Luận án về quy trình điều trị bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính bằng tế bào gốc tự thân

Tài liệu nghiên cứu Luận án xây dựng quy trình điều trị bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính bằng tế bào gốc tự thân từ mô mỡ, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên

Trường đại học

Trường Đại Học Y Hà Nội

Chuyên ngành

Nội Hô Hấp

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2023

262
4
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Đại cương về bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính

1.2. Dịch tễ học

1.3. Cơ chế bệnh sinh bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính

1.4. Triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính

1.5. Điều trị bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính

1.6. Đại cương về tế bào gốc trung mô trong bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính

1.7. Tế bào gốc

1.8. Tế bào gốc trung mô

1.9. Cơ chế tác động của tế bào gốc trung mô trong bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính

1.10. Tế bào gốc từ mô mỡ

1.11. Đặc tính của tế bào gốc từ mô mỡ

1.12. Phân lập tế bào gốc từ mô mỡ

1.13. Ứng dụng của điều trị tế bào gốc trong bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính

1.14. Cơ sở điều trị tế bào gốc trong bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính trên mô hình thực nghiệm

1.15. Nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng sử dụng tế bào gốc trong điều trị BPTNMT

1.16. Tình hình nghiên cứu điều trị tế bào gốc từ mô mỡ trong bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu. Tiêu chuẩn lựa chọn

2.2. Tiêu chuẩn loại trừ

2.3. Phương pháp nghiên cứu. Thiết kế nghiên cứu

2.4. Cách chọn mẫu

2.5. Phương pháp thu thập số liệu

2.6. Các bước tiến hành

2.7. Xây dựng dự thảo quy trình điều trị bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính bằng tế bào gốc tự thân từ mô mỡ. Tiến hành trên đối tượng nghiên cứu

2.8. Hoàn thiện quy trình điều trị bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính bằng tế bào gốc tự thân tự thân từ mô mỡ và thông qua Hội đồng khoa học

2.9. Các biến số chính đánh giá kết quả của nghiên cứu

2.10. Đặc điểm chung. Quy trình chuẩn bị khối tế bào gốc tự thân từ mô mỡ điều trị bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính

2.11. Kết quả điều trị bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính bằng tế bào gốc tự thân tự thân từ mô mỡ

2.12. Các tiêu chuẩn áp dụng trong nghiên cứu

2.13. Phương pháp thống kê. Vấn đề đạo đức. Bảo vệ dữ liệu của bệnh nhân

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

3.2. Đặc điểm chung về dịch tễ và lâm sàng

3.3. Đặc điểm về mức độ khó thở, chất lượng cuộc sống, chỉ số BODE

3.4. Đặc điểm về chức năng thông khí

3.5. Đặc điểm về khí máu động mạch

3.6. Kết quả hoàn thiện quy trình chuẩn bị khối tế bào gốc tự thân từ mô mỡ trong điều trị bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính

3.7. Quy trình chuẩn bị khối tế bào gốc tự thân từ mô mỡ trong điều trị bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính

3.8. Kết quả quy trình thu gom mỡ

3.9. Kết quả đánh giá khối tế bào gốc tự thân từ mô mỡ ở bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính ngay sau tách chiết

3.10. Kết quả đánh giá khối tế bào gốc tự thân từ mô mỡ ở bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính sau bảo quản

3.11. Kết quả truyền tế bào gốc tự thân từ mô mỡ

3.12. Kết quả điều trị bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính bằng tế bào gốc tự thân từ mô mỡ

3.13. Sự thay đổi lâm sàng ở bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính trước và sau điều trị tế bào gốc tự thân từ mô mỡ

3.14. Sự thay đổi cận lâm sàng ở bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính trước và sau điều trị tế bào gốc tự thân từ mô mỡ

3.15. So sánh sự thay đổi về lâm sàng, cận lâm sàng giữa nhóm điều trị tế bào gốc tự thân từ mô mỡ và nhóm chứng

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

4.2. Hoàn thiện quy trình chuẩn bị khối tế bào gốc tự thân từ mô mỡ trong điều trị bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính

4.3. Quy trình thu gom mỡ và phân lập tế bào gốc từ mô mỡ

4.4. Đánh giá khối tế bào gốc tự thân từ mô mỡ ở bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính ngay sau tách chiết

