ĐẶT VẤN ĐỀ Viêm mũi dị ứng (VMDƯ) là tình trạng bệnh mãn tính phổ biến nhất ở trẻ em, thường gặp trong công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu ở hầu hết các quốc gia [42],[77]. VMDƯ được đặc trưng bởi các triệu chứng của hắt hơi, chảy nước mũi, nghẹt mũi và ngứa mũi [3],[7],[12] và thường liên quan đến các triệu chứng ở mắt [12],[24]. Các chất gây dị ứng phổ biến bao gồm mạt, bọ nhà, lông động vật, bụi bông, nấm mốc, gián ., và đặc biệt tại Nhật Bản ngoài các chất gây dị ứng chung người ta còn đề cập đến các chất gây dị ứng của VMDƯ theo mùa như phấn hoa tuyết tùng, cỏ dại và cỏ trồng trong vườn [110]. Một số nghiên cứu dịch tễ học gần đây cho thấy 20% dân số thế giới và 40% trẻ em bị viêm mũi dị ứng, khoảng 40 triệu người Mỹ viêm mũi dị ứng (16% dân số); ở Anh là 26% dân số.
Tỷ lệ VMDƯ trẻ em ở Nhật Bản là khoảng 30% tương đương với ở người lớn [96]. Tại Việt Nam, tỷ lệ viêm mũi dị ứng ở tuổi học sinh dao động từ 19,3% năm 2008 và tăng đến 26,3% năm 2013, tỷ lệ VMDƯ tùy thuộc vào vị trí địa lý thành thị hay nông thôn cũng như đối tượng nghiên cứu là học sinh trung học phổ thông hay học sinh trung học cơ sở [12],[110]. VMDƯ ở trẻ em có ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng cuộc sống (CLCS), giấc ngủ và hiệu quả học tập ở trường [91], bệnh cũng có thể gây nên những rối loạn chức năng nhận thức [37], đặc biệt là lứa tuổi trung học cơ sở vì đây là giai đoạn phát triển về thể chất và tâm sinh lý của trẻ. Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng các triệu chứng ở mắt trong VMDƯ cũng làm giảm CLCS của bệnh nhân, đặc biệt đối với một số bệnh nhân VMDƯ thì các triệu chứng ở mắt gây khó chịu hơn so với các triệu chứng của mũi [38],[95].
Ngoài ra, nếu VMDƯ không được điều trị, thì một số bệnh kèm theo VMDƯ như hen và viêm tai giữa có thể trở lên nặng hơn ở trẻ em [60]. 2 Điều trị giải mẫn cảm đặc hiệu là phương pháp điều trị tốt nhất cho bệnh VMDƯ nhưng vẫn có một số đặc điểm khó có thể áp dụng rộng rãi với các lý do: - Chỉ thực hiện được ở những trung tâm lớn như (Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh). - Yêu cầu một lộ trình điều trị kéo dài nhiều năm và phải tuân thủ nghiêm ngặt mà bệnh nhân nói chung và học sinh nói riêng thường không thực hiện được.
- Không áp dụng được với những bệnh nhân viêm mũi dị ứng dương tính với nhiều loại dị nguyên. Chính vì những điểm bất lợi này mà chúng tôi mong muốn thực hiện đề tài này để tìm ra một loại thuốc hiệu quả, dễ sử dụng và ít tác dụng phụ như một giải pháp mang tính cộng đồng. Việc sử dụng thuốc chống viêm với corticosteroid để điều trị cũng như kiểm soát các triệu chứng mũi của VMDƯ được đánh giá tốt, và các hướng dẫn quốc tế khuyến cáo dùng corticosteroid đường mũi là liệu pháp đầu tiên cho bệnh nhân VMDƯ có tất cả các triệu chứng từ mức nhẹ nhất [41]. Fluticasone furoate xịt mũi (FFNS) là một glucocorticoid được sản xuất để điều trị VMDƯ dưới dạng xịt và được quản lý bằng cách sử dụng với thiết bị xịt liều [107].
