.
- Giải pháp cơ sở vật chất và nguồn lực: Khuyến khích mô hình lưu trú cộng đồng (homestay), mở các lớp bồi dưỡng kỹ năng du lịch cho người dân bản địa.
- Giải pháp phát triển sản phẩm du lịch: Đa dạng hóa các sản phẩm quà lưu niệm, khai thác nét độc đáo của ẩm thực Phật giáo tại chùa Nôm, kết nối tuyến du lịch văn hóa làng Nôm với các làng nghề đúc đồng truyền thống trong vùng.
- Giải pháp thị trường, xúc tiến và quảng bá: Đẩy mạnh truyền thông qua website, ấn phẩm thông tin, mở rộng liên kết tour tuyến với quần thể di tích Phố Hiến và các trung tâm du lịch vùng đồng bằng sông Hồng.
Kết quả và đóng góp
Các kết quả khảo sát và thống kê thực tế được công bố trong khóa luận:
- Tổng hợp toàn bộ nguồn lực đầu tư hạ tầng du lịch tại làng Nôm giai đoạn 2010–2015, bao gồm 2 tỷ đồng vốn trung ương hỗ trợ nâng cấp đường liên thôn, cổng làng và tuyến đường 2 km do Đại đức Thích Đồng Huệ tài trợ.
- Thống kê chi tiết hiện trạng kinh doanh dịch vụ với 13 loại hình dịch vụ dân sinh, quy mô 5 nhà nghỉ tại thị trấn lân cận, 2 cơ sở ăn uống thường nhật (10 cơ sở dịp chợ phiên) và 10 phương tiện vận chuyển khách của 4 chủ hộ.
- Khảo cứu và ghi nhận cụ thể hiện trạng di sản: Chùa Nôm rộng 8.000 m² với hơn 100 pho tượng đất cổ, cổng tam quan gỗ lim 25 m, cầu đá 36 phiến đá và 27 cột đá; đình làng lưu giữ 18 đạo sắc phong, 14 đại tự, 20 câu đối cổ; hệ thống 9 nhà thờ tổ của 7 dòng họ lớn.
- Đóng góp khoa học: Khóa luận là công trình nghiên cứu hệ thống đầu tiên phân tích làng Nôm dưới góc độ kinh tế du lịch và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng bền vững, vượt qua khuôn khổ của các nghiên cứu lịch sử hay phóng sự miêu tả đơn thuần trước đó, cung cấp luận cứ thực tiễn cho công tác quản lý du lịch tại địa phương.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Dữ liệu điều tra sơ cấp và số liệu thứ cấp của khóa luận tập trung chủ yếu trong giai đoạn 2013–2015; các tư liệu thành văn về lịch sử hành chính làng Nôm trước thế kỷ XIX còn nhiều khoảng trống chưa có di chỉ khảo cổ học xác thực; hệ thống giải pháp đề xuất ở Chương 4 chủ yếu mang tính định hướng khung chính sách quản trị cấp cơ sở.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng khảo sát định lượng về mức độ hài lòng và cơ cấu chi tiêu thực tế của du khách tại làng Nôm; đánh giá sâu hơn tác động môi trường khi lượng khách gia tăng; xây dựng đề án chi tiết về phát triển mô hình du lịch cộng đồng homestay gắn với chuỗi làng nghề đúc đồng vùng châu thổ sông Hồng.
Giá trị tham khảo
Tài liệu là nguồn tham khảo hữu ích cho sinh viên, học viên và các nhà nghiên cứu thuộc các ngành: Việt Nam học, Văn hóa học, Du lịch học, Quản trị Dịch vụ Du lịch và Lữ hành, Kinh tế phát triển.
Các nội dung có giá trị ứng dụng cao gồm:
- Toàn bộ tư liệu khảo cứu thực địa về kiến trúc cổ, hệ thống tượng đất chùa Nôm và tập quán hội làng trong Chương 2 phục vụ cho việc nghiên cứu di sản văn hóa đồng bằng Bắc Bộ.
- Phương pháp tiếp cận phân tích thực trạng dịch vụ, hạ tầng và nhân lực du lịch cấp làng xã tại Chương 3 phục vụ làm tài liệu mẫu cho các đề tài nghiên cứu kinh tế du lịch nông thôn.
Câu hỏi thường gặp
1. Lễ hội truyền thống làng Nôm có điểm gì khác biệt về thời gian tổ chức so với các làng quê Bắc Bộ thông thường?
Trả lời: Thông thường lễ hội diễn ra đúng ngày sinh (10/2) và ngày mất (10/8) của Thành hoàng (Thánh Tam Giang), nhưng làng Nôm chuyển ngày hội chính sang mồng 10 đến 12 tháng Giêng do cư dân có truyền thống đi buôn bán đồng quanh năm, chỉ tập trung đông đủ vào dịp đầu xuân.
2. Chùa Nôm (Linh Thông Cổ Tự) lưu giữ những công trình kiến trúc và hiện vật tiêu biểu nào?
Trả lời: Chùa nằm trên diện tích 8.000 m², sở hữu cổng tam quan bằng gỗ lim cao 25 m (trùng tu năm 2008), hơn 100 pho tượng cổ bằng đất nung, khu thủy đình tam mái giữa hồ sen nối bằng cầu đá gồm 36 phiến đá và 27 cột đá mui rùa cùng tháp Cửu liên hoa bằng đồng.
3. Cơ sở hạ tầng lưu trú và phục vụ ăn uống tại làng Nôm trong giai đoạn 2013–2015 như thế nào?
Trả lời: Làng Nôm chưa có cơ sở lưu trú chính thức (toàn huyện có 5 nhà nghỉ ở thị trấn Như Quỳnh cách làng 5 km); làng có 2 cửa hàng ăn uống thường nhật, vào ngày chợ phiên (mồng 1, 4, 6, 9) tăng lên 10 cửa hàng.
4. Nguồn vốn đầu tư nâng cấp hạ tầng giao thông làng Nôm giai đoạn 2010–2015 được huy động từ đâu?
Trả lời: Ngân sách trung ương hỗ trợ 2 tỷ đồng xây mới đường liên thôn, đường làng và cổng làng; kết hợp nguồn ngân sách xã, sự đóng góp của nhân dân và nguồn tài trợ toàn bộ của Đại đức Thích Đồng Huệ để làm con đường 2 km nối từ lộ 388 vào cổng làng.
5. Tác giả đề xuất những giải pháp gì để tạo sản phẩm du lịch đặc thù cho làng Nôm?
Trả lời: Tác giả đề xuất phát triển ẩm thực Phật giáo tại chùa Nôm, kết nối tour tuyến du lịch văn hóa làng Nôm với các làng nghề đúc đồng lân cận, liên kết với quần thể di tích Phố Hiến và phát triển mô hình lưu trú cộng đồng homestay.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Tuyến đã phản ánh bức tranh toàn diện về quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế gắn với khai thác tài nguyên du lịch văn hóa tại làng Nôm, tỉnh Hưng Yên. Thông qua việc khảo cứu sâu hệ thống di sản vật thể, phi vật thể và phân tích thực trạng hạ tầng, dịch vụ giai đoạn 2013–2015, công trình đã chỉ rõ tiềm năng cùng những hạn chế nội tại của hoạt động du lịch địa phương. Hệ thống giải pháp được đề xuất trong khóa luận cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn thiết thực nhằm định hướng phát triển du lịch làng Nôm theo hướng bền vững.