4.5. Đánh giá khối tế bào gốc tự thân từ mô mỡ ở bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính ngay sau bảo quản và rã đông

4.6. Kết quả truyền tế bào gốc tự thân từ mô mỡ

4.7. Quy trình chuẩn bị khối tế bào gốc tự thân từ mô mỡ trong điều trị bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính

4.8. Kết quả bước đầu ứng dụng điều trị bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính bằng tế bào gốc tự thân từ mô mỡ

4.9. Sự thay đổi lâm sàng ở bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính trước và sau điều trị tế bào gốc tự thân từ mô mỡ

4.10. Sự thay đổi cận lâm sàng ở bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính trước và sau điều trị tế bào gốc tự thân từ mô mỡ

4.11. So sánh sự thay đổi về lâm sàng và cận lâm sàng giữa nhóm điều trị bằng tế bào gốc tự thân từ mô mỡ và nhóm chứng

TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

PHỤ LỤC

P.1. DANH MỤC BẢNG

P.2. DANH MỤC HÌNH ẢNH

Tóm tắt

I. Tổng quan về bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính

Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (BPTNMT) là một trong những bệnh lý phổ biến, có thể phòng ngừa và điều trị. BPTNMT được đặc trưng bởi tình trạng tắc nghẽn đường thở, dẫn đến khó thở và giảm chất lượng cuộc sống. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), BPTNMT là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ ba trên toàn cầu. Tình trạng này thường liên quan đến các yếu tố nguy cơ như hút thuốc lá, ô nhiễm không khí và các bệnh lý hô hấp khác. Việc hiểu rõ về dịch tễ học và cơ chế bệnh sinh của BPTNMT là rất quan trọng để phát triển các phương pháp điều trị hiệu quả. Nghiên cứu cho thấy rằng, việc can thiệp sớm và áp dụng các phương pháp điều trị hiện đại có thể làm giảm tỷ lệ tử vong và cải thiện chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân.

1.1 Dịch tễ học

Dịch tễ học của BPTNMT cho thấy rằng bệnh này có tần suất cao ở các nước có thu nhập thấp và trung bình. Tại Việt Nam, tần suất mắc BPTNMT trung bình và nặng chiếm khoảng 6,7% dân số. Các nghiên cứu dịch tễ học đã chỉ ra rằng, BPTNMT không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe cá nhân mà còn tạo gánh nặng lớn cho hệ thống y tế và kinh tế xã hội. Việc nắm bắt thông tin về dịch tễ học giúp các nhà hoạch định chính sách có thể đưa ra các biện pháp can thiệp kịp thời và hiệu quả.

1.2 Cơ chế bệnh sinh

Cơ chế bệnh sinh của BPTNMT liên quan đến phản ứng viêm mãn tính trong phổi. Các yếu tố như khói thuốc lá và ô nhiễm không khí kích thích hệ thống miễn dịch, dẫn đến sự gia tăng các cytokine viêm. Điều này không chỉ gây tổn thương mô phổi mà còn làm giảm khả năng phục hồi của phổi. Tế bào gốc trung mô (MSC) có khả năng điều hòa phản ứng viêm và phục hồi chức năng phổi, mở ra hướng đi mới trong điều trị BPTNMT.

II. Tế bào gốc và ứng dụng trong điều trị BPTNMT

Tế bào gốc là một trong những lĩnh vực nghiên cứu tiềm năng trong y học hiện đại. Tế bào gốc trung mô từ mô mỡ (ADSC) đã được chứng minh có khả năng kháng viêm và tái tạo mô. Việc sử dụng tế bào gốc từ mô mỡ trong điều trị BPTNMT không chỉ giúp cải thiện triệu chứng mà còn có thể làm chậm tiến trình bệnh. Nghiên cứu cho thấy rằng, tế bào gốc từ mô mỡ có thể cải thiện chức năng phổi và giảm tần suất các đợt cấp của bệnh. Điều này mở ra hy vọng cho bệnh nhân BPTNMT, đặc biệt là những người không đáp ứng tốt với các phương pháp điều trị truyền thống.

