Luận án về quản trị mua nguyên vật liệu tại các doanh nghiệp may Vinatex

Tài liệu nghiên cứu Luận án quản trị mua nguyên vật liệu ở các doanh nghiệp may thuộc vinatex, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên sâu về kinh tế.

Chuyên ngành

Quản Trị Kinh Doanh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2023

163
9
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

PHẦN MỞ ĐẦU

1.1. Tính cấp thiết của đề tài

1. TỔNG QUAN

1.1. Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan

1.1.1. Các công trình nghiên cứu về mua và mua sắm

1.1.2. Chiến lược mua

1.1.3. Cấu trúc tổ chức mua

1.1.4. Các công trình nghiên cứu về quản trị nguồn cung

Tóm tắt

I. Tính cấp thiết của quản trị mua nguyên vật liệu

Quản trị mua nguyên vật liệu (quản trị nguyên vật liệu) có vai trò quan trọng trong việc quyết định hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp may, đặc biệt là Vinatex. Theo Porter (1987), việc cung cấp nguyên vật liệu đầu vào là khâu mở đầu trong chuỗi giá trị. Hoạt động này không chỉ là tiền đề cho các hoạt động tiếp theo mà còn tạo ra giá trị gia tăng cho doanh nghiệp. Quản trị mua nguyên vật liệu bao gồm các hoạt động thu mua, quản lý dòng nguyên vật liệu từ đầu vào đến bảo quản trước khi sản xuất. Bất kỳ sai sót nào trong quản trị này có thể gây tổn thất nặng nề về kinh tế và uy tín doanh nghiệp. Akindipe (2014) nhấn mạnh rằng quản trị nguyên vật liệu quyết định hiệu quả sản xuất. Nguyên liệu chất lượng, cung cấp đúng số lượng và thời điểm sẽ ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm và thời gian giao hàng. Quản trị nguyên vật liệu không chỉ ảnh hưởng đến doanh thu mà còn đến lợi nhuận cuối cùng của doanh nghiệp. Quayle (2006) cho rằng doanh nghiệp chi khoảng 30% đến 75% tổng chi phí cho việc mua hàng hóa, do đó, quản trị tốt mua hàng có thể tiết kiệm chi phí đáng kể.

1.1. Tầm quan trọng của quản trị chuỗi cung ứng

Quản trị chuỗi cung ứng là yếu tố quyết định trong việc kết nối doanh nghiệp với thị trường tiêu thụ. Hoạt động mua nguyên vật liệu đầu vào là khâu kết nối các nhà cung cấp trực tiếp, tạo thành chuỗi cung ứng thượng nguồn. Điều này cho thấy sự cần thiết của quản trị nguyên vật liệu cho doanh nghiệp. Quản trị nguyên vật liệu không chỉ đảm bảo nguồn cung mà còn giúp doanh nghiệp duy trì tính cạnh tranh trên thị trường. Việc quản lý tốt nguyên vật liệu sẽ giúp doanh nghiệp giảm thiểu chi phí và nâng cao hiệu quả sản xuất. Các doanh nghiệp may thuộc Vinatex cần phải chủ động trong việc tìm kiếm nguồn cung ứng để giảm thiểu sự phụ thuộc vào nhà cung cấp nước ngoài, từ đó nâng cao vị thế cạnh tranh trên thị trường quốc tế.

II. Chiến lược mua nguyên vật liệu

Chiến lược mua nguyên vật liệu là một phần quan trọng trong quản trị doanh nghiệp. Quayle (2006) nhấn mạnh rằng doanh nghiệp cần có tầm nhìn xa và dự đoán trước những thay đổi trong môi trường kinh doanh. Việc xây dựng kế hoạch kinh doanh cần phải xem xét các yếu tố liên quan đến thu mua để đảm bảo nguồn nguyên liệu phù hợp với giá cả hợp lý. Nhiều doanh nghiệp chưa nhận thức đúng tầm quan trọng của việc thu mua, dẫn đến việc chỉ coi đây là vấn đề ngắn hạn. Hoạch định chiến lược dài hạn cho hoạt động mua sẽ giúp doanh nghiệp có khuôn khổ để đưa ra quyết định vận hành. Janda & Seshadri (2001) cho rằng ảnh hưởng của chiến lược mua đến hiệu quả kinh doanh là rất lớn. Doanh nghiệp cần xác định xu hướng và thách thức của nguồn cung để xây dựng chiến lược phù hợp.

