CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1.1 Giải phẫu và sinh lý 1.1 Giải phẫu tuyến yên Tuyến yên là cơ quan quan trọng của hệ nội tiết, nằm ở trong một hố lõm ở mặt trên xương bướm, gọi là hố yên. Ở người trưởng thành, tuyến yên nặng khoảng 1 gram, đường kính 10 millimét (mm), cao không quá 8 mm. Tuyến yên ở nữ to hơn ở nam. Ở trong hố yên, xung quanh tuyến yên là màng cứng bao bọc, xoang tĩnh mạch hang, động mạch cảnh trong, các dây thần kinh… Tuyến yên là một thùy của gian não và nối với vùng dưới đồi bởi cuống tuyến yên.
Tuyến yên được cấu tạo bởi 2 phần khác biệt về mặt giải phẫu và chức năng: thùy yên trước và thùy yên sau.1 Liên quan của tuyến yên trong xoang hang. “Nguồn: Pressman BD, 2017”11 - Thùy yên trước (adenohypophysis) gồm 3 phần: + Phần xa (pars distalis): chiếm phần lớn thể tích của thùy yên trước, và là nơi mà các hormone của thùy yên trước được tiết ra, được chia thành khối chất nhầy ở trung tâm và hai cánh ở hai bên. 4 + Phần phễu (pars tuberalis): bao quanh cuống tuyến yên, chức năng của nó hiện nay vẫn chưa được biết rõ. + Phần trung gian (pars intermedia): nằm ở giữa phần xa và thùy yên sau, nó thường rất nhỏ ở người.
- Thùy yên sau (neurohypophysis) nhỏ hơn thùy yên trước, bắt nguồn từ mầm thần kinh giống như phần chồi ra từ sàn não thất III. Nó được cấu tạo bởi các sợi trục không myelin và tận cùng thần kinh giống như các tế bào thần kinh đệm. - Cuống tuyến yên: nằm ngay sau giao thoa thị giác. Cuống tuyến yên nối thùy sau tuyến yên với vùng dưới đồi.
Cuống được hình thành từ các sợi trục của thân các tế bào thần kinh ở 2 nhóm trên thị và cạnh não thất III. Cuống chạy chếch xuống dưới, ra trước và tận cùng ở thùy sau tuyến yên. - Các mạch máu cấp máu cho tuyến yên: Tuyến yên có nguồn cung cấp máu dồi dào từ nhiều nguồn động mạch và tĩnh mạch. Các cặp động mạch yên trên và dưới, là nhánh của các động mạch cảnh trong, đi vào lồi giữa tuyến yên và hình thành đám rối bên ngoài hàng rào máu não, tạo ra một mạng lưới các mao mạch và Gomitoli (còn được gọi là đám rối trong).
Gomitoli là những động mạch dài từ 1 đến 2 mm được bao quanh bởi một lớp cơ và mao mạch dày. Đám rối trong dẫn máu tới các tĩnh mạch dài góp phần hình thành hệ thống cửa. Hệ thống cửa gồm tĩnh mạch cửa dài và tĩnh mạch cửa ngắn, tạo thành vòng tuần hoàn dưới đồi – cửa, là nguồn cấp máu chủ yếu cho thùy yên trước. Các tĩnh mạch cửa dài bắt nguồn từ phần gần nhất của cuống tuyến yên và kết thúc ở các mao mạch có lỗ thủng ở phần xa.
Các tĩnh mạch cửa dài cung cấp khoảng 70–90% máu cho thùy trước tuyến yên và mang các hormone giải phóng và ức chế vùng dưới đồi điều chỉnh sự bài tiết và nhân lên của các tế bào sản xuất hormone. Các tĩnh mạch cửa ngắn xuất phát ở phần dưới của cuống. 5 và ở thùy sau tuyến yên, chúng cung cấp cho thùy trước tuyến yên khoảng 10 – 30% máu còn lại. Thùy sau tuyến yên (Thùy thần kinh) nhận nguồn cấp máu từ các nhánh động mạch tuyến yên dưới và một số nhánh từ lồi giữa tuyến yên.
