Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Đề tài khoa học cấp bộ mã số 2000-98-083 với tên gọi "Quản lý tài chính công ở Việt Nam" do TS. Nguyễn Ngọc Hiến làm chủ nhiệm, được thực hiện tại Học viện Hành chính Quốc gia (thuộc Bộ Nội vụ) và nghiệm thu năm 2003 tại Hà Nội. Nghiên cứu được triển khai trong bối cảnh công cuộc đổi mới kinh tế tại Việt Nam đã trải qua hơn 15 năm (khởi xướng từ cuối năm 1986). Trong tiến trình này, Chính phủ chủ trương xây dựng chính sách tài chính công lành mạnh nhằm phân bổ nguồn lực khan hiếm phục vụ các mục tiêu phát triển ổn định, công bằng và bền vững. Việc ban hành Luật Ngân sách nhà nước năm 1996 cùng chương trình cải cách thuế giai đoạn II đã bước đầu tái cơ cấu ngân sách, gia tăng nguồn thu, xóa bỏ bao cấp và ưu tiên chi cho đầu tư phát triển, y tế, giáo dục, đào tạo, xóa đói giảm nghèo và khoa học công nghệ.

Tuy nhiên, thực tiễn quản lý tài chính công giai đoạn này bộc lộ nhiều điểm nghẽn nghiêm trọng:

  • Khung khổ pháp lý, đặc biệt là Luật Ngân sách nhà nước 1996 và hệ thống các luật thuế ban hành từ cuối thập niên 1980 (được sửa đổi trong thập niên 1990), đã không còn theo kịp sự vận động của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
  • Chính sách thuế chưa bao quát toàn diện các nguồn thu; tình trạng thất thu ngân sách, nợ thuế và khê đọng thuế diễn ra ở quy mô lớn, làm suy giảm khả năng động viên nguồn lực quốc gia.
  • Công tác phân bổ và quản lý chi ngân sách nhà nước còn lãng phí, kém hiệu quả; tư tưởng bao cấp chưa được xử lý triệt để; các khoản chi bị phân tán, dàn trải cho nhiều mục tiêu.
  • Cơ cấu và mối quan hệ tài chính giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương chưa hợp lý, đòi hỏi phải tái định hình cơ chế phân cấp nguồn lực.

Trước đòi hỏi cấp thiết từ thực tiễn và chương trình xây dựng pháp luật của Quốc hội về việc sửa đổi Luật Ngân sách nhà nước cũng như các đạo luật thuế, đề tài xác định hệ thống mục tiêu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu như sau:

  • Mục tiêu nghiên cứu:

    1. Hệ thống hóa các vấn đề lý luận cơ bản về tài chính công, bao gồm bản chất, đặc điểm, vai trò và các chức năng của tài chính công trong nền kinh tế thị trường.
    2. Khảo sát, phân tích thực trạng quản lý tài chính công tại Việt Nam qua các thời kỳ, tập trung vào giai đoạn đổi mới (1991–2001/2002), chỉ rõ những thành tựu và hạn chế tồn tại.
    3. Đề xuất hệ thống quan điểm, mục tiêu, nguyên tắc và các nhóm giải pháp mang tính khả thi nhằm tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý tài chính công ở Việt Nam trong giai đoạn tiếp theo.
  • Đối tượng nghiên cứu: Tài chính công dưới giác độ quản lý kinh tế vĩ mô của Nhà nước.

  • Phạm vi nghiên cứu: Giới hạn trong khuôn khổ đề tài nghiên cứu cấp bộ, tập trung vào mặt lý luận và thực tiễn của các nội dung cốt lõi của tài chính công gồm hoạt động đánh thuế và chi tiêu ngân sách nhà nước trong điều kiện chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng tổng quan học thuyết kinh tế học công cộng thế giới và các công trình nghiên cứu quản lý tài chính trong nước:

  • Hệ thống lý thuyết kinh tế học thế giới:

    • Trường phái cổ điển và tân cổ điển: Tác giả dẫn chiếu nguyên lý "bàn tay vô hình" của Adam Smith trong tác phẩm Của cải của các dân tộc (1776), cùng quan điểm của William Petty, Pierre Le Pesant de Boisguilbert, François Quesnay, Anne-Robert-Jacques Turgot, John Stuart Mill và Nassau Senior. Trường phái này chủ trương tự do hóa thị trường, phản đối sự can thiệp của nhà nước vào kinh tế, duy trì quan điểm "ngân sách tốt nhất là ngân sách cân bằng" và xác định cung là đường thẳng đứng tương ứng với sản lượng tiềm năng.
    • Học thuyết Keynes: Phân tích quan điểm của John Maynard Keynes ra đời sau cuộc đại khủng hoảng kinh tế 1929–1933, bác bỏ lý thuyết tự điều chỉnh của thị trường. Đề tài khai thác các phạm trù: hàm tiêu dùng, hiệu quả đầu tư cận biên, sở thích thanh khoản, khuynh hướng tiêu dùng, khuynh hướng tiết kiệm và mô hình số nhân chi tiêu. Tác giả chỉ ra rằng khi thị trường thất bại (do độc quyền, hàng hóa công cộng, tác động ngoại lai, thông tin bất cân xứng), Nhà nước phải can thiệp bằng chính sách tài khóa để tạo cú hích tổng cầu. Đồng thời, đề tài cũng chỉ trích hạn chế của trường phái Keynes khi áp dụng máy móc vào các nước đang phát triển (thúc ép tăng gánh nặng thuế và vay nợ nước ngoài quá mức mà không tính đến hiệu quả sử dụng vốn và năng lực hành chính).
    • Lý thuyết của Richard Musgrave: Dẫn chiếu tác phẩm Tài chính công - Lý thuyết và chính sách, phân tích 3 chức năng trụ cột của tài chính công: phân bổ nguồn lực (hướng tới hiệu quả Pareto và tối đa hóa phúc lợi xã hội), phân phối thu nhập (sử dụng thuế và trợ cấp để điều chỉnh bất bình đẳng theo đường cong Lorenz), và ổn định kinh tế (giữ vững việc làm, giá cả, cán cân thanh toán).
    • Lý thuyết kinh tế học hiện đại: Mô hình kinh tế hỗn hợp phối hợp giữa "bàn tay vô hình" của thị trường và "bàn tay hữu hình" của Nhà nước; chỉ ra các nguyên nhân dẫn đến thất bại của Chính phủ (thông tin hạn chế, khả năng kiểm soát khu vực tư nhân hạn chế, bộ máy quan liêu, sự chậm trễ trong quá trình hiệp thương chính trị).
    • Các tài liệu học thuật quốc tế: Khảo cứu định nghĩa và luận điểm từ Christopher Pass, Bryan Lowes và Leslie Davies (Từ điển kinh tế); Harvey S. Rosen (Public Finance); Joseph E. Stiglitz (Kinh tế học công cộng); Robert Haveman và John Bascom.
  • Nguồn tài liệu và nghiên cứu trong nước:

    • Các công trình chuyên khảo của PGS.TS. Nguyễn Ngọc Hùng (Lý thuyết tài chính - tiền tệ, 1998); giáo trình Quản lý tài chính nhà nước của Trường Đại học Tài chính - Kế toán Hà Nội (2000); bài giảng của PGS.TS. Đỗ Văn Thành (Bộ Tài chính); đề tài nghiên cứu cấp bộ mã số 96-98-0411 do PGS. Lê Thế Tường làm chủ nhiệm (Học viện Hành chính Quốc gia, bảo vệ năm 1999).
  • Phương pháp nghiên cứu: Đề tài kết hợp đồng bộ 5 phương pháp nghiên cứu khoa học:

    1. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Khái quát hóa, phân loại và hệ thống hóa các trường phái lý luận về kinh tế học công cộng và quản lý công.
    2. Phương pháp thu thập số liệu: Thu thập văn bản quy phạm pháp luật, báo cáo tài chính - ngân sách qua các thời kỳ.
    3. Phương pháp phân tích - tổng hợp: Luận giải các mối quan hệ nhân quả giữa cơ chế chính sách tài khóa và thực trạng vận hành nền kinh tế.
    4. Phương pháp thống kê: Xử lý và lượng hóa các chuỗi dữ liệu về thu ngân sách, chi tiêu công và nợ chính phủ giai đoạn 1991–2001.
    5. Phương pháp chuyên gia: Tham khảo ý kiến đóng góp của các nhà quản lý, nhà nghiên cứu kinh tế - tài chính thực tiễn.

Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Lý luận chung về tài chính công và quản lý tài chính công

Chương I tập trung làm rõ bản chất lý luận của tài chính công và quản lý tài chính công, bao gồm các nội dung cốt lõi:

  • Khái niệm tài chính công: Tác giả chỉ rõ hai hướng tiếp cận: (1) Với tư cách là một môn khoa học/bộ phận của kinh tế học, tài chính công nghiên cứu hoạt động đánh thuế, chi tiêu của chính phủ và tác động của chúng đến phân bổ nguồn lực, phân phối thu nhập; (2) Với tư cách là một bộ phận của tài chính, tài chính công là các hoạt động thu - chi bằng tiền phản ánh mối quan hệ kinh tế dưới hình thức giá trị nhằm thực hiện các chức năng vốn có của Nhà nước.
  • Phân định tài chính công và tài chính nhà nước: Đề tài xác lập ranh giới phân biệt giữa hai khái niệm thông qua 3 tiêu chí:
Tiêu chí phân biệt Tài chính công Tài chính nhà nước
Phạm vi nguồn thu Gắn liền với các nguồn thu của ngân sách nhà nước qua thuế, phí, lệ phí và tín dụng nhà nước. Bao gồm toàn bộ thu ngân sách nhà nước cộng với các quỹ ngoài ngân sách (quỹ bảo hiểm xã hội, quỹ hưu trí, quỹ hỗ trợ đầu tư...).
Mục đích sinh lời Không gắn với các hoạt động mang tính kinh doanh thu lợi nhuận. Bao gồm cả hoạt động kinh doanh tìm kiếm lợi nhuận của khu vực doanh nghiệp nhà nước.
Chức năng chi tiêu Chi tiêu phục vụ việc thực hiện các chức năng công vốn có của Nhà nước đối với xã hội. Phục vụ chức năng nhà nước và phục vụ cung ứng hàng hóa, dịch vụ thông thường tại doanh nghiệp nhà nước.
  • Đặc điểm của tài chính công: Gắn liền với quyền lực chính trị mang tính cưỡng chế và không bồi hoàn trực tiếp; thuộc sở hữu nhà nước (Quốc hội là cơ quan cao nhất quyết định dự toán, phân bổ và phê chuẩn quyết toán); cơ cấu gồm ngân sách nhà nước các cấp, tài chính cơ quan hành chính và tài chính đơn vị sự nghiệp.
  • Bốn chức năng của tài chính công: Phân bổ nguồn lực; phân phối thu nhập; ổn định kinh tế; và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế dài hạn.
  • Quản lý tài chính công: Bản chất là việc Nhà nước vừa đóng vai trò chủ sở hữu, chủ thể quản lý, vừa sử dụng tài chính công làm công cụ điều tiết vĩ mô. Đề tài đúc kết 4 đặc điểm quản lý (quản lý bằng pháp luật và kế hoạch; coi trọng biện pháp tổ chức - hành chính; kết hợp yếu tố con người và yếu tố tài chính; bảo đảm thống nhất giữa mặt giá trị và hiện vật) và 4 quan điểm chỉ đạo (phục vụ chính trị; thúc đẩy phát triển kinh tế và ổn định xã hội; phát huy nội lực; tiết kiệm có hiệu quả).
  • Công cụ và bộ máy quản lý: Hệ thống công cụ gồm pháp luật, kế hoạch hóa, chính sách kinh tế vĩ mô, thanh tra - kiểm toán và bộ máy tổ chức. Về bộ máy, phân biệt theo nghĩa rộng (tất cả cơ quan sử dụng kinh phí nhà nước) và nghĩa hẹp/trực tiếp (Bộ Tài chính, Tổng cục Thuế, Tổng cục Đầu tư phát triển, Kho bạc Nhà nước, Sở Tài chính...). Xác định rõ thẩm quyền quản lý ngân sách của Quốc hội, Chính phủ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ngân hàng Nhà nước, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp.

Chương II: Thực trạng quản lý tài chính công ở nước ta thời gian qua

Nội dung Chương II được kết cấu thành 6 tiểu mục phản ánh diễn trình thực tiễn:

  • Quản lý tài chính công trước thời kỳ đổi mới: Phân tích cơ chế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu bao cấp, kinh tế hiện vật; thu ngân sách hạn hẹp trong khi Nhà nước bao cấp toàn bộ xã hội, triệt tiêu động lực tài chính cá nhân và doanh nghiệp.
  • Khái quát về quản lý tài chính công trong thời kỳ đổi mới: Quá trình từng bước tiền tệ hóa các quan hệ kinh tế từ cuối năm 1986, chuyển dịch sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tái lập kỷ cương tài khóa.
  • Thực trạng quản lý thu ngân sách nhà nước thời kỳ 1991–2001: Đánh giá kết quả triển khai hệ thống thuế mới, tăng cường tỷ lệ huy động GDP vào ngân sách; sự chuyển dịch cơ cấu thu từ kinh tế quốc doanh, kinh tế ngoài quốc doanh, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài và thu từ dầu thô, xuất nhập khẩu.
  • Thực trạng chi ngân sách nhà nước giai đoạn 1991–2001: Tái cơ cấu chi tiêu công theo hướng cắt giảm bao cấp tiêu dùng, ưu tiên chi đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, chi sự nghiệp kinh tế - xã hội, giáo dục, y tế; kiểm soát mức bội chi ngân sách (mục tiêu quanh ngưỡng 3% GDP).
  • Đánh giá thực trạng nợ chính phủ của Việt Nam: Phân tích cơ cấu vay nợ trong nước (trái phiếu, công trái) và nợ nước ngoài (vay song phương, đa phương, ODA); nguyên tắc vay nợ để bù đắp thâm hụt chỉ phục vụ đầu tư phát triển, không dùng cho chi thường xuyên.
  • Những hạn chế của quản lý tài chính công ở Việt Nam giai đoạn 1991–2002: Chỉ ra 4 nhóm tồn tại lớn: (1) Khung pháp lý lỗi thời, Luật Ngân sách nhà nước 1996 thiếu đồng bộ; (2) Chính sách thuế chưa công bằng, quy trình thu yếu kém dẫn đến thất thu, nợ đọng lớn; (3) Chi tiêu lãng phí, thất thoát trong đầu tư xây dựng cơ bản, phân bổ vốn dàn trải; (4) Cơ chế phân cấp ngân sách trung ương - địa phương mang tính chắp vá, quy trình kiểm soát chi qua Kho bạc Nhà nước và Kiểm toán Nhà nước chưa phát huy đầy đủ hiệu lực độc lập.

Chương III: Các giải pháp tăng cường quản lý tài chính công trong thời gian tới

Chương III đề xuất phương hướng và các biện pháp hoàn thiện quản lý tài chính công chia theo 6 tiểu mục giải pháp:

  • Mục tiêu và nguyên tắc đổi mới quản lý tài chính công: Nâng cao hiệu lực bộ máy hành chính, triệtเพื่อ thực hiện tiết kiệm, chống tham nhũng, lãng phí; trao quyền tự chủ gắn với trách nhiệm giải trình cho các cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp.
  • Tăng cường quản lý nhà nước về thuế và thu thuế: Hoàn thiện hệ thống luật thuế (sửa đổi thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế tiêu thụ đặc biệt); mở rộng diện điều tiết thuế để bao quát các nguồn thu mới; hiện đại hóa quản lý thu thuế, giảm thủ tục phiền hà, xử lý nghiêm nợ đọng thuế và chống gian lận thương mại.
  • Đổi mới và hoàn thiện chính sách chi tiêu của Chính phủ:
    • Cắt giảm chi thường xuyên, ưu tiên vốn cho kết cấu hạ tầng then chốt, khoa học công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực.
    • Chuyển mạnh từ phương thức "quản lý đầu vào" (kiểm soát cứng nhắc định mức biên chế và phương tiện) sang "quản lý sản phẩm đầu ra" dựa trên kết quả công việc.
    • Thực hiện khoán chi hành chính; thí điểm cơ chế Nhà nước đặt hàng, mua sản phẩm dịch vụ công thay vì cấp phát bình quân.
    • Đẩy mạnh xã hội hóa các lĩnh vực dịch vụ công như giáo dục, y tế, vệ sinh môi trường để thu hút nguồn lực xã hội.
  • Đổi mới cơ chế phân cấp quản lý ngân sách nhà nước và hoàn thiện hệ thống ngân sách nhà nước: Bảo đảm vai trò chủ đạo của ngân sách trung ương trong việc xử lý các cân đối vĩ mô; đồng thời tăng quyền chủ động, trách nhiệm tài phán cho Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp; sửa đổi quy định phân chia nguồn thu và nhiệm vụ chi giữa các cấp chính quyền.
  • Hoàn thiện quy trình quản lý ngân sách nhà nước: Đổi mới khâu lập dự toán (sửa đổi thẩm quyền của Quốc hội theo hướng thông qua tổng mức và cơ cấu chi theo lĩnh vực); chuẩn hóa quy trình cấp phát, kiểm soát chi qua Kho bạc Nhà nước; mở rộng hoạt động kiểm toán ngân sách theo hướng bắt buộc và xây dựng cơ chế bảo đảm tính độc lập tương đối của cơ quan Kiểm toán Nhà nước.
  • Tăng cường khuyến khích đầu tư: Tạo môi trường tài chính thuận lợi để huy động vốn tiết kiệm trong dân chúng, phát triển thị trường vốn, thị trường trái phiếu, kết hợp xúc tiến đầu tư trực tiếp nước ngoài gắn với bảo toàn tài sản quốc gia.

Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu mang lại những kết quả và đóng góp cụ thể về cả phương diện học thuật lẫn thực tiễn quản lý:

  • Đóng góp về mặt lý luận:

    • Hệ thống hóa toàn diện các luận điểm kinh tế học công cộng từ trường phái cổ điển, Keynes, Musgrave đến kinh tế học hiện đại; xác lập cơ sở khoa học để vận dụng hài hòa giữa nguyên lý thị trường và sự can thiệp của Nhà nước trong bối cảnh nền kinh tế chuyển đổi tại Việt Nam.
    • Đưa ra định nghĩa chuẩn xác về tài chính công và xác lập tiêu chí phân định rõ ràng giữa "tài chính công" và "tài chính nhà nước" – giải quyết sự lúng túng, nhập nhằng trong cách hiểu thuật ngữ tại Việt Nam thời điểm đó.
    • Xác lập 4 nguyên tắc và 4 quan điểm quản lý tài chính công mang tính hệ thống, gắn kết giữa nhiệm vụ chính trị, phát triển kinh tế vĩ mô và yêu cầu kỷ luật tài khóa.
  • Đóng góp về mặt thực tiễn và giải pháp chính sách:

    • Đánh giá toàn diện bức tranh quản lý thu, chi và nợ chính phủ giai đoạn 1991–2001/2002; chỉ ra căn nguyên của sự thất thu thuế và tình trạng chi tiêu kém hiệu quả trong đầu tư công.
    • Luận cứ khoa học phục vụ trực tiếp cho quá trình sửa đổi Luật Ngân sách nhà nước (sau đó được Quốc hội thông qua bản sửa đổi năm 2002) và điều chỉnh các luật thuế quan trọng giai đoạn 2003–2005.
    • Đề xuất mô hình đổi mới cơ chế quản lý tài chính công khu vực hành chính sự nghiệp: chuyển đổi từ kiểm soát đầu vào sang quản lý đầu ra, áp dụng khoán chi hành chính, thí điểm cơ chế Nhà nước đặt hàng dịch vụ công và bảo đảm địa vị pháp lý độc lập của cơ quan Kiểm toán Nhà nước.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của đề tài:

    • Theo phạm vi được xác định trong văn bản, đề tài cấp bộ tập trung chủ yếu vào giác độ quản lý kinh tế vĩ mô đối với hai hoạt động cốt lõi là đánh thuế và chi tiêu ngân sách nhà nước; chưa đi sâu khảo sát chi tiết toàn bộ cơ chế vận hành của các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách và hoạt động tài chính doanh nghiệp nhà nước.
    • Dữ liệu thực tiễn và các mốc đánh giá chính sách trong công trình kết thúc ở giai đoạn 2001–2002, gắn liền với khung pháp lý của Luật Ngân sách nhà nước 1996.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:

    • Tiếp tục theo dõi, đánh giá tác động thực tế của Luật Ngân sách nhà nước sửa đổi và các sắc thuế mới sau khi được Quốc hội ban hành và có hiệu lực thi hành.
    • Đi sâu nghiên cứu hoàn thiện phương thức kiểm soát chi tiêu công theo kết quả đầu ra đối với từng ngành dịch vụ công cụ thể (y tế, giáo dục đại học, viện nghiên cứu khoa học).

Giá trị tham khảo

Báo cáo nghiên cứu đề tài mã số 2000-98-083 là tài liệu học thuật có giá trị tham khảo cao đối với:

  • Giảng viên, học viên cao học và sinh viên các chuyên ngành Quản lý công, Hành chính công, Quản lý tài chính công, Tài chính - Ngân hàng và Kinh tế học: Phần tổng quan lý thuyết tại Chương I cung cấp khung kiến thức chuẩn mực về các trường phái kinh tế học công cộng và bản chất của các công cụ chính sách tài khóa.
  • Các nhà nghiên cứu và cán bộ hoạch định chính sách tại các cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Kiểm toán Nhà nước, các cơ quan của Quốc hội): Nội dung phân cấp ngân sách, cải cách quy trình kiểm toán và giải pháp chuyển đổi cơ chế quản lý hành chính sự nghiệp tại Chương III cung cấp nhiều luận cứ thể chế giá trị.

