CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Các khái niệm về rủi ro tín dụng: 1. Khái niệm rủi ro tín dụng: Theo khoản 24 Điều 2 Thông tư 41/2016/TT-NHNN ban hành ngày 30/12/2016: Rủi ro tín dụng là rủi ro do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng hoặc thỏa thuận với ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Theo bài Credit Risk của The social development bank for Europe lấy từ trang https://coebank.org/en/investor-relations/risk-management/credit-risk/: Rủi ro tín dụng được định nghĩa là tổn thất có thể xảy ra do bên vay ngân hàng hoặc bên đối tác không đáp ứng các nghĩa vụ của mình theo các điều khoản đã thỏa thuận.
Theo Sauder (2007): Rủi ro tín dụng là khoản lỗ tiềm năng khi ngân hàng cấp tín dụng cho một khách hàng, nghĩa là luồng thu nhập dự tính đem lại từ khoản vay của ngân hàng không thể thực hiện cả về số lượng lẫn thời hạn. Theo bài “Credit risk definition” của Accountingtools (2022): Rủi ro tín dụng là rủi ro mất mát do người đi vay không trả được nợ. Cụ thể hơn, nó đề cập đến rủi ro của người cho vay khi dòng tiền của họ bị gián đoạn khi người đi vay không trả gốc hoặc lãi. Rủi ro tín dụng cao hơn khi người đi vay không có đủ nguồn lực tài chính để thanh toán cho chủ nợ, hoặc không có đủ tài sản để thanh toán.
Khi rủi ro không thanh toán cao hơn, người cho vay có nhiều khả năng yêu cầu bồi thường dưới hình thức lãi suất cao hơn. Trên các tạp chí, từ điển, thông tư và một số các bài viết có rất nhiều định nghĩa về rủi ro tín dụng. Trên tinh thần rút ra các điểm chung từ các định nghĩa, nghiên cứu này dùng định nghĩa: Rủi ro tín dụng là một loại rủi ro từ hoạt động cho vay của ngân hàng hay tổ chức tài chính trong đó khách hàng vay (cá nhân hoặc 5 tổ chức) không có khả năng trả nợ một phần hoặc toàn bộ số tiền đã vay theo thỏa thuận đã ký trên hợp đồng tín dụng. Phân loại rủi ro tín dụng: Rủi ro tín dụng được phân ra 2 loại căn cứ gồm: căn cứ theo nguyên nhân phát sinh và khả năng trả nợ.
Căn cứ nguyên nhân phát sinh: Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro ta có rủi ro giao dịch, rủi ro tác nghiệp và rủi ro danh mục. *Rủi ro giao dịch: Rủi ro giao dịch là cách thức của RRTD phát sinh do những hạn chế liên quan trong vấn đề giao dịch, xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng vay, bao gồm rủi ro lựa chọn, rủi ro bảo đảm, rủi ro nghiệp vụ. Rủi ro lựa chọn: rủi ro liên quan quy trình phân tích, đánh giá tín dụng khi ngân hàng lựa chọn các phương án hiệu quả để cho vay vốn. Rủi ro bảo đảm: rủi ro phát sinh từ quá trình đảm bảo các tiêu chuẩn của hợp đồng tín dụng, chất lượng các loại tài sản đảm bảo, chủ thể đảm bảo, hình thức đảm bảo và mức cho vay trên TSĐB.
Rủi ro nghiệp vụ: rủi ro liên quan đến quy trình nghiệp vụ cho vay, cách thức quản lý và vận hành cho vay bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý những món vay gặp vấn đề. *Rủi ro tác nghiệp: rủi ro xuất phát từ cán bộ ngân hàng do quá trình xử lý quy trình nghiệp vụ bị thiếu sót, nhầm lẫn, sai phạm dẫn đến rủi ro trực tiếp hoặc gián tiếp cho hoạt động của ngân hàng. *Rủi ro danh mục: rủi ro xảy ra do giảm hay tăng trong danh mục cho vay của ngân hàng, gồm rủi ro nội tại và rủi ro tập trung. 6 Rủi ro nội tại: xuất phát từ đặc điểm riêng có, yếu tố mang tính chất bên trong của mỗi chủ thể đi vay tiền, của ngành, lĩnh vực kinh tế, hoặc trong cùng một hình thức vay, nội dung vay, mục đích vay, trong cùng một khu vực địa lý.