Thuốc được thiết kế để dễ dàng tự sử dụng hoặc dành cho cha mẹ, người chăm sóc thuận tiện trợ giúp cho trẻ em [75]. Ở Việt Nam, tỷ lệ VMDƯ ở lứa tuổi học đường là rất khác nhau (Cần Thơ: 5,7%; Thái Bình và Hải Phòng: 26,3% ) khi nghiên cứu ở các vùng miền khác nhau. Thành phố Vinh tỉnh Nghệ An nằm ở trung tâm khu vực bắc trung bộ trong vùng nhiệt đới gió mùa và chia làm hai mùa rõ rệt: có mùa đông lạnh, mùa hạ nóng, ẩm, mưa nhiều chiụ ảnh hưởng của hai loa ̣i gió mùa chủ yế u: gió mùa Đông Bắ c và gió phơn Tây Nam. Vậy tỷ lệ VMDƯ của học sinh trung học cơ sở ở thành phố Vinh tỉnh nghệ An là bao nhiêu, các yếu tố liên 3 quan ảnh hưởng đến bệnh VMDƯ như thế nào và giải pháp can thiệp nào là hữu hiệu nhất cho bệnh VMDƯ ở học sinh trung học cơ sở ở thành phố này.
Để trả lời những câu hỏi trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Thực tra ̣ng viêm mũi di ̣ ứng và hiệu quả can thiệp điều trị Fluticasone ở học sinh trung học cơ sở thành phố Vinh tỉnh Nghệ An năm 2014- 2016” nhằm mục tiêu: 1. Mô tả thực trạng bê ̣nh viêm mũi dị ứng ở học sinh trung học cơ sở thành phố Vinh - Nghê ̣ An năm 2014 -2016. Mô tả một số yế u tố liên quan đến tình trạng viêm mũi dị ứng ở học sinh trung học cơ sở thành phố Vinh - Nghệ An. Đánh giá hiệu quả điề u tri ̣ bằng Fluticasone ở học sinh trung học cơ sở mắc viêm mũi dị ứng năm 2014 - 2016.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Viêm mũi dị ứng 1. Định nghĩa VMDƯ là tình trạng viêm niêm mạc mũi với vai trò của kháng thể IgE, thường xảy ra do tiếp xúc với dị nguyên đường hô hấp, với các biểu hiện bệnh lí đặc trưng bởi các triệu chứng: hắt hơi, chảy mũi, ngạt mũi và/hoặc ngứa mũi. Các triệu chứng này kéo dài thường ít nhất hai hay nhiều ngày liên tiếp hoặc nhiều hơn một giờ trong hầu hết mọi ngày (ARIA-WHO 2007) [41],[44].
Dịch tễ học bệnh viêm mũi dị ứng VMDƯ là bệnh chiếm tỷ lệ cao nhất trong các loại viêm mũi, nó cũng là một trong những dạng dị ứng phổ biến nhất trong các bệnh lý quá mẫn, VMDƯ xảy ra ở mọi lứa tuổi khởi phát phổ biến nhất ở trẻ em với độ tuổi trung bình bắt đầu mắc là 8 - 11 tuổi, ảnh hưởng tới bé trai nhiều hơn so với bé gái, nhưng ảnh hưởng tới giới tính gần như bằng nhau ở tuổi trưởng thành [23],[116],[138]. Các triệu chứng viêm mũi bao gồm: chảy mũi, ngạt mũi, ngứa mũi và hắt hơi mà có thể đảo lộn một cách tự phát hoặc bằng việc điều trị. Mức độ trầm trọng VMDƯ được chia thành các mức độ khác nhau từ nhẹ, trung bình, nặng [8],[41],[42],[51],[126]. Ở Việt Nam, theo nhiều nghiên cứu khác nhau, tỷ lệ VMDƯ chiếm từ 10 - 18% dân số [9],[11].
Ở Nhật, thường xuyên có khoảng 20% dân số bị mắc chứng VMDƯ [110],[111]. Với tỷ lệ mắc bệnh cao, dịch tễ học của VMDƯ ngày càng được chuyên ngành Y học dự phòng quan tâm. Tuy nhiên trên thực tế về dịch tễ học của VMDƯ cũng chưa được quan tâm đúng mức, đặc biệt các thông tin 5 chăm sóc sức khoẻ ban đầu đều khó xác định và khai thác chưa thật đầy đủ. Trong khi đó, những nghiên cứu rộng rãi ở cộng đồng đôi khi do nhiều lý do, đã không tiến hành các xét nghiệm cận lâm sàng như test dị ứng.