Chúng cũng cung cấp máu động mạch cho bao tuyến yên và các tế bào trên bề mặt của thùy trước bằng các mao mạch tuyến yên có lỗ thủng, nằm bên ngoài hàng rào máu não. Dòng máu chảy ngược về phía lồi giữa tuyến yên cũng xảy ra, tạo điều kiện thuận lợi cho chức năng hai chiều tương tác vùng dưới đồi - tuyến yên. Sự gián đoạn của phễu tuyến yên có thể làm ảnh hưởng tới lưu lượng máu qua cửa tuyến yên, làm mất đường vào hormone vùng dưới đồi của các tế bào thùy trước tuyến yên. Các tĩnh mạch tuyến yên dẫn máu từ tuyến yên về xoang hang.2 Sơ đồ cấp máu vùng dưới đồi và tuyến yên.2 Sinh lý tuyến yên Thùy yên trước • Theo hóa mô miễn dịch hormone thùy yên trước xác định năm loại tế bào chính, tiết các hormone khác nhau, bao gồm: - Tế bào sản xuất Growth Hormone (GH): Hormone kích thích phát triển cơ thể.
- Tế bào sản xuất Adrenocorticotropin Hormone (ACTH): Hormone kích thích tuyến vỏ thượng thận. - Tế bào sản xuất Thyroid Stimulating Hormone (TSH): Hormone kích thích tuyến giáp. - Tế bào sinh dục sản xuất cả Follicle Stimulating Hormone (FSH): Hormone kích thích nang buồng trứng và Luteinizing Hormone (LH): Hormone kích thích hoàng thể. - Tế bào sản xuất hormone Prolactin (PRL): Hormone kích thích bài tiết sữa.14 • Theo phương pháp nhuộm tiêu bản bằng Hematoxylin và Eosin (H&E), 3 loại tế bào được phân biệt: - Tế bào kỵ màu: nằm rải rác khắp nhu mô tuyến thùy trước.
- Tế bào ưa acid phân bố nhiều nhất ở hai phần cánh, bao gồm: + Somatotrophs: chế tiết GH. + Lactotrophs (hay mamotrophs): chế tiết prolactin. - Tế bào ưa bazơ tập trung ở phần chất nhầy trung tâm, bao gồm: + Corticotrophs: chế tiết ACTH và Lipotropin. + Thyrotrophs: chế tiết TSH hoặc Thyrotropin.
+ Gonadotrophs: chế tiết FSH và LH.3 Mô học tuyến yên. “Nguồn: Fauci AS, 2015”15 Thùy yên sau Thùy yên sau là các sợi trục thần kinh từ dưới đồi đi xuống. Thùy yên sau tiết ra 2 hormone chính là Oxytocin và Vasopressin(ADH) ở tận cùng thần kinh. - Oxytocin: có tác dụng gây co bóp tử cung, rất cần thiết khi sinh con.
- ADH: có tác dụng làm tăng tái hấp thu ở ống lượn xa và cô đặc nước tiểu. Điều hòa tiết ADH là do cơ chế feedback âm tính.2 Hội chứng tăng prolactin máu 1.1 Prolactin Prolactin là một hormone có vai trò quan trọng đối với chức năng sinh sản, tạo sữa và chuyển hóa của cơ thể, do tế bào lactotrophs sản xuất. Một số tình trạng sinh lý như phụ nữ đang có thai, cho con bú hoặc các trường hợp bệnh lý có thể gây tăng số lượng các tế bào lactotrophs. Prolactin trong huyết thanh ở các dạng không đồng nhất.
Có 3 dạng prolactin thường gặp, loại nhỏ có trọng lượng phân tử 23 kiloDalton (KD), loại lớn có trọng. 8 lượng phân tử 45 KD và loại siêu lớn (macroprolactin) có trọng lượng phân tử trên 100 KD. Loại prolactin nhỏ chiếm tỷ lệ nhiều nhất (80 - 85%) và mang hoạt tính sinh học cao hơn các loại khác.2 Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh của tăng prolactin máu 1.1 Các tình trạng sinh lý làm tăng prolactin máu Estrogen nội sinh Estrogen được cho là gây tăng bài tiết prolactin thông qua các cơ chế khác nhau bao gồm điều hòa biểu hiện gen prolactin, điều hòa giảm biểu hiện thụ thể dopamine và kích thích tăng sản tế bào lactotrophs. Theo đó, nồng độ prolactin bị ảnh hưởng bởi chu kỳ kinh nguyệt, sự mãn kinh và mang thai và bất kỳ trạng thái estrogen cao nào (tương tự như mang thai) đều có thể là nguyên nhân gây tăng prolactin máu.