Rủi ro tập trung: ngân hàng tập trung nguồn vốn cho vay vào một khu vực địa lý nhất định; một số khách hàng; cùng ngành, lĩnh vực hay loại hình cho vay nhất định gây rủi ro cao hơn. Căn cứ khả năng trả nợ: Căn cứ vào khả năng trả nợ, RRTD bao gồm rủi ro không hoàn trả nợ đúng hạn, rủi ro mất khả năng chi trả, rủi ro không giới hạn ở hoạt động cho vay. * Rủi ro không hoàn trả nợ đúng hạn: rủi ro của khách hàng khi đến thời hạn trả nợ trên hợp đồng tín dụng mà không hoàn trả vốn đúng hạn cho ngân hàng. Do đó khi thiết lập mối quan hệ tín dụng, ngân hàng và khách hàng phải quy ước về thời gian hoàn trả nợ vay và các điều khoản khi đến hạn mà khách hàng vẫn không hoàn trả được nợ vay.
* Rủi ro mất khả năng chi trả: rủi ro xảy ra trong trường hợp khách hàng là cá nhân hoặc doanh nghiệp đã mất đi khả năng chi trả do nguyên nhân khách quan hay chủ quan dẫn đến ngân hàng phải thiết lập các biện pháp thu hồi nợ như bán, thanh lý tài sản đảm bảo… * Rủi ro không giới hạn ở hoạt động cho vay: gồm các hoạt động mang tính chất tín dụng như: bảo lãnh, cam kết, tài trợ thương mại, đồng tài trợ, tín dụng thuê mua, cho vay thị trường liên ngân hàng. Các hoạt động này nhằm tạo khả năng sinh lời cho ngân hàng nhưng cũng mang đến rủi ro cho ngân hàng. 7 RỦI RO TÍN DỤNG Nguyên nhân Khả năng trả nợ RR giao dịch RR tác nghiệp RR danh mục RR không trả RR mất khả RR không ở nợ đúng hạn năng chi trả hoạt động cho vay RR RR RR RR RR lựa bảo nghiệp nội tập chọn đảm vụ tại trung Hình 1.Sơ đồ phân loại rủi ro tín dụng Nguồn: https://khoalichsu. Nguyên nhân của rủi ro tín dụng: 1.
Rủi ro tín dụng do môi trường pháp lý Luật pháp có những khe hở, nếu khách hàng cố tình khai thác những điểm này sẽ ảnh hưởng đến công tác thu hồi nợ xấu của ngân hàng. Ngoài ra có những sự thay đổi bất thường của hệ thống pháp lý thuộc ngành Tài chính – Ngân hàng hoặc có bổ sung các chính sách mới sẽ làm người dân chưa ứng phó được kịp thời. Rủi ro tín dụng do môi trường kinh tế Nền kinh tế phát triển ổn định sẽ giảm thiểu rủi ro tín dụng và ngược lại khi nền kinh tế có nhiều biến động sẽ ảnh hưởng nhiều đến tình tình hoạt động cho vay tạo ra rủi ro tín dụng cao. Vấn đề rủi ro của chu kỳ kinh tế nếu không được giải quyết một cách thuận lợi sẽ phát sinh tình trạng khủng hoảng kinh tế hoặc suy thoái kinh tế.
