Chương 1: CƠ SO LÍ LUẬN 1. Lịch sir nghiên cứu van đề 1.1 Trên thế giới © Nhimg nghiên cứu về phương pháp day học tích cực Ngay từ thời cô đại, vấn dé phát huy tính tích cực của người học đã được các nha giáo dục quan tâm. Điền hình 1a Socrates (469- 399 TCN) với phương pháp hỏi — đáp dé tìm ra chân lý. Phương pháp hỏi — đáp được gọi là “ thuật đỡ đẻ” hay “ phương pháp Socrates” từ tìm hiểu sự vật hiện tượng cụ thể dẫn dat đến kết luận [11].
Đến thé ky XVII, J.Comenxki( 1592- 1670) ông tô của giáo dục học thé giới, trong tác phẩm * Lý iuận day hoc” đã nêu tính tự giác, tính tích cực là một trong những nguyên tắc dạy học theo ông “ Giáo duc có mục đích đánh thức năng lực nhạy cam, phán đoán đúng dan, phát triển nhân cách. Hãy tìm ra những biện pháp dé phát huy tính tích cực của người học và cho phép giáo viên day ít hơn, học sinh học nhiều hơn”. Ông còn chi ra “ tích cực nhận thức không chỉ đơn thuân là chỉ ngôi nghe mà phải tìm hiểu bản chất sự vật, hiện tượng”.Rousseau (1712- 1778) là một nhà giáo dục học người Pháp chủ trương phải làm cho trẻ tích cực, phải dành lấy kiến thức bằng con đường khám phá ra nó. Đistervec đã nói “ người giáo viên tdi là người cung cấp cho học sinh chân lý, còn người giáo viên giỏi là người cung cấp cho học sinh cách đi tìm chân lý".
Usinxki ( 1824- 1870) - nhà giáo dục Xô Viết tiêu biểu của thế kỷ VXIII cho rằng, tính tích cực độc lập của học sinh trong quá trình day học được coi la“ cơ sở vững chắc cho sự học tập hiệu quả”, ông có quan điểm “ Khi cẩn dạy trẻ điều gi, chỉ can cho trẻ tự quan sát. tự phát biéu ÿ kiên của mình, tưởng tượng, nhớ lại những gì quan sat được và rút ra kết luận là có hiệu quả nhất". Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, nhờ sự thành công cúa phong trào nhà trường mới tích cực, van đề nay đã được nhiều nhà giáo dục va tâm lí nghiên cứu vận dụng.Dewey ( 1859- 1952)- nhà giáo duc người Mỹ đã thành lập “nhà trường tích cực” và phát triển cách học tập theo nhóm của học sinh. Dewey dựa theo quan điểm triết học thực dụng ( quan điềm dạy học tích cực).
Chính ảnh hướng này mà Dewey và những người thực dụng quan niệm chốn học đường là nơi chén dé học sinh phát trién.“Phdr triển có nghĩa là có thêm nhiều hoạt động. nhiều vấn nạn đó, và tạo ra một mạng lưới các quan hệ xã hi”. Ta đó, Dewey đề ra một phương thức khoa học dé giải quyết van dé. Ông gọi phương thức nay là Phương thức Tư duy Toàn điện, gồm Š bước sau: 1.
Gặp một tình huống “có vấn đề”: Khi sinh hoạt thường xuyên của ta gặp một tình huống mới, không giống với những gi ta đã từng kinh nghiệm, và tình huống mới này lại chặn đứng sinh hoạt thường xuyên của ta. Xác định van đề: Trong bước thứ hai nay, ta cần xét thật ky xem “ van dé ta gap thực sự là gì bằng cách đừng lại, suy xét tình huống. Nếu không xác định đúng vấn đề, chắc chắn sẽ không giải quyết được. Nghiên cứu, thăm dò, điều tra vẫn đề: Ta có thê rút từ kinh nghiệm các bai học quá khứ để xem van dé này có chỗ nao giống với van đề cũ không.
Nếu không, ta phải tìm tòi trong sách vớ hay tham khảo vocis bạn bè để nắm ving 4. Đưa ra một số các giả thuyết và phương thức giải quyết: Sau khi đã nghiên cứu thật cần thận vấn dé cần giải quyết, ta có thẻ dé ra các giả thuyết, và từ những giả thuyết này, đưa ra những phương thức giải quyết. Thí du, khi chiếc xe ta đi “ đề" không nô ( vấn đẻ). Có thể vì xe của ta hết bình điện, bi ngộp xăng, vân van; từ những gia thuyết nay, ta có một số phương thức dé giai quyết.
Chọn một phương thức và thí nghiệm xem phương thức nay có hiệu qua không ( thử nghiệm): Sau khi đã chọn xong phương thức „ ta cần phải thí nghiệm xem phương thức này có mang lại hiệu quả, giải quyết vân đê cho ta hay không. Hy vọng rang hành động của ta giải quyết được van dé, và ta có thê tích lũy thêm vào kho kinh nghiệm của mình và tiễn bước.Nếu không, ta phải xem lại trong tiến trình đã qua có chỗ nào sơ sót hay không, rồi tiếp tục.Điều cần ghi nhớ là Phương thức này chi được gọi là toàn diện khi bước thứ 5 được thực hiện. Sau này Kerschensteiner cùng với J. Dewey cố gắng thực hiện những nguyên tắc của nhà trường tích cực vào việc cải cách nhà trường trung học và tiểu học.