2.1. Cấu trúc tổ chức mua

Cấu trúc tổ chức mua cần được điều chỉnh theo sự phát triển của doanh nghiệp. Baily và cộng sự (2005) cho rằng không có một cấu trúc lý tưởng nào mà doanh nghiệp có thể sử dụng mãi mãi. Khi môi trường kinh doanh thay đổi, doanh nghiệp cần đánh giá lại và thay đổi cơ cấu tổ chức thu mua. Có nhiều hình thức tổ chức khác nhau mà doanh nghiệp có thể lựa chọn, bao gồm cấu trúc kinh doanh, cấu trúc chức năng, và cấu trúc ma trận. Việc xác định rõ vai trò và mục tiêu của hoạt động thu mua sẽ giúp doanh nghiệp tối ưu hóa quy trình và nâng cao hiệu quả kinh doanh.

III. Quản lý nguồn cung

Quản lý nguồn cung là yếu tố quan trọng giúp doanh nghiệp tăng doanh thu và giảm chi phí. Quản trị nguồn cung bao gồm việc xác định sản phẩm, dịch vụ đáp ứng yêu cầu của doanh nghiệp, tìm kiếm nhà cung cấp phù hợp, và thương lượng giá cả. Waters và Donal (2011) nhận định rằng quản trị chuỗi cung cấp là một nhiệm vụ khó khăn do chứa nhiều rủi ro. Do đó, việc hiểu và kiểm soát toàn bộ quá trình chuỗi cung cấp là cần thiết để giảm thiểu rủi ro. Doanh nghiệp cần đánh giá năng lực đáp ứng đơn hàng của nhà cung cấp để lựa chọn phương án tối ưu cho việc cung ứng nguyên vật liệu.

3.1. Đánh giá nhà cung cấp

Đánh giá nhà cung cấp là một quá trình quan trọng trong quản lý nguồn cung. Doanh nghiệp cần xác định các tiêu chí đánh giá và phương pháp đánh giá để chọn lựa nhà cung cấp tốt nhất. Các phương pháp như danh sách kiểm tra và tiêu chí sàng lọc thường được sử dụng. Việc đánh giá nhà cung cấp không chỉ dựa trên giá cả mà còn cần xem xét chất lượng, khả năng cung ứng và sự linh hoạt trong đáp ứng nhu cầu. Doanh nghiệp cần có kế hoạch đánh giá định kỳ để đảm bảo nhà cung cấp luôn đáp ứng được yêu cầu chất lượng và thời gian giao hàng.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu của các hoạt động chuỗi giá trị cơ bản. Về thực chất đây chính là hoạt động mua nguyên vật liệu đầu vào của mỗi doanh nghiệp; vừa là tiền đề và điều kiện cho các hoạt động chuỗi giá trị tiếp theo; vừa là một hoạt động cơ bản, nghĩa là nó cũng tạo nên giá trị và giá trị gia tăng cho doanh nghiệp trên thị trường nguồn của mỗi doanh nghiệp. Quản trị mua NVL cụ thể là các hoạt động liên quan tới việc thu mua, quản lý dòng NVL từ đầu vào cho đến công đoạn bảo quản trước khi đưa vào sản xuất, quản trị mua NVL là nhiệm vụ quan trọng của các doanh nghiệp sản xuất, giúp doanh nghiệp đảm bảo được tính nhịp nhàng và liên tục trong hoạt động. Bất kỳ sai sót nào trong quản trị mua nguyên vật liệu đều có thể gây ra những tổn thất nặng nề về kinh tế cũng như tổn hại uy tín của doanh nghiệp.

Thứ hai, nếu như hoạt động marketing và bán hàng là khâu kết nối doanh nghiệp với thị trường tiêu thụ cho đến người tiêu dùng cuối cùng và tạo nên chuỗi cung ứng hạ nguồn của doanh nghiệp, thì hoạt động mua NVL đầu vào chính là khâu kết nối các NCC trực tiếp và sau đó đến các NCC đầu tiên tạo nên chuỗi cung ứng thượng nguồn – cứ vậy kết nối 2 bậc này sẽ hình thành chuỗi cung ứng 1 ngành kinh doanh. Điều này đặt ra sự cần thiết và tầm nhìn của quản trị NVL cho doanh nghiệp. Akindipe (2014) đã nhận định: quản trị NVL đóng vai trò vô cùng quan trọng để doanh nghiệp có thể tổ chức sản xuất một cách hiệu quả. Nguyên liệu chất lượng có được cung cấp đủ số lượng vào đúng thời điểm hay không sẽ quyết định số lượng chất lượng của sản phẩm và thời điểm có thể giao hàng.