2.1 Đặc tính của tế bào gốc từ mô mỡ

Tế bào gốc từ mô mỡ có nhiều đặc tính ưu việt như khả năng tự tái tạo và biệt hóa thành nhiều loại tế bào khác nhau. Chúng có thể được thu hoạch dễ dàng và an toàn từ cơ thể bệnh nhân, giảm thiểu nguy cơ thải ghép. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, tế bào gốc từ mô mỡ có khả năng tiết ra các yếu tố tăng trưởng và cytokine, giúp điều hòa phản ứng viêm và thúc đẩy quá trình phục hồi mô phổi.

2.2 Quy trình điều trị bằng tế bào gốc

Quy trình điều trị bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính bằng tế bào gốc từ mô mỡ bao gồm các bước thu hoạch mô mỡ, phân lập tế bào gốc và truyền tế bào gốc cho bệnh nhân. Các nghiên cứu lâm sàng đã cho thấy quy trình này an toàn và hiệu quả, giúp cải thiện đáng kể triệu chứng và chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân. Việc hoàn thiện quy trình này là cần thiết để đảm bảo tính khả thi và hiệu quả trong điều trị BPTNMT.

III. Kết quả nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn

Kết quả nghiên cứu cho thấy việc điều trị BPTNMT bằng tế bào gốc tự thân từ mô mỡ mang lại nhiều lợi ích cho bệnh nhân. Các chỉ số lâm sàng như mức độ khó thở, chức năng hô hấp và chất lượng cuộc sống đều có sự cải thiện rõ rệt sau điều trị. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, việc sử dụng tế bào gốc từ mô mỡ không chỉ giúp giảm triệu chứng mà còn làm giảm tần suất các đợt cấp của bệnh. Điều này cho thấy tiềm năng lớn của liệu pháp tế bào gốc trong điều trị BPTNMT, mở ra hướng đi mới cho các phương pháp điều trị hiện đại.

3.1 Đánh giá hiệu quả điều trị

Đánh giá hiệu quả điều trị bằng tế bào gốc từ mô mỡ cho thấy sự cải thiện đáng kể về chức năng hô hấp và giảm triệu chứng khó thở. Các bệnh nhân sau điều trị cho biết họ cảm thấy dễ thở hơn và có thể tham gia vào các hoạt động hàng ngày một cách dễ dàng hơn. Điều này không chỉ nâng cao chất lượng cuộc sống mà còn giúp giảm gánh nặng cho hệ thống y tế.

3.2 Ứng dụng trong thực tiễn

Việc ứng dụng tế bào gốc từ mô mỡ trong điều trị BPTNMT đang được triển khai tại nhiều cơ sở y tế. Các bác sĩ và nhà nghiên cứu đang tiếp tục theo dõi và đánh giá hiệu quả của phương pháp này trong thời gian dài. Sự thành công của liệu pháp này có thể mở ra cơ hội cho nhiều bệnh nhân mắc BPTNMT, giúp họ có một cuộc sống tốt hơn.

07/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Đại cương về bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính 1. Định nghĩa Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (BPTNMT) là bệnh thường gặp, có thể dự phòng và điều trị được, đặc trưng bởi tắc nghẽn đường thở, tiến triển nặng dần, liên quan tới phản ứng viêm bất thường của phổi bởi các phần tử và khí độc hại 1. Dịch tễ học Theo tổ chức y tế thế giới (WHO) ước tính có khoảng 384 triệu người mắc BPTNMT trên thế giới vào năm 2010 với tỷ lệ mắc bệnh là 11,7%, trong đó cao nhất ở Châu Mỹ với tỷ lệ mắc bệnh là 15,2% 6.

Từ năm 1990 đến năm 2015, tỷ lệ hiện mắc BPTNMT tăng 44,2% và có khoảng 3,2 triệu người tử vong vì BPTNMT trên toàn thế giới vào năm 2015 7. Gánh nặng BPTNMT ở các nước Châu Á lớn hơn ở các nước phương Tây 8. Năm 2019, khu vực Tây Thái Bình Dương được báo cáo có số ca mắc BPTNMT từ 30 đến 79 tuổi lớn nhất trên toàn cầu với 137 triệu ca, trong khi khu vực Châu Âu có số ca mắc BPTNMT là 56,1 triệu ca 8. Tỷ lệ mắc BPTNMT ở một số nước như Hồng Kông là 3,5% 5; ở Ấn Độ là 7,4% 9, ở Nhật Bản là 8,6% 10.