Ngoài phương pháp day học, ông còn muốn thông qua hình thức tự quản của học sinh ma phát trién cá tính của họ. Ong chi ra rằng những hoạt động chung chang những khơi day tinh thần trách nhiệm cá nhân trong lương tâm của mỗi người, mà còn loại bỏ được tất cả những hành động gây ra có tính chất ích kỷ, đồng thời hình thành cho con người có thói quen tốt là tỉnh thần xã hội. Ngoài ra Kerschensteiner còn lưu ý cách tô chức học tập nhóm, nếu sử dụng không đúng, đôi khi hình thành nhóm học tập có thể dẫn tới một hình thức đặc thù của sự ích ky đó là “ ích ky cộng đồng”. Sau một thời gian làm việc chung, nhóm đã trở thành một ca thé và lại vì quyén lợi, vì ganh đua, cá thé đó wo lại ích kỷ.
Ö Pháp, nam 1920, đã hình thành những nha trường mới đặt van dé phat triển nang lực trí tuệ cho trẻ, khuyến khích các hoạt động do chỉnh học sinh tự quản. Xu hướng này đã ảnh hưởng sang Mỹ va nhiều nước Châu Au. Sau chiến tranh thẻ giới thir 2 ở Pháp đã ra đời những lớp học mới tại một số trường trung hoe thi điểm. Điểm xuất phát của mỗi hoạt động đếu tùy thuộc va sang kiến, hứng thú, lợi ích, nhu câu của học sinh.
Giáo viên là người giúp đỡ phối hợp cùng các hoạt động của học sinh, hướng vào sự phát triển nhân cách của học sinh.Những thi điểm nay chỉ duy tri được 7 năm, tuy có những gợi ¥ rất hay. Các thông tư chỉ thị của Bộ giáo dục Pháp trong suốt những nam 70, 80 đều khuyến khích tăng cường vai trò chủ động của HS, chỉ đạo áp dụng PPDH từ bậc sơ học, tiêu hoc lên trung học. Ö Nga vẫn dé phát huy tính tích cực nhận thức của các HS cảng được quan tảm nghiên cứu. Nhiễu tác giả như Aristova, L.da nghiên cửu con đường phat huy tinh tích cực của HS về hoàn thiện nội dung day học, hoàn thiện các PPDH va hoàn thiện những PP tổ chức day học.
Một số xu hướng mới trong DH cũng được dé cập tới như “day chương trình hóa”, “day học nêu văn de”, “ dạy học algorit”, 11 Các nước trên thể giới cũng đã trải qua cuộc cách mạng phương pháp giáo dục được gọi là cuộc cách mạng Cé- pec- mic trong giáo dục.Phương phản giáo dục nay được gọi là phương pháp giáo dục tích cực. Vẻ quan lý phương pháp dạy học tích cực Trong những nam dau của thé ky XXI phương pháp day học tiếp tục phat triển với những hình thức mới. Người ta đặt mục đích giáo dục không chỉ là day 10 học vẫn ma cén là dao tạo năng lực. Từ đỏ xuất phát phương pháp dạy học theo mục tiêu, với chương trình được thiết kế theo khá năng của cá nhân người học, với sự nhân mạnh vẻ dao tao về phương phap được coi như mục dich dạy học.
Học sinh được trang bị một cách hệ thống khả nang va công cụ trí tuệ cho nhép giải quyết thành công những van đề, hoàn thành những mục tiêu dé ra. Li2 Tai Viet Nam *Tình hình nghiên cứu về phương pháp day học tích cực Các cuộc phat động phong trảo thi dua của Bộ giáo dục và Dao tạo những năm gan đây phan nào cho thay giáo dục dang dẫn chuyên từ truyền thong sang hiện đại, Với phương cham * thay chủ động, trò chủ dao”, “ dạy học sát đi tượng” thi các nha giáo dục cũng đã hiểu rõ mục tiêu pido dục và thẻ hiện rõ trong việc đổi mới phương pháp giảng dạy. Những nỗ lực của cả thay và trò trong giáo dục hiện nay cũng đã có những thành tựu đáng kế nhưng sự hạn chế vấn con nhiều vì điều kiện kinh tế đất nước còn khó khăn, nên giáo dục nước ta gặp nhiều trở ngại nên dé bất kip bước tiến của xu thé giáo dục hiện đại trên the giới. Nền giáo dục ấy phải tiếp cận đây đủ và có hệ thông quan điểm dạy học theo khoa học tiễn bộ.
Điều đó giải thích tại sao phương pháp dạy học tích cực chưa trở thành chỗ dựa vững chắc cho giáo viên và học sinh nhằm khắc phục lắi day truyền thẳng. Phương pháp dạy học tích cực - phát huy tính tích cực, chủ động, độc lập của học sinh trong quá trinh day học cũng được nhiều nha gido dục quan tâm nghiên cứu như Nguyễn Ngọc bao, Thái Duy Tuyên, Bang Vũ Hoạt. Trong xu thé mo cửa tiễn nhận những thanh tựu mới tử nên giao dục các nước tiện tiến, nha trưởng nước ta bước vào thực thi những quan điểm day học 11 hiện đại, PP tích cực được coi là những nhân 16 mới, có vai trò quan trọng: cải thiện va thúc day nha trường phát triển, nắn kết nha trường hoà nhập với những phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ, tạo nguồn nhân lực, dem lại lợi ich cho xã hội hiện đại. Từ đây, việc xác định mục tiêu dao tạo, nội dung và PP dao tao được hoạch định khả bai bản va có hệ thang.
Có thé thay van dé nỗi bat trong đổi mới hoạt động giáo dục dao tạo la việc xác định vai tro chủ thé của học sinh: Học sinh được xem 14 nhãn vật trung tam của nhà trường với những phẩm chất, năng lực: tự giác, chủ động, tích cực tham gia vào quả trình dạy học.