CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Đại cương về bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính 1. Định nghĩa Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (BPTNMT) là bệnh thường gặp, có thể dự phòng và điều trị được, đặc trưng bởi tắc nghẽn đường thở, tiến triển nặng dần, liên quan tới phản ứng viêm bất thường của phổi bởi các phần tử và khí độc hại 1. Dịch tễ học Theo tổ chức y tế thế giới (WHO) ước tính có khoảng 384 triệu người mắc BPTNMT trên thế giới vào năm 2010 với tỷ lệ mắc bệnh là 11,7%, trong đó cao nhất ở Châu Mỹ với tỷ lệ mắc bệnh là 15,2% 6.
Từ năm 1990 đến năm 2015, tỷ lệ hiện mắc BPTNMT tăng 44,2% và có khoảng 3,2 triệu người tử vong vì BPTNMT trên toàn thế giới vào năm 2015 7. Gánh nặng BPTNMT ở các nước Châu Á lớn hơn ở các nước phương Tây 8. Năm 2019, khu vực Tây Thái Bình Dương được báo cáo có số ca mắc BPTNMT từ 30 đến 79 tuổi lớn nhất trên toàn cầu với 137 triệu ca, trong khi khu vực Châu Âu có số ca mắc BPTNMT là 56,1 triệu ca 8. Tỷ lệ mắc BPTNMT ở một số nước như Hồng Kông là 3,5% 5; ở Ấn Độ là 7,4% 9, ở Nhật Bản là 8,6% 10.
Tỷ lệ tử vong do BPTNMT dao động từ 4% ở New Zealand đến 40% ở Sri Lanka và Thái Lan 11. Năm 2018, Trung Quốc báo cáo tỷ lệ mắc BPTNMT dao động từ 1,2% đến 8,8% ở các tỉnh/thành phố khác nhau với chi phí y tế trực tiếp cho BPTNMT dao động từ 72 đến 3.565 USD bình quân đầu người mỗi năm, chiếm 33,33% đến 118,09% thu nhập bình quân hàng năm của địa phương 12. Trong 12 quốc gia và vùng lãnh thổ châu Á Thái Bình Dương, tỷ lệ mắc BPTNMT mức độ trung bình đến nặng chiếm khoảng 6,3% dân số trên 30 tuổi, trong đó thấp nhất ở Hồng Kông và Singapore là 3,5% và cao nhất là ở Việt Nam chiếm 6,7% 5. Việt Nam cũng nằm trong số 10 nước có số ca mắc 4 BPTNMT nhiều nhất trên toàn cầu cùng với Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Mỹ, Bangladesh, Nhật Bản, Pakistan, Nga và Đức 8.
Ở Việt Nam, năm 2014, Hoàng Thị Lâm và cộng sự (Cs) khảo sát trên 1500 đối tượng từ 23 đến 72 tuổi cho thấy tỷ lệ mắc BPTNMT ở người trưởng thành ở miền Bắc Việt Nam là 7,1% và ở nam cao hơn đáng kể so với nữ 13. Năm 2015, Nguyễn Viết Nhung và Cs nghiên cứu trên 1506 người trên 40 tuổi không hút thuốc nhận thấy tỷ lệ mắc BPTNMT là 8,1% cao hơn ở Indonesia là 6,3% 14. Cơ chế bệnh sinh bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính Cơ chế bệnh sinh của BPTNMT rất phức tạp, trong đó yếu tố viêm đóng vai trò trung tâm 15. Tăng đáp ứng viêm của đường thở Trong BPTNMT, ngoài phản ứng viêm bảo vệ bình thường tại phổi, xuất hiện phản ứng viêm tăng cường và bất thường tại phổi đáp ứng với khí và các phần tử độc hại, đồng thời gây phá hủy phổi 16.