Quản trị NVL đóng vai trò quyết định tới hiệu quả của tất cả các hoạt động liên quan tới sản xuất. Bên cạnh những yếu tố như nhu cầu của thị trường, hoạt động của đối thủ cạnh tranh và chỉ số giá cả chung thì quản trị NVL cũng góp phần quyết định hiệu quả hoạt động, doanh thu và lợi nhuận cuối cùng của doanh nghiệp. Thứ ba, ngoài những yếu tố như nhu cầu của thị trường, hoạt động của đối thủ chỉ số giá cả chung thì việc quản trị tốt nguyên vật liệu cũng quyết định tới hiệu quả hoạt động, doanh thu và lợi nhuận cuối cùng của doanh nghiệp. Quayle (2006) đã chỉ ra rằng các doanh nghiệp chi khoảng 30% đến 75% tổng chi phí của doanh nghiệp để mua hàng hóa dịch vụ, chính vì vậy quản trị tốt mua hàng trong chuỗi cung cấp có thể giúp doanh nghiệp tiết kiệm một khoản chi phí đáng kể.

Nghiên cứu của Ondiek (2009) và Wild (1995) cũng chỉ ra rằng quản trị nguyên vật liệu bao gồm tất cả các chức năng quản trị 2 vận hành từ việc mua nguyên liệu đầu vào cho tới tiến hành sản xuất rồi giao thành phẩm cho khách hàng [83, 105]. Để thực hiện những chức năng này, doanh nghiệp cần tiến hành các công tác quản trị như xác định nhu cầu sản xuất, lên lịch sản xuất và mua nguyên liệu, phân loại, phân phối và đánh giá nguyên liệu. Sự phối hợp triển khai hiệu quả các chức năng trên sẽ giúp doanh nghiệp tăng được kết quả kinh doanh của mình. Thứ tư, về nguyên lí – để phát triển một ngành công nghiệp sản xuất các sản phẩm hoàn chỉnh cho các thị trường, người tiêu dùng cuối cùng và / hoặc cung ứng trang thiết bị cho các doanh nghiệp và tổ chức kinh tế đều cần phát triển công nghiệp phụ trợ để cung cấp các yếu tố ―đầu vào ‖, các chi tiết bán thành phẩm cho sản xuất thành phẩm.

Đây là một nội dung quản trị chuỗi cung ứng đảm bảo tính chủ động không lệ thuộc và chất lượng, hiệu quả quản trị NVL ―đầu vào‖ cho các doanh nghiệp may nói riêng và các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm tiêu dùng khác mà ngành may Việt Nam còn chưa được nghiên cứu và phát triển một cách hệ thống. Thứ năm, trên thực tế các doanh nghiệp may thuộc Vinatex hiện vẫn còn phụ thuộc 70% - 75% nguyên vật liệu ―đầu vào‖ vào các NCC nước ngoài và nhà nhập khẩu công nghiệp. Đây thực sự đang là bài toán khó cho nhiều doanh nghiệp may trong việc đáp ứng quy tắc xuất xứ ―từ sợi trở đi‖ theo quy định của các hiệp định thương mại. Tình trạng trên trong tình thế các doanh nghiệp may thuộc Vinatex đều có định hướng xuất khẩu là chủ yếu và do không chủ động nguồn nguyên vật liệu, phụ kiện có chất lượng nên phương thức xuất khẩu cũng chủ yếu là ―gia công xuất khẩu‖.