Phụ nữ tiền mãn kinh có giá trị prolactin máu cao hơn đáng kể so với phụ nữ mãn kinh và nam giới. Hoạt động cho con bú Hoạt động cho con bú là một kích thích sinh lý mạnh mẽ giúp tăng tiết prolactin, có thể bằng cách giải phóng các tế bào lactotrophs khỏi sự ức chế cường tính của dopamine. TRH, vasopressin, oxytocin và salsolinol cũng được đề xuất là những yếu tố liên quan đến việc giải phóng prolactin do trẻ bú. Stress Stress có thể gây tăng prolactin máu với giá trị thường lên tới 100nanogram/mililitter (ng/ml) tuy nhiên cơ chế gây ra tình trạng này vẫn chưa được làm rõ hoàn toàn.
Người ta cho rằng những thay đổi do stress gây ra trong dopamine và serotonin có thể ảnh hưởng đến việc giải phóng prolactin, góp phần gây tăng prolactin máu. Tập thể dục. 9 Các hoạt động thể dục gây tăng prolactin, mức độ tăng tỷ lệ thuận với cường độ và thời gian hoạt động tuy nhiên cơ chế cũng chưa được làm rõ hoàn toàn. Giá trị prolactin cao nhất được cho là xảy ra ngay sau khi hoạt động, do đó, nên tránh hoạt động thể dục mạnh ít nhất 30 phút trước khi lấy mẫu máu để đo prolactin.
Các sang chấn thành ngực Các tình trạng gây kích thích thành ngực như bỏng, herpes zoster hoặc chấn thương đều có liên quan đến tăng prolactin máu. Điều này được giải thích thông qua một cơ chế thần kinh can thiệp vào dẫn truyền dopamine, tương tự như cơ chế xảy ra khi cho con bú. Mặc dù việc kích thích núm vú có thể làm tăng prolactin, tuy nhiên các kích thích như khám vú, siêu âm vú hoặc chụp nhũ ảnh gần như không gây tăng prolactin máu.2 Các thuốc làm tăng prolactin Một số loại thuốc (phổ biến nhất là thuốc chống loạn thần và thuốc chống trầm cảm) có thể làm thay đổi cân bằng nội môi prolactin dẫn đến tăng prolactin máu thông qua các cơ chế khác nhau. Các cơ chế chính liên quan đến việc giảm dẫn truyền dopamine và tăng dẫn truyền serotonin, sau đó dẫn tới tăng các yếu tố giải phóng prolactin, như oxytocin và Peptide ruột vận mạch (Vasoactive Intestinal Peptide - VIP).
- Thuốc chống loạn thần. - Thuốc chống trầm cảm. - Thuốc chống nôn. - Thuốc hạ huyết áp.3 Bệnh lý tuyến yên U tuyến yên tiết prolactin.
10 Nguyên nhân phổ biến nhất của tuyến yên gây tăng prolactin máu là sự hiện diện của khối UTYTTP. Đây là loại UTY thường gặp nhất và thường gặp ở nữ giới với tỷ lệ mắc cao nhất ở phụ nữ từ 20 - 30 tuổi.17 Cần phân biệt rõ một số khái niệm về UTY. Khối UTY là những khối u phát triển từ mô tuyến yên hay từ các di tích trong thời kỳ phôi thai (túi Rathke). Các u phát triển từ các tế bào tuyến gọi tên chung là adenoma - là loại hay gặp nhất của UTY, thường lành tính và phát triển chậm.
Về chức năng phân loại thành: u không tiết hormone (chiếm khoảng 20% adenoma) được gọi là các u không chức năng; u có tiết hormone được gọi là các u chức năng. UTYTTP được gọi là prolactinoma.16 UTY được phân loại theo kích thước, với UTYKTN có kích thước <10 mm và u tuyến yên kích thước lớn (UTYKTL) có kích thước ≥10 mm (những khối u khổng lồ có kích thước >40 mm). UTYTTP cũng được phân loại theo kích thước như vậy, thành u tuyến yên kích thước nhỏ tăng tiết prolactin ( microprolactinoma) và u tuyến yên kích thước lớn tăng tiết prolactin (UTYKTLTTP - macroprolactinoma). Nhìn chung, mức độ tăng prolactin máu có tương quan với kích thước UTY, đối với UTYKTNTTP, giá trị nồng độ prolactin máu thường là 100 - 200 ng/ml, mức prolactin máu >250 ng/ml có giá trị gợi ý UTYKTLTTP.