Các nghiên cứu về sinh thiết phế quản, sinh thiết phổi và xét nghiệm đờm cho thấy tình trạng viêm tại phổi ở những người hút thuốc. Khói thuốc lá gây chết tế bào miễn dịch biểu mô đường dẫn khí dẫn đến giải phóng mô hình phân tử DAMP kích hoạt thụ thể PRR trên các tế bào biểu mô liền kề. Các tế bào biểu mô được kích hoạt và giải phóng các cytokine tiền viêm thu hút và hoạt hóa các tế bào của hệ thống miễn dịch tự nhiên gồm bạch cầu trung tính (BCTT), đại thực bào và tế bào đuôi gai, cũng như tế bào từ hệ thống miễn dịch thu được gồm lympho bào T và B (hình 1.1: Khói thuốc lá kích hoạt hệ thống miễn dịch tự nhiên và thu được trong BPTNMT 17 Các tế bào viêm giải phóng ra rất nhiều chất trung gian hoạt mạch có khả năng phá huỷ cấu trúc của phổi và/ hoặc duy trì tình trạng viêm tăng BCTT. Tế bào lympho T: Trong niêm mạc phế quản ở bệnh nhân BPTNMT, tế bào lympho T chiếm ưu thế, chủ yếu là tế bào CD8 + và đại thực bào.
Đồng thời có sự tương quan giữa số lượng tế bào T với số lượng phế nang bị hủy hoại và mức độ tắc nghẽn đường thở. Tế bào T trong đường hô hấp ngoại vi ở bệnh nhân BPTNMT có biểu hiện tăng CXC chemokine receptor 3 (CXCR3), đây là thụ thể được kích hoạt bởi protein cảm ứng interferon 10 có vai trò điều chỉnh bạch cầu di chuyển và gắn kết với các chemokine khác tạo ra các đáp ứng tế bào khác nhau, mà biểu hiện của protein cảm ứng interferon 10 lại được tăng lên trong các tế bào biểu mô phế quản 18. Khi BPTNMT tiến triển có thêm sự gia tăng của các tế bào T CD4, biểu hiện sự kích thích miễn dịch mạn tính. Các nghiên cứu còn cho thấy khi bệnh tiến triển có sự gia tăng các tế bào lympho B và mô bạch huyết quanh phế quản ở đường hô hấp nhỏ 15.
Vai trò của các tế bào T trong sinh bệnh học của BPTNMT chưa được hiểu đầy đủ. Tế bào T CD8 có khả năng giải phóng yếu tố hoại tử khối u (TNF α), perforin và granzyme, đồng thời kích hoạt quá trình chết tế bào. Bạch cầu trung tính: Sự gia tăng số lượng BCTT hoạt hóa được nhận thấy 6 trong đờm ở bệnh nhân BPTNMT 19. Các BCTT có tiềm năng tiết ra các enzyme protein huyết thanh, bao gồm elastase bạch cầu trung tính (tiêu nhu mô), cathepsin G và proteinase 3, cũng như matrix metalloproteinase 8 (MMP-8) và MMP-9 (thuộc họ các enzyme có 1 nhân kim loại kẽm tham gia xúc tác cho phản ứng thủy phân liên kết peptide nội phân tử giúp phân ly các chất nền ngoại bào (extracellular matrix, ECM) qua đó làm yếu đi các liên kết giữa tế bào - tế bào; tế bào – ECM).
Những enzyme protein này góp phần vào sự phá hủy phế nang và cũng là yếu tố kích thích mạnh tiết dịch nhầy. BCTT trong vi tuần hoàn phổi được kích hoạt để giải phóng các chất oxy hóa và các protease. BCTT sau khi bị cô lập, sẽ dính vào các tế bào nội mô bởi sự tăng cường các phân tử bám dính E-selectin ở các tế bào biểu mô đường hô hấp của bệnh nhân BPTNMT 20. Sau đó, các BCTT có thể di chuyển đến đường hô hấp dưới bởi sự kiểm soát của các chất trung gian hóa học, như leukotriene B4, interleukin 8 (IL-8) và các chemokine CXC liên quan, bao gồm oncogene-α liên quan đến tăng trưởng và dẫn xuất 78 kích hoạt bạch cầu trung tính của tế bào biểu mô (ENA – 78).
Đại thực bào: Số lượng đại thực bào trong đường hô hấp, nhu mô phổi và dịch rửa phế quản ở bệnh nhân BPTNMT tăng gấp 5 đến 10 lần. Số lượng đại thực bào trong đường hô hấp tương quan với mức độ nặng của bệnh 21. Khói thuốc lá kích hoạt đại thực bào, giải phóng các chất trung gian gây viêm, bao gồm TNF α, IL-8 và các chemokine CXC khác, monocyte chemotactic peptide-1, leukotriene B4 và các loại phản ứng oxy. Đại thực bào cũng tiết ra protease, bao gồm MMP-2, MMP-9 và MMP-12; cathepsins K, L và S; và elastase bạch cầu trung tính, được lấy từ bạch cầu trung tính.