Vì thế việc chẩn đoán phân biệt VMDƯ và viêm mũi không dị ứng thường khó.Tình hình nghiên cứu trên thế giới Trong mấy thập kỷ gần đây, những nghiên cứu tại cộng đồng ở nhiều nơi trên thế giới cho thấy VMDƯ nói riêng và bệnh dị ứng hô hấp nói chung ngày một tăng đặc biệt ở các nước đang phát triển và công nghiệp hóa [128]. Trước hết, phải kể đến các nghiên cứu về hen và các bệnh dị ứng ở trẻ em (The International Study of Asthma and Allergies in Childhood - ISAAC) đã công bố kết quả nghiên cứu về dich ̣ tễ VMDƯ trẻ em trong đô ̣ tuổ i đế n trường giai đoa ̣n 2002 - 2003 cho thấ y ở Anh, tỷ lê ̣ VMDƯ ở trẻ 6 - 7 tuổ i là 10,1%, trong khi trẻ 13 - 14 tuổ i có tỷ lệ cao hơn lên tới 15,3%. Kết quả cũng chỉ ra tỷ lệ VMDƯ chung của trẻ tăng 0,3% so với giai đoa ̣n 1992 - 1996 [58]. Cũng tại Anh, kết quả nghiên cứu năm 2012 cho thấy tỷ lệ "sốt cỏ" (Hay fever) là 18% [58] và VMDƯ ở người lớn là 29%.
Các công trình nghiên cứu VMDƯ tại Hàn Quốc của Kim BK (năm 2016) cho thấy tỷ lê ̣ VMDƯ là 13,3% và ngày càng tăng ở trẻ em [72],[114]. Ở một số nước châu Á khác tỷ lệ VMDƯ ở trẻ em từ 3 - 5 tuổ i ở Bắ c Kinh chiếm tới 48% trong đó khu vực thành thi ̣là 53,2% và khu vực ngoa ̣i thành chiế m (43,4%). Nguyên nhân gây di ̣ ứng phổ biế n nhấ t là phấ n hoa (55,7%), tiế p theo là Dermatophagoides farina (39,4%) và Dermatophagoides pteronyssinus (38,6%). Đặc biệt số trẻ mắ c VMDƯ, tỷ lê ̣ VMDƯ ngắ t quañ g là 67,1%, VMDƯ dai dẳ ng là 32,9%.
41,5% trường hơ ̣p VMDƯ với các triêụ chứng nă ̣ng và vừa [26],[47],[132],[137],[138]. Tác giả Li CW nghiên cứu tại Quảng Châu (Trung Quốc, 2014) phát hiện tỷ lệ mắc viêm mũi dị ứng trong dân số là 6,24% [84]. Một nghiên cứu của tác giả Zhao D và CS công bố năm 2015 cho thấy tỷ lệ lưu hành viêm mũi dị ứng ở trẻ em từ 5 đến 14 tuổi tại Yinchuan (Trung Quốc) là 14,65% [139]. Tác giả 6 Gao L và cộng sự (2018) khi điều tra dịch tễ viêm mũi dị ứng ở trẻ em 6-12 tuổi tại thành phố Zaoyang thuộc tỉnh Hồ Bắc (Trung Quốc) đã phát hiện: Tỷ lệ lưu hành viêm mũi dị ứng của trẻ em từ 6-12 tuổi ở Zaoyang là 13,7%, tỷ lệ ở trẻ em gái là 11,9% và tỷ lệ ở trẻ em trai là 15,3% [62].
Nghiên cứu của tác giả Baumann LM và CS (2016) thực hiện một nghiên cứu cắt ngang, điều tra trên 1441 trẻ em từ 13-15 tuổi sống tại hai quần thể khác nhau thuộc Pêru để điều tra tỷ lệ mắc bệnh dị ứng đã cho kết quả: Tỷ lệ viêm mũi dị ứng nói chung là 18% [34]. Kết quả nghiên cứu của tác giả Çobanoğlu HB nhằm mục đích xác định tỷ lệ mắc bệnh viêm mũi dị ứng ở trẻ em từ 12-15 tuổi sống ở tỉnh Trabzon (Thổ Nhĩ Kỳ) công bố năm 2016 cũng cho thấy, tỷ lệ viêm mũi dị ứng ở trẻ em từ 12 đến 15 tuổi được tìm thấy là 14,5% ở Trabzon [49]. Một nghiên cứu cắt ngang được thực hiện tại năm thành phố của vùng Altai (Nga) trong giai đoạn 2015-2016 [112]. Trong nghiên cứu này, tổng cộng có 3205 bảng hỏi được điền để phân tích.
Tỷ lệ mắc bệnh viêm mũi dị ứng được đánh giá bằng việc sử dụng bản câu hỏi tiếng Nga của câu hỏi ISAAC do cha mẹ của trẻ em điền vào.