Bên cạnh đó, các chi phí liên quan đến vận chuyển, thủ tục hải quản và các chi phí khác phát sinh từ việc nhập khẩu nguyên phụ liệu cũng làm tăng chi phí mua NVL tại các doanh nghiệp may Việt Nam, cao hơn khoảng 25-30% so với các doanh nghiệp may ở Trung Quốc và Ấn Độ. Chính vì vậy, đối với các doanh nghiệp may Việt Nam thì quản trị mua NVL ngày càng đóng vai trò quan trọng. Xuất phát từ những lý do nêu trên,―ngành may Việt Nam, trong đó có Vinatex cần xây dựng những giải pháp có tính đột phá, dài hạn để ngày càng nâng cao vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp may Việt Nam, tiếp tục thâm nhập vững vàng trên thị trường quốc tế với nhiều phương thức đa dạng tức là trong thời gian tới cần quan tâm, quản lý ổn định nguồn nguyên vật liệu đầu vào để thực hiện mục tiêu chiến lược đã được Chính phủ và Bộ Công Thương phê duyệt. Do vậy, việc chọn đề tài ―Quản trị mua nguyên vật liệu của các doanh nghiệp may thuộc Vinatex‖ làm luận án tiến sĩ của NCS thực sự có ý nghĩa cả về mặt lý luận cũng như thực tiễn và sẽ đóng góp một phần quan trọng trong việc định hướng phát triển nguồn NVL phục vụ cho ngành may của Việt Nam nói chung và của Vinatex nói riêng khi xâm nhập vào thị trường quốc tế trong những năm tới khi bối cảnh Việt Nam đang đứng trước những cơ hội mới và thách thức về hội nhập kinh tế quốc tế, mà cụ thể là ký kết các Hiệp định thương mại tự do - FTAs.Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan 2.

Các công trình nghiên cứu về mua và mua sắm Mua và mua sắm là những nội dung được các nhà khoa học dày công nghiên cứu từ rất lâu, có thể kể đến như công trình của Compton & Jessop (1995) đã định nghĩa ‗procurement‘ trong cuốn ―Dictionary of purchasing & supply”, là việc có được nguồn cung cấp hoặc dịch vụ bằng nhiều phương thức khác nhau (ví dụ như đi vay, chuyển nhượng, mua trả góp) trong đó có thể có hoặc không có sự cân nhắc [38]. Van Weele và Rozemeijer trong cuốn ―Revolution in purchasing‖ (1996), lại cho rằng ‗procurement‘ bao gồm tất cả các hoạt động cần thiết để đưa được sản phẩm từ NCC đến nơi nó được tiêu thụ [101]. ‗Procurement‘ cũng có thể hiểu là việc mua sắm (purchasing), kí kết hợp đồng và các hoạt động logistics bao gồm kiểm soát hàng tồn kho, xếp hàng vào kho, vận chuyển, kiểm soát chất lượng. Sự khác biệt giữa việc mua sắm (purchasing) và kí hợp đồng (contracting) đó là kí hợp đồng chính là thực hiện việc mua sắm (purchasing) cùng với những điều kiện cam kết quan trọng.

Còn theo tác giả An Thị Thanh Nhàn và cộng sự (2018) thì ‗Mua‘ lại là các hoạt động của doanh nghiệp nhằm tạo ra nguồn lực đầu vào. Mua còn được hiểu là tìm nguồn cung ứng, thảo hợp đồng cung ứng cũng như quản trị tồn kho [2]. Ngoài ra, khái niệm mua (procurement) thường được sử dụng khi nói đến hoạt động mua sắm (purchasing) của chính phủ. Trong cuốn ―Purchasing and materials management text and cases‖ của Dobler (1990) cho biết những hoạt động cụ thể của ‗purchasing‘ bao gồm việc tham gia vào quá trình phát triển các nhu cầu và chi tiết kĩ thuật cụ thể, điều hành các hoạt động phân tích giá trị, tiến hành khảo sát thị trường cung cấp, quản lí các hợp đồng mua sắm, quản lí chất lượng NCC, thuê các dịch vụ vận chuyển về nước [45].