So với những người hút thuốc chưa bị bệnh, các đại thực bào ở bệnh nhân BPTNMT được kích hoạt nhiều hơn, tiết ra nhiều protein viêm hơn, và có hoạt động giải phóng nhanh hơn, hiện tượng này tiếp tục được tăng cường khi tiếp xúc với khói thuốc lá 22,23. Tăng số lượng đại thực bào tại phổi ở bệnh nhân BPTNMT và ở người hút thuốc có thể do tăng huy động bạch cầu đơn nhân từ tuần hoàn để đáp ứng với sự tăng lên của các chemokines như monocyte chemotactic peptide-1 trong đờm và dịch phế quản ở bệnh nhân BPTNMT 23. Các 7 chemokine CXC cũng hoạt động như chất hóa ứng động đối với các tế bào đơn nhân. Tế bào đuôi gai (tế bào trình diện kháng nguyên cho tế bào lympho T trong phản ứng miễn dịch): Số lượng tế bào đuôi gai tăng lên trong đường dẫn khí và thành phế nang của người hút thuốc 24.
Vai trò của các tế bào đuôi gai trong BPTNMT chưa được xác định, nhưng chúng có thể có một chức năng quan trọng trong các đáp ứng miễn dịch tự nhiên và miễn dịch thu được trong BPTNMT. Tế bào biểu mô đường hô hấp: Các tế bào biểu mô đường hô hấp có thể được kích hoạt bởi khói thuốc lá để tạo ra các chất trung gian gây viêm, bao gồm TNFα, IL-1β, GM-CSF, và IL-8. Biểu mô trong các đường hô hấp nhỏ có thể là một nguồn quan trọng của yếu tố tăng trưởng chuyển hóa β (TGF-β), kích thích xơ hóa cục bộ 25. Các tế bào biểu mô cũng có thể tiết ra các chất chống oxy hóa, các chất chống proteinase và chất vận chuyển globulin miễn dịch-α, vì vậy chúng có thể tham gia vào quá trình miễn dịch thu được.
Khói thuốc lá làm giảm các phản ứng miễn dịch tự nhiên và thu được của biểu mô đường hô hấp và tăng khả năng nhiễm trùng. Nhiều chất trung gian gây viêm biểu hiện trong BPTNMT được kiểm soát bởi yếu tố nhân NF –κB, một yếu tố sao mã thiết yếu kiểm soát quá trình biểu hiện gene mã hóa của các cytokine, chemokine. Yếu tố này tăng lên trong các đại thực bào phế nang ở bệnh nhân BPTNMT và trong các tế bào đường hô hấp ở bệnh nhân BPTNMT mức độ nhẹ/ trung bình so với người không hút thuốc 26. Việc điều chỉnh NF-κB trong tế bào phổi có thể là một cơ chế phân tử quan trọng liên quan đến quá trình viêm liên tục của đường hô hấp.
Phản ứng viêm tăng mạnh hơn khi mức độ BPTNMT càng nặng. So với mức độ bệnh nhẹ/ trung bình, ở mức độ nặng có sự gia tăng hơn nữa trong biểu hiện của các protein viêm như protein viêm đại thực bào 1α, các chemokine kích hoạt các tế bào đơn nhân và bạch cầu hạt; kèm theo gia tăng về số lượng BCTT, đại thực bào và giảm lympho bào T CD3 +. Mất cân bằng Proteinase - kháng Proteinase Có 2 nhóm enzym tiêu protein đóng vai trò quyết định trong việc phá hủy cấu trúc protein của tổ chức gian bào đó là elastase và metallproteinase. Các elastase phá hủy các sợi đàn hồi, các thành phần khác như fibronectin, proteoglycan, các sợi collgen typ III, IV.
Bạch cầu đa nhân trung tính và đại thực bào phế nang sản xuất các enzym này. Các chất ức chế proteinase đóng vai trò bảo vệ đường hô hấp đó là 1- antitrypsine, β2- macroglobuline, β1 anticollagenase.