MỞ ĐẦU Ung thư tuyến tiền liệt là loại bệnh lý ác tính thường gặp thứ hai ở (sau ung thư phổi) và là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ năm trong tất cả các loại ung thư ở nam giới theo GLOBOCAN 20201. Tại Mỹ, hàng năm khoảng 234.000 người được chẩn đoán ung thư tuyến tiền liệt và trên 30.000 người tử vong do bệnh lý này2. Số liệu thống kê tại Châu Âu ghi nhận trên 300.000 trường hợp ung thư tuyến tiền liệt mỗi năm và 25% trong số đó là các trường hợp bệnh mới phát hiện3. Ở Việt Nam, theo thống kê của GLOBOCAN năm 20201, mỗi năm có khoảng 6.248 ca mắc ung thư tuyến tiền liệt mới, chiếm 6.3% trong các loại ung thư được chẩn đoán.
Đánh giá mức độ ác tính là chìa khóa quan trọng trong điều trị ung thư tuyến tiền liệt. Điểm Gleason cao (≥7) cho thấy gia tăng độ ác tính cũng như nguy cơ khối u tiến triển tại chỗ và di căn xa với tiên lượng xấu (ung thư có ý nghĩa lâm sàng)4,5. Tuy nhiên, phần lớn bệnh nhân được chẩn đoán ung thư tuyến tiền liệt với mức độ ác tính thấp có điểm Gleason ≤6 (không có ý nghĩa lâm sàng), hiếm khi tiến triển đến giai đoạn muộn dẫn đến tử vong6. Do đó, phân loại chính xác độ ác tính của khối u dựa vào sự khác biệt điểm Gleason của các nhóm nguy cơ là cần thiết khi lập kế hoạch điều trị cho bệnh nhân.
Các báo cáo gần đây cho thấy nhóm điểm Gleason 7(3+4) và Gleason 7(4+3) có tiên lượng rất khác nhau7-9, một số bệnh nhân điểm Gleason 7(3+4) với một thể tích nhỏ thành phần độ Gleason 4 có thể được phân loại và điều trị như nhóm ung thư không có ý nghĩa lâm sàng10-12. Kháng nguyên đặc hiệu tuyến tiền liệt (PSA) thường được sử dụng rất phổ biến trong bệnh lý ung thư tuyến tiền liệt, mặc dù vai trò của dấu ấn sinh học này trong việc tầm soát bệnh còn nhiều bàn cãi do có độ nhạy cao nhưng độ. 2 đặc hiệu thấp13. Để cải thiện khả năng chẩn đoán của PSA, một số chỉ số như mật độ PSA đã được sử dụng gần đây14.
Nồng độ PSA trước điều trị cao cho thấy liên quan với khối u có thể tích lớn, độ ác tính cao cũng như ở giai đoạn lâm sàng muộn15-17. Cộng hưởng từ mà đặc biệt là cộng hưởng từ đa thông số là kỹ thuật không xâm lấn được chứng minh có vai trò rất lớn trong bệnh lý ung thư tuyến tiền liệt. Vai trò của cộng hưởng từ ngày càng được mở rộng, không chỉ bao gồm đánh giá giai đoạn ung thư mà còn có thể phát hiện tổn thương nghi ngờ, định vị tổn thương chỉ điểm cho sinh thiết, phân tầng nguy cơ bệnh nhân giúp cho các bác sĩ niệu khoa có kế hoạch điều trị cũng như là một phương tiện dùng để theo dõi sau điều trị18,19,20. Trong các chuỗi xung của cộng hưởng từ đa thông số, cộng hưởng từ khuếch tán với thời gian thu hình ngắn và sự tương phản cao giữa mô u và mô lành, là một công cụ mạnh mẽ giúp thăm dò cấu trúc mô ở mức độ tế bào20,21.
Giá trị hệ số khuếch tán biểu kiến của cộng hưởng từ khuếch tán cung cấp thông tin định lượng các đặc điểm khối u, gián tiếp đo lường mức độ ác tính, giúp phân tầng nguy cơ trong quản lý bệnh nhân ung thư tuyến tiền liệt19,22,23,24. Hơn nữa, giá trị HSKTBK khối u có thể là một chỉ số hữu ích cho thấy sự tiến triển của khối u, có tiềm năng trong việc theo dõi các bệnh nhân thỏa tiêu chí điều trị trì hoãn24,25,26. Gần đây, một vài nghiên cứu trên thế giới đã ghi nhận có sự tương quan nghịch giữa giá trị HSKTBK với điểm mô học Gleason trong ung thư tuyến tiền liệt27-32. Mặc dù giá trị HSKTBK có thể ước lượng được mức độ ác tính của khối u, tuy nhiên, vẫn còn một sự dao động lớn giữa các giá trị HSKTBK của các khối u có cùng một điểm Gleason19.