Câu hỏi thường gặp

1. Đề tài phân biệt khái niệm "tài chính công" và "tài chính nhà nước" dựa trên những điểm khác biệt căn bản nào? Theo đề tài, tài chính công là bộ phận hạt nhân của tài chính nhà nước nhưng khác biệt ở 3 đặc trưng: (1) Nguồn thu tài chính công chỉ gắn với ngân sách nhà nước thông qua thuế, phí, lệ phí và tín dụng nhà nước (tài chính nhà nước gồm cả các quỹ ngoài ngân sách); (2) Tài chính công không nhằm mục đích kinh doanh tìm kiếm lợi nhuận (tài chính nhà nước bao gồm cả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước); (3) Tài chính công phục vụ việc thực thi các chức năng công vốn có của Nhà nước (tài chính nhà nước chi trả cả hoạt động cung ứng hàng hóa, dịch vụ thông thường tại doanh nghiệp nhà nước).

2. Đề tài tiếp thu và mở rộng hệ thống chức năng của tài chính công từ học thuyết của Richard Musgrave như thế nào? Đề tài tiếp thu 3 chức năng kinh điển do Richard Musgrave đề xuất gồm: chức năng phân bổ nguồn lực (hướng tới hiệu quả Pareto), chức năng phân phối thu nhập (sử dụng thuế và trợ cấp nhằm giảm bất bình đẳng theo đường cong Lorenz) và chức năng ổn định kinh tế (ổn định việc làm, giá cả và cán cân thanh toán). Đồng thời, đề tài xác định thêm chức năng thứ tư phù hợp với các nước đang phát triển là chức năng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế dài hạn.

3. Tác giả chỉ ra những nguyên nhân chính nào dẫn đến sự thất bại của Chính phủ trong điều tiết kinh tế? Dựa trên lý thuyết kinh tế học hiện đại, đề tài chỉ ra 4 nguyên nhân chủ yếu: thông tin hạn chế; khả năng kiểm soát hạn chế đối với khu vực tư nhân; sự quan liêu của bộ máy hành chính; và những hạn chế của quá trình hiệp thương chính trị dẫn đến sự chậm trễ trong việc ban hành và thực thi chính sách.

4. Đề tài đề xuất giải pháp đột phá nào về phương thức quản lý tài chính đối với các cơ quan hành chính nhà nước? Tác giả đề xuất chuyển đổi phương thức quản lý kinh phí và biên chế từ "quản lý đầu vào" (áp đặt định mức chi tiêu, phương tiện, nhân sự) sang "quản lý sản phẩm đầu ra" dựa trên chất lượng và khối lượng công việc hoàn thành; áp dụng cơ chế khoán kinh phí quản lý hành chính; và thử nghiệm phương thức Nhà nước mua sản phẩm, dịch vụ công theo hợp đồng thay vì cấp phát ngân sách bình quân.

5. Đề tài đưa ra nguyên tắc gì trong việc sử dụng nguồn vốn vay nợ của Chính phủ? Đề tài xác định rõ nguyên tắc kỷ luật tài khóa: nguồn thu từ thuế và phí phải bảo đảm trang trải toàn bộ chi thường xuyên và dành một phần cho tích lũy; toàn bộ các nguồn vốn vay nợ (cả trong nước và ngoài nước) tuyệt đối không được sử dụng cho chi tiêu dùng/chi thường xuyên mà bắt buộc phải dành riêng cho mục tiêu chi đầu tư phát triển.

Kết luận

Đề tài khoa học cấp bộ "Quản lý tài chính công ở Việt Nam" (mã số 2000-98-083) do TS. Nguyễn Ngọc Hiến chủ nhiệm đã hệ thống hóa sâu sắc nền tảng lý luận kinh tế học công cộng và xác lập ranh giới khoa học của các phạm trù tài chính công trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Bằng việc phân tích đa chiều bức tranh thực trạng thu, chi ngân sách và nợ chính phủ giai đoạn 1991–2001, công trình đã chỉ rõ những khiếm khuyết mang tính thể chế của giai đoạn đầu đổi mới. Hệ thống giải pháp được đề xuất—đặc biệt là cải cách phân cấp ngân sách, chuyển dịch sang quản lý theo kết quả đầu ra và nâng cao tính độc lập của kiểm toán công—đã đóng góp luận cứ khoa học quan trọng cho việc hoàn thiện chính sách tài khóa của Việt Nam đầu thế kỷ XXI.