Tỷ lệ tử vong do BPTNMT dao động từ 4% ở New Zealand đến 40% ở Sri Lanka và Thái Lan 11. Năm 2018, Trung Quốc báo cáo tỷ lệ mắc BPTNMT dao động từ 1,2% đến 8,8% ở các tỉnh/thành phố khác nhau với chi phí y tế trực tiếp cho BPTNMT dao động từ 72 đến 3.565 USD bình quân đầu người mỗi năm, chiếm 33,33% đến 118,09% thu nhập bình quân hàng năm của địa phương 12. Trong 12 quốc gia và vùng lãnh thổ châu Á Thái Bình Dương, tỷ lệ mắc BPTNMT mức độ trung bình đến nặng chiếm khoảng 6,3% dân số trên 30 tuổi, trong đó thấp nhất ở Hồng Kông và Singapore là 3,5% và cao nhất là ở Việt Nam chiếm 6,7% 5. Việt Nam cũng nằm trong số 10 nước có số ca mắc 4 BPTNMT nhiều nhất trên toàn cầu cùng với Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Mỹ, Bangladesh, Nhật Bản, Pakistan, Nga và Đức 8.

Ở Việt Nam, năm 2014, Hoàng Thị Lâm và cộng sự (Cs) khảo sát trên 1500 đối tượng từ 23 đến 72 tuổi cho thấy tỷ lệ mắc BPTNMT ở người trưởng thành ở miền Bắc Việt Nam là 7,1% và ở nam cao hơn đáng kể so với nữ 13. Năm 2015, Nguyễn Viết Nhung và Cs nghiên cứu trên 1506 người trên 40 tuổi không hút thuốc nhận thấy tỷ lệ mắc BPTNMT là 8,1% cao hơn ở Indonesia là 6,3% 14. Cơ chế bệnh sinh bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính Cơ chế bệnh sinh của BPTNMT rất phức tạp, trong đó yếu tố viêm đóng vai trò trung tâm 15. Tăng đáp ứng viêm của đường thở Trong BPTNMT, ngoài phản ứng viêm bảo vệ bình thường tại phổi, xuất hiện phản ứng viêm tăng cường và bất thường tại phổi đáp ứng với khí và các phần tử độc hại, đồng thời gây phá hủy phổi 16.

Các nghiên cứu về sinh thiết phế quản, sinh thiết phổi và xét nghiệm đờm cho thấy tình trạng viêm tại phổi ở những người hút thuốc. Khói thuốc lá gây chết tế bào miễn dịch biểu mô đường dẫn khí dẫn đến giải phóng mô hình phân tử DAMP kích hoạt thụ thể PRR trên các tế bào biểu mô liền kề. Các tế bào biểu mô được kích hoạt và giải phóng các cytokine tiền viêm thu hút và hoạt hóa các tế bào của hệ thống miễn dịch tự nhiên gồm bạch cầu trung tính (BCTT), đại thực bào và tế bào đuôi gai, cũng như tế bào từ hệ thống miễn dịch thu được gồm lympho bào T và B (hình 1.1: Khói thuốc lá kích hoạt hệ thống miễn dịch tự nhiên và thu được trong BPTNMT 17 Các tế bào viêm giải phóng ra rất nhiều chất trung gian hoạt mạch có khả năng phá huỷ cấu trúc của phổi và/ hoặc duy trì tình trạng viêm tăng BCTT. Tế bào lympho T: Trong niêm mạc phế quản ở bệnh nhân BPTNMT, tế bào lympho T chiếm ưu thế, chủ yếu là tế bào CD8 + và đại thực bào.

Đồng thời có sự tương quan giữa số lượng tế bào T với số lượng phế nang bị hủy hoại và mức độ tắc nghẽn đường thở. Tế bào T trong đường hô hấp ngoại vi ở bệnh nhân BPTNMT có biểu hiện tăng CXC chemokine receptor 3 (CXCR3), đây là thụ thể được kích hoạt bởi protein cảm ứng interferon 10 có vai trò điều chỉnh bạch cầu di chuyển và gắn kết với các chemokine khác tạo ra các đáp ứng tế bào khác nhau, mà biểu hiện của protein cảm ứng interferon 10 lại được tăng lên trong các tế bào biểu mô phế quản 18. Khi BPTNMT tiến triển có thêm sự gia tăng của các tế bào T CD4, biểu hiện sự kích thích miễn dịch mạn tính. Các nghiên cứu còn cho thấy khi bệnh tiến triển có sự gia tăng các tế bào lympho B và mô bạch huyết quanh phế quản ở đường hô hấp nhỏ 15.

Vai trò của các tế bào T trong sinh bệnh học của BPTNMT chưa được hiểu đầy đủ. Tế bào T CD8 có khả năng giải phóng yếu tố hoại tử khối u (TNF α), perforin và granzyme, đồng thời kích hoạt quá trình chết tế bào. Bạch cầu trung tính: Sự gia tăng số lượng BCTT hoạt hóa được nhận thấy 6 trong đờm ở bệnh nhân BPTNMT 19. Các BCTT có tiềm năng tiết ra các enzyme protein huyết thanh, bao gồm elastase bạch cầu trung tính (tiêu nhu mô), cathepsin G và proteinase 3, cũng như matrix metalloproteinase 8 (MMP-8) và MMP-9 (thuộc họ các enzyme có 1 nhân kim loại kẽm tham gia xúc tác cho phản ứng thủy phân liên kết peptide nội phân tử giúp phân ly các chất nền ngoại bào (extracellular matrix, ECM) qua đó làm yếu đi các liên kết giữa tế bào - tế bào; tế bào – ECM).

Những enzyme protein này góp phần vào sự phá hủy phế nang và cũng là yếu tố kích thích mạnh tiết dịch nhầy. BCTT trong vi tuần hoàn phổi được kích hoạt để giải phóng các chất oxy hóa và các protease. BCTT sau khi bị cô lập, sẽ dính vào các tế bào nội mô bởi sự tăng cường các phân tử bám dính E-selectin ở các tế bào biểu mô đường hô hấp của bệnh nhân BPTNMT 20. Sau đó, các BCTT có thể di chuyển đến đường hô hấp dưới bởi sự kiểm soát của các chất trung gian hóa học, như leukotriene B4, interleukin 8 (IL-8) và các chemokine CXC liên quan, bao gồm oncogene-α liên quan đến tăng trưởng và dẫn xuất 78 kích hoạt bạch cầu trung tính của tế bào biểu mô (ENA – 78).

Đại thực bào: Số lượng đại thực bào trong đường hô hấp, nhu mô phổi và dịch rửa phế quản ở bệnh nhân BPTNMT tăng gấp 5 đến 10 lần. Số lượng đại thực bào trong đường hô hấp tương quan với mức độ nặng của bệnh 21. Khói thuốc lá kích hoạt đại thực bào, giải phóng các chất trung gian gây viêm, bao gồm TNF α, IL-8 và các chemokine CXC khác, monocyte chemotactic peptide-1, leukotriene B4 và các loại phản ứng oxy. Đại thực bào cũng tiết ra protease, bao gồm MMP-2, MMP-9 và MMP-12; cathepsins K, L và S; và elastase bạch cầu trung tính, được lấy từ bạch cầu trung tính.

So với những người hút thuốc chưa bị bệnh, các đại thực bào ở bệnh nhân BPTNMT được kích hoạt nhiều hơn, tiết ra nhiều protein viêm hơn, và có hoạt động giải phóng nhanh hơn, hiện tượng này tiếp tục được tăng cường khi tiếp xúc với khói thuốc lá 22,23. Tăng số lượng đại thực bào tại phổi ở bệnh nhân BPTNMT và ở người hút thuốc có thể do tăng huy động bạch cầu đơn nhân từ tuần hoàn để đáp ứng với sự tăng lên của các chemokines như monocyte chemotactic peptide-1 trong đờm và dịch phế quản ở bệnh nhân BPTNMT 23. Các 7 chemokine CXC cũng hoạt động như chất hóa ứng động đối với các tế bào đơn nhân. Tế bào đuôi gai (tế bào trình diện kháng nguyên cho tế bào lympho T trong phản ứng miễn dịch): Số lượng tế bào đuôi gai tăng lên trong đường dẫn khí và thành phế nang của người hút thuốc 24.

Vai trò của các tế bào đuôi gai trong BPTNMT chưa được xác định, nhưng chúng có thể có một chức năng quan trọng trong các đáp ứng miễn dịch tự nhiên và miễn dịch thu được trong BPTNMT. Tế bào biểu mô đường hô hấp: Các tế bào biểu mô đường hô hấp có thể được kích hoạt bởi khói thuốc lá để tạo ra các chất trung gian gây viêm, bao gồm TNFα, IL-1β, GM-CSF, và IL-8. Biểu mô trong các đường hô hấp nhỏ có thể là một nguồn quan trọng của yếu tố tăng trưởng chuyển hóa β (TGF-β), kích thích xơ hóa cục bộ 25. Các tế bào biểu mô cũng có thể tiết ra các chất chống oxy hóa, các chất chống proteinase và chất vận chuyển globulin miễn dịch-α, vì vậy chúng có thể tham gia vào quá trình miễn dịch thu được.

Khói thuốc lá làm giảm các phản ứng miễn dịch tự nhiên và thu được của biểu mô đường hô hấp và tăng khả năng nhiễm trùng. Nhiều chất trung gian gây viêm biểu hiện trong BPTNMT được kiểm soát bởi yếu tố nhân NF –κB, một yếu tố sao mã thiết yếu kiểm soát quá trình biểu hiện gene mã hóa của các cytokine, chemokine. Yếu tố này tăng lên trong các đại thực bào phế nang ở bệnh nhân BPTNMT và trong các tế bào đường hô hấp ở bệnh nhân BPTNMT mức độ nhẹ/ trung bình so với người không hút thuốc 26. Việc điều chỉnh NF-κB trong tế bào phổi có thể là một cơ chế phân tử quan trọng liên quan đến quá trình viêm liên tục của đường hô hấp.

Phản ứng viêm tăng mạnh hơn khi mức độ BPTNMT càng nặng. So với mức độ bệnh nhẹ/ trung bình, ở mức độ nặng có sự gia tăng hơn nữa trong biểu hiện của các protein viêm như protein viêm đại thực bào 1α, các chemokine kích hoạt các tế bào đơn nhân và bạch cầu hạt; kèm theo gia tăng về số lượng BCTT, đại thực bào và giảm lympho bào T CD3 +. Mất cân bằng Proteinase - kháng Proteinase Có 2 nhóm enzym tiêu protein đóng vai trò quyết định trong việc phá hủy cấu trúc protein của tổ chức gian bào đó là elastase và metallproteinase. Các elastase phá hủy các sợi đàn hồi, các thành phần khác như fibronectin, proteoglycan, các sợi collgen typ III, IV.

Bạch cầu đa nhân trung tính và đại thực bào phế nang sản xuất các enzym này. Các chất ức chế proteinase đóng vai trò bảo vệ đường hô hấp đó là 1- antitrypsine, β2- macroglobuline, β1 anticollagenase.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Quy trình điều trị bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính bằng tế bào gốc từ mô mỡ" cung cấp cái nhìn sâu sắc về phương pháp điều trị mới cho bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) thông qua việc sử dụng tế bào gốc từ mô mỡ. Quy trình này không chỉ giúp cải thiện chức năng phổi mà còn giảm thiểu triệu chứng và nâng cao chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân. Bài viết nhấn mạnh những lợi ích của việc áp dụng công nghệ tế bào gốc trong y học hiện đại, mở ra hy vọng cho những người mắc bệnh phổi mãn tính.

Để tìm hiểu thêm về các nghiên cứu và ứng dụng trong lĩnh vực y học, bạn có thể tham khảo bài viết Luận án tiến sĩ nghiên cứu đặc điểm kỹ thuật và kết quả tái tạo lưu thông mạch máu trong ghép gan phải từ người hiến sống, nơi khám phá các kỹ thuật tiên tiến trong phẫu thuật ghép tạng. Ngoài ra, bài viết Luận án tiến sĩ nghiên cứu điều trị sỏi thận bằng phẫu thuật lấy sỏi thận qua da trên thận đã mổ mở lấy sỏi cũng cung cấp thông tin hữu ích về các phương pháp phẫu thuật hiện đại. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về Luận án tiến sĩ nghiên cứu ứng dụng phẫu thuật nội soi cắt gần hoàn toàn tuyến giáp điều trị bệnh basedow, một nghiên cứu liên quan đến phẫu thuật nội soi trong điều trị bệnh lý tuyến giáp. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và hiểu rõ hơn về các phương pháp điều trị tiên tiến trong y học.