Hơn nữa, ở Việt Nam, chưa có nghiên cứu nào có hệ thống đề cập đến giá trị của HSKTBK trong việc đánh. 3 giá nguy cơ của bệnh nhân ung thư tuyến tiền liệt gián tiếp thông qua sự tương quan của HSKTBK so với điểm mô học Gleason. Do đó, chúng tôi thực hiện đề tài “Tương quan giữa hệ số khuếch tán biểu kiến trên cộng hưởng từ khuếch tán với điểm mô học Gleason trong ung thư tuyến tiền liệt” với các mục tiêu: 1. Xác định sự tương quan giữa các chỉ số HSKTBK trên cộng hưởng từ khuếch tán so với điểm mô học Gleason trong ung thư tuyến tiền liệt.
Xác định giá trị của các chỉ số HSKTBK trong việc dự đoán độ ác tính của ung thư tuyến tiền liệt. 4 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN 1. GIẢI PHẪU TUYẾN TIỀN LIỆT 1. Vị trí, liên quan và hình thể ngoài Hình 1.
Hình thể ngoài và liên quan của tuyến tiền liệt “Nguồn: Netter F., Atlas Human Anatomy, 2019”33 Tuyến tiền liệt là một cơ quan gồm mô tuyến, cơ và sợi, nằm trên hoành chậu hông, dưới bàng quang, sau xương mu, giữa hai cơ nâng hậu môn và trước trực tràng (Hình 1. Mặt sau trên, tuyến tiền liệt nằm gần ống phóng tinh và túi tinh, ngăn cách với trực tràng bởi lớp cân Denonvilliers và một phần túi cùng Douglas34. Tuyến tiền liệt ôm quanh một phần niệu đạo sau dài khoảng 2,5 cm. Được cố định bằng dây chằng mu - tuyến tiền liệt ở phía trên và hoành niệu dục ở phía sau.
Ống phóng tinh xuyên qua tuyến tiền liệt từ mặt sau, đi chếch lên đổ. 5 vào ụ núi ở niệu đạo tiền liệt tuyến gần cơ thắt niệu đạo. Tuyến nặng khoảng 12 - 20 gram, trung bình kích thước đường kính ngang lớn nhất khoảng 4 cm, đường kính trước sau là 2,5 cm và đường kính trên dưới là 3 cm34. Các vùng giải phẫu tuyến tiền liệt Từ đầu thế kỷ 20, đã có một số mô hình giải phẫu tuyến tiền liệt được đưa ra, nhưng đến năm 1981, MC Neal đưa ra cách chia tuyến tiền liệt mới, được chấp nhận rộng rãi thay thế cho mô hình của các tác giả trước đây35.
Mô hình này chia tuyến tiền liệt làm 3 vùng: vùng chuyển tiếp, vùng ngoại vi và vùng trung tâm (Hình 1. Mỗi vùng có cấu trúc và xu hướng mắc bệnh khác nhau. Vùng chuyển tiếp chiếm khoảng 5% thể tích tuyến tiền liệt bình thường, nằm khu trú quanh đoạn gần của niệu đạo tuyến tiền liệt. Vùng này gồm hai thuỳ nhỏ nằm hai bên của niệu đạo.
Các tuyến của vùng này là nguồn gốc tạo ra quá sản tuyến tiền liệt lành tính. Khoảng 15 - 20% ung thư tuyến tiền liệt phát triển tại vùng này. Vùng trung tâm chiếm khoảng 25% thể tích tuyến tiền liệt bình thường, nằm ở phần đáy của tuyến tiền liệt, bao quanh các ống phóng tinh kéo dài từ đáy tuyến tới phần đỉnh của ụ núi. Khoảng 10% ung thư tuyến tiền liệt xuất hiện tại vùng trung tâm.
Vùng ngoại vi chiếm khoảng 70% thể tích tuyến tiền liệt bình thường, bao quanh cả vùng trung tâm và vùng chuyển tiếp tại phần đáy tuyến. Vùng ngoại vi là nơi có nhiều thành phần tuyến nhất và chúng tập trung quanh đoạn niệu đạo xa. Phần lớn (70 - 75%) ung thư biểu mô tuyến tiền liệt xuất hiện ở vùng ngoại vi và đây cũng là vùng phổ biến cho tổn thương tân sản nội biểu mô. Vùng trung tâm; b.
Vùng mô đệm - sợi cơ; c. Vùng chuyển tiếp; d. Vùng ngoại vi; e. Tuyến quanh niệu đạo Hình 1.
Mô hình giải phẫu tuyến tiền liệt “Nguồn: MC Neal 1981”35 1. Bản đồ định khu tuyến tiền liệt Bản đồ định khu tuyến tiền liệt có mục đích là xác định vị trí giải phẫu của tổn thương, điều rất quan trọng mà các bác sĩ chẩn đoán hình ảnh cần phải biết để giúp các bác sĩ niệu cũng như bác sĩ ung thư trong chẩn đoán bệnh và lên kế hoạch điều trị. Trong PI-RADS phiên bản 2.1, bản đồ định khu được sửa đổi bao gồm thêm hai khu vực ở vùng ngoại vi đáy tuyến: ngoại vi sau trong bên phải và trái (Hình 1. Với sự chỉnh sửa này, có tất cả 38 khu vực tuyến tiền liệt, cộng thêm 2 khu vực túi tinh và 1 khu vực niệu đạo màng, tổng cộng là 41 khu vực36.
Tài liệu cập nhập PI-RADS tiếp tục tuân thủ nguyên tắc phân chia tuyến tiền liệt dựa trên sự phân bố về mô học cũng như là vị trí giải phẫu nhằm mục đích mô tả tổn thương. Do đó, vùng chuyển tiếp được chia. 7 thành 12 khu vực với 4 khu vực ở mỗi tầng: đỉnh, giữa và đáy. Tại mỗi tầng, vùng chuyển tiếp được chia thành trước và sau mỗi bên tuyến theo đường giữa.
Vùng ngoại vi được chia thành 18 khu vực, trước, sau ngoài, sau trong ở đáy, giữa và đỉnh tuyến. Vùng ngoại vi chiếm tỉ lệ lớn hơn ở tầng giữa và đỉnh tuyến, với sự gia tăng thành phần phía trước khi tiến gần về phía đỉnh tuyến. Vùng đáy tuyến tiền liệt cũng bao gồm hai khu vực đối xứng ở giữa là vị trí của vùng trung tâm. Bản đồ định khu tuyến tiền liệt theo PI-RADS phiên bản 2.
Bao vỏ tuyến tiền liệt Bao vỏ tuyến tiền liệt không phải là một bao thực sự mà do mô đệm xơ-cơ của vùng ngoại vi đông đặc lại tạo thành. Những tuyến nang tận cùng của vùng trung tâm và vùng ngoại vi có thể vươn tới lớp vỏ tuyến; trong khi các tuyến nang của vùng chuyển tiếp lại nằm vùi trong chất mô đệm xơ-cơ phía trước. Đôi khi các nốt quá sản ở vùng chuyển tiếp đè ấn sang vùng ngoại vi và có thể vươn tới lớp vỏ tuyến. Ở phần trước tuyến, mô đệm của vỏ tuyến thường hoà lẫn với mô đệm xơ-cơ phía trước.
Tại vùng đỉnh tuyến, gần như không thấy lớp vỏ tuyến, nhất là ở mặt trước bên. Lớp vỏ tuyến tiền liệt là một mốc quan trọng để đánh giá khả năng lan rộng ra ngoài tuyến của mô ung thư. Phân bố thần kinh, mạch máu và bạch huyết Động mạch: tuyến tiền liệt được cấp máu bởi động mạch bàng quang dưới và động mạch trực tràng giữa (Hình 1. Tĩnh mạch: Tạo thành đám rối tĩnh mạch tiền liệt rồi đổ về tĩnh mạch chậu trong hai bên.
Đổ vào đám rối tĩnh mạch tiền liệt còn có tĩnh mạch mu dương vật. Có một số tĩnh mạch từ đám rối tĩnh mạch tiền liệt chạy tới đám rối tĩnh mạch nằm trước thân đốt sống và bên trong ống sống, sự tiếp nối này giúp giải thích lý do tại sao mà một ung thư tuyến tiền liệt lại dễ lan rộng vào chậu hông và các đốt sống.