Nghiên cứu của Dooley (1995) lại khẳng định quản lý mua sắm đang dần trở thành một yếu tố chiến lược quan trọng trong các quyết định quản trị [46]và theo Porter (1987) chuỗi giá trị là yếu tố mang tính chất nền tảng đối với hiệu quả vận hành của tổ chức[88]. Các nhà nghiên cứu khác cũng có cùng quan điểm trong việc đề cao vai trò của mua - purchasing bao gồm Crosby (1979), Schonberger (1986), Womack (1991), Elliott- Shircore và Steele (1985). Họ đã đưa ra một định nghĩa rõ ràng về mua sắm (purchasing), trong đó các tác giả khẳng định mua sắm (purchasing) là quá trình khi các công ty (hoặc tổ chức) kí kết hợp đồng với bên thứ ba để có được hàng hóa và dịch vụ cần thiết phục vụ mục tiêu kinh doanh sao cho tiết kiệm thời gian và chi phí nhất [42, 47, 63, 107]. Cụm từ purchasing và procurement thường được sử dụng như nhau, tuy nhiên, sự khác biệt ở đây là mua sắm (purchasing) quan tâm nhiều hơn đến việc thiết lập và duy trì các mối quan hệ thương mại, trong khi đó mua (procurement) chú trọng hơn tới việc kiểm soát hàng hóa 4 và việc giao hàng sau khi hợp đồng được kí kết hay đơn hàng được đặt.

Chiến lược mua Trong cuốn ―Purchasing and supply chain management strategies and realities‖ Quayle M. (2006) đã nhấn mạnh vai trò quan trọng của hoạch định và chiến lược mua. Với môi trường kinh doanh ngày càng biến đổi mạnh mẽ cùng những thay đổi trong sản phẩm, quy trình sản xuất, kĩ thuật…doanh nghiệp phải có tầm nhìn xa, phải tìm hiểu và dự đoán trước về những thay đổi này để có kế hoạch đối phó phù hợp[75]. Chính vì vậy, doanh nghiệp cần xây dựng kế hoạch kinh doanh của doanh nghiệp (corporate plan) để thiết lập những mục tiêu nền tảng cho mình, từ đó đưa ra chỉ dẫn hành động cho các bộ phận chuyên môn và điều phối công việc của các phòng ban này, đảm bảo các công việc được thực hiện một cách nhịp nhàng, giúp doanh nghiệp đạt được mục tiêu cuối cùng.

Để kế hoạch có tính khả thi cao và hiệu quả thì các yếu tố liên quan đến việc thu mua cần phải được quan tâm đúng mức vì nếu không có nguồn nguyên liệu phù hợp đúng lúc với giá cả hợp lí thì kế hoạch kinh doanh không thể thành công.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận án "Luận án về quản trị mua nguyên vật liệu tại các doanh nghiệp may Vinatex" được thực hiện tại Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân, năm 2023, tập trung vào việc tối ưu hóa quy trình quản trị mua nguyên vật liệu trong ngành dệt may, đặc biệt là tại các doanh nghiệp thuộc Vinatex. Bài viết nêu rõ tầm quan trọng của việc quản lý hiệu quả nguồn nguyên liệu, từ đó giúp doanh nghiệp giảm thiểu chi phí, nâng cao chất lượng sản phẩm và tăng cường khả năng cạnh tranh trên thị trường. Độc giả sẽ tìm thấy nhiều thông tin hữu ích về các phương pháp và chiến lược quản lý mua sắm, cũng như những lợi ích mà việc cải thiện quy trình này mang lại cho doanh nghiệp.

Để mở rộng thêm kiến thức về quản trị trong lĩnh vực kinh doanh, bạn có thể tham khảo các bài viết liên quan như Nghiên Cứu Mô Hình Tồn Kho Tối Ưu Tại Công Ty Cổ Phần Đại Tân Việt, nơi đề cập đến việc tối ưu hóa tồn kho, một yếu tố quan trọng trong quản lý nguyên vật liệu. Bên cạnh đó, bài viết Tối ưu hóa tồn kho thành phẩm và nguyên vật liệu tại công ty nước giải khát Suntory PepsiCo Việt Nam cũng sẽ cung cấp thêm góc nhìn về cách thức quản lý nguyên vật liệu hiệu quả trong ngành sản xuất. Cuối cùng, bài Luận án tiến sĩ: Ảnh hưởng của văn hóa tổ chức đến hiệu quả hoạt động doanh nghiệp ngành dệt may Việt Nam sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về mối liên hệ giữa văn hóa tổ chức và hiệu quả quản lý trong ngành dệt may. Những tài liệu này sẽ là nguồn tài nguyên quý giá để bạn nâng cao kiến thức và kỹ năng trong lĩnh vực quản trị kinh doanh.