Các ngân hàng vì thế sẽ bị thua lỗ, thậm chí dẫn đến phá sản. 8 Đối với rủi ro xuất phát từ quá trình tự do hóa tài chính và hội nhập quốc tế: nền kinh tế nước ta đang trong quá trình hội nhập nên việc thực thi các hiệp định thương mại tự do và các cam kết hội nhập đã đặt thách thức cho các doanh nghiệp trong nước từ sự cạnh tranh gay gắt của các đối thủ nước ngoài (Lê Bộ Lĩnh, 2019). Ngân hàng đối mặt với tình trạng nợ xấu ảnh hưởng lớn đến tình hình tài chính, chất lượng nợ vay khiến ngân hàng lâm vào cảnh thua lỗ. Bên cạnh đó, các ngân hàng nước ngoài ngày càng mở rộng tại Việt Nam, càng tăng tính cạnh tranh với ngân hàng trong nước, nếu ngân hàng trong nước không đủ sức trụ vững sẽ bị đào thải.
Rủi ro tín dụng do ngân hàng Rủi ro tín dụng xuất phát từ sai sót trong quy trình cấp tín dụng ảnh hưởng đến chất lượng nợ vay và những thiệt hại khác đến ngân hàng. Khi chính sách tín dụng được ban hành không rõ ràng, chi tiết sẽ bị hiểu lầm, dẫn đến cho vay sai với những tiêu chuẩn quy định, tạo cơ hội cho người vay có thể luồn lách luật để có lợi cho bản thân làm cho ngân hàng phải chịu thiệt hại. Rủi ro tín dụng do cách thức quản trị điều hành hoạt động cho vay, quá trình thẩm định hồ sơ vay vốn, công tác thu hồi và xử lý nợ vay: cán bộ tín dụng khi tuyển dụng không đúng chuyên môn sẽ làm cho hoạt động trì trệ, những người có chuyên môn, trình độ khi thực hiện quy trình nghiệp vụ mà sai sót cũng dẫn đến thiệt hại cho ngân hàng, cán bộ không đủ năng lực quản lý, điều hành hoạt động tín dụng sẽ làm cho việc cấp tín dụng bị thiếu sót, gây ra nhiều rủi ro cho ngân hàng. Khi giải ngân xong, cán bộ quản lý lẫn cán bộ nghiệp vụ cần quan tâm đến việc kiểm tra, giám sát sử dụng vốn vay một cách thường xuyên để nắm rõ tình hình từng khách hàng để hạn chế rủi ro tiềm ẩn và có cách ứng phó kịp thời những tình huống xấu có thể xảy ra.
Rủi ro tín dụng do khách hàng vay: Nguyên nhân khách quan: người vay gặp sự cố bất khả kháng từ môi trường tự nhiên (thiên tai, dịch bệnh, hỏa hoạn…) và xã hội (các cuộc khủng hoảng kinh tế, 9 lạm phát tăng cao, suy thoái kinh tế…) dẫn đến không khả năng trả nợ tạo thành các khoản nợ quá hạn cho ngân hàng (Bùi Quang Hải, 2023). Nguyên nhân chủ quan: Người vay cố tình không trả nợ vay ngân hàng hoặc chần chừ không muốn trả nợ; người vay sử dụng vốn sai mục đích dẫn đến không thể trả nợ vay; sự gian dối trong khâu làm thủ tục hồ sơ vay vốn, kê khống trong các báo cáo tài chính để vay tiền nhưng không có phản ánh khả năng trả nợ thực tế. Nhiều khách hàng có thể vay cùng lúc nhiều ngân hàng mà khó kiểm soát được khi khách hàng cố tình thực hiện hành vi này. Với khách hàng cá nhân: người vay sử dụng vốn vào mô hình rủi ro cao; mâu thuẫn gia đình nên không quản lý được tài chính cá nhân đối với vay tiêu dùng hay mua tiêu sản; vì lý do sức khỏe không tốt, công việc không ổn định nên dẫn đến mất khả năng trả nợ vay.
Với khách hàng doanh nghiệp: do không nghiên cứu kỹ thị trường, không nắm bắt tốt các thông tin nên đầu tư vào lĩnh vực mạo hiểm hay mở rộng quy mô sản xuất dẫn đến bị thâm hụt tài chính, nhiều trường hợp có thể phá sản nên không trả nợ theo hợp đồng đã ký kết. Các chỉ tiêu đánh giá về rủi ro tín